Mục Lục

 

  Trang B́a
     
Ban Biên Tập
 
 Lá TXuân
      Lê Văn N
 
 Đọc Lá TXuân
      Cô Hà
 
 STáo XNinh
     
Phan Song
 
 Câu Đối Mừng Xuân
      Tư Nguyên & Lê Văn N
 
 Chúc TẾT NINH-H̉A.COM
      Thi Thi 
 

 

T Xuân
 

  "Xuân Hợp Quần"
      
Lương LHuyền Chiêu
  "Xuân Hợp Quần"

      
Lê Thị Đào
 
 Ḷng Người Rộng M
      
NXuân

     
Vinh H
 
 Mừng Xuân Con Rồng
      Rồng

     
Vinh H
 
 Chúc Xuân
      Xuân Đă V
     
Lư H
 
 Đón Xuân
     
Nguyên Kim
 
 Xuân Q Hương
      
Kiều Lam
 
 Đường Tu
     
Nguyên Ngộ (Lê Văn Ngô)
  Xuân Nhâm Th́n Hy Vọng

     
Tư Nguyên  (Bùi Ngoạn Lạc)
  'Xuân Hợp Quần"

     
 Nguyên Phong (TN Chánh)
  "Xuân Hợp Quần"

     
Thi Thi
 
 Xuân Cảm
     
Lê Bá Thiên
  "Xuân Hợp Quần"
       Nguyễn Thị Thanh T
 
 T́nh Khúc Mùa Xuân
     
Tiểu Vũ Vi

 


X
uân Qua



  Hồi c Mùa Xuân
   
 Vân Anh
 
Tết Của Người Lớn
   
 LKiến Đồng
 
Hoài Niệm Xuân Và Tết
     
Trương Khắc Nhượng
 
Tết Đầu Tiên Tại Cao
      
Nguyên Pleiku

   
 Lê PThọ
 

 

Năm Mới
K
Chuyện Cũ




 
 Có Một Mùa Xuân NThế
      ĐThị Hương B́nh
 
 Chuyện NChuyện Nước
      Lan Đinh
 
 Chuyện KĐầu Năm
      Phạm Thanh Khâm
 
Chuyện Cũ Năm Qua...
     
Phi-Ṛm
 
 Những Chuyến Đi Vô Vọng
      Lê PThọ
 
Chuyện T́nh Cuối Năm
      Bùi Thanh Xuân

 

Hội Quán
Quảng Đông


 
 Chúc Tết 2012
      Huỳnh Hớn Trang



 

Hoa Mai
Ngày Tết




 
 Hoa Mai Linh Hồn Của
      
Mùa Xuân

     
Hoàng Bích Hà
 
 Hoa Ngày Tết
     
Nguyễn Tường Hoài
 
 Chợ Hoa Ngày Tết
     
Vơ Hoàng Nam
 
Ba Mươi Ba Đóa Hoa Mai
     
Phan Song

 

Chuyện Vui
Xem/Đọc
3 Ngày Tết
 


 
 Xóm SV
     
Nguyễn Hiền
 
 Vạn Vật Đều Có Số - T́m
      
Người Bảo V

     
Lư H
 
 NHôn Đầu
     
Thanh Mai
 
 Ḿnh Ơi !
     
Lê Thị Hoài Niệm
 
 Chuyện Vui Ngày Tết
      Hà Thị Thu Thủy

 

 

Cắm Hoa Trang T



 
Nghệ Thuật Cắm Hoa
 
    Lê Thị Lộc

 

Tranh
N
ghệ Thuật



 
Tranh nh Nghệ Thuật
     
 Phi - Ṛm


 

TVui
 



 
Năm Con Rồng
      Rồng Đến
      Tú Trinh
 

 

XUÂN Ca Hát


 
Nhạc Xuân Và Q Hương
      
HT Thu Thủy, Lan Đinh
      
LL Huyền Chiêu,  Lư Hổ,
     
LT Hoài Niệm, LL Minh T

  Slide Show/YouTube
      
Phạm Thúc Tâm
     
Mai Hữu Thọ
 

 

Phương Ngữ
N
inh Ḥa
 


  Một S T Biến Âm: DẢNH
     
Nguyễn Văn Thành



 

Tôn Giáo

 

  Câu Chuyện Đầu Năm
      
Lê Thị MChâu
 
 Di- Lặc Mang Xuân Đến
      
Với Người !

      Mục Đồng
 
 Chúng Con VĐây
      
Đinh Thị Lan
 
 Christchurch Vẫn Măi Trong
      
Tim !

      
Bạch Liên


 
 

TVi
 


  Vài Mẩu Chuyện VTiên Tri
      
Liên Khôi Chương
  TVi Năm Nhâm Th́n 2012
      
Phạm Kế Viêm

 

Du Lịch

 

  Vương Quốc Thái Lan: Một
      
Chuyến Đi KT

      Nguyễn Thị Thanh T

 

 

Năm Th́n Nói Chuyện Rồng
 


 
Tản Mạn V Tết Nhâm Th́n
      
Nguyễn Văn Thành
 

 

 

d_bb
Đ.H.K.H
 

  Vài Phát Biểu Một Thời
      
Điểm Qua

      Tô Đồng
  Liêu Trai C Dị-468
      Đàm Quang Hưng
  Thanh Phong Thi Tập-105
     
Vũ Tiến Phái
 
Tôn Giả Mục-Kiền-Liên
       Nguyễn Văn P
 
 Tư Duy Trong TNguyễn
      
Khuyến

      
Lê Phụng
 
 Đường Vào KINH DỊCH
      Nguyễn Hữu Quang
 
Con Đường Chứng Ngộ-34
     
Trần Cao Tần
  Lời M Hỏi - Trở V
     
Trần Cao Tần
 
Ngắm Sao
      Nguyễn Đức Tường
 
 TVi Năm Nhâm Th́n 2012
      
Phạm Kế Viêm
 


 

Sưu Tầm
 



 
 Các BTranh Dân Gian
      
Nổi Tiếng

      Vinh H
 
 Tết XNgười Xem H́nh
      
nh Cũ

      Vinh H
 
 Sinh Mệnh Con Người
      Hà Thị Thu Thủy

 

 

Chuyện
V
ượt Biên

 

  Chuyện Người T Nạn-19
      Lư H
 
 Pulau Bidong, Một Trời K
      
Niệm

      
Bạch Liên
  Phép Nhiệm Mầu

      
Lê PThọ
 

 


Văn Hóa
m Thực




 
 GThủ
      Sườn Heo Sốt Me Chua
      Mẹo Vặt Vào Bếp
      Lan Diệp
 
 Rơm RQN
      Kem Flan (Bánh Flan)
      Lê Thị Đào
 
 Món Canh Légume
      Việt Hải
 
 Mùi CKiệu
      Cao Minh Hưng
 
 Tôm Rang Muối Tiêu: Video 
      
Tôm Sốt Sữa: Video

      Lư H
 
 Chuẩn BNấu Bánh
      Bạch Liên
 
 Những Đặc Sản Hồn Quê 
      
ViệtNam Vào Tết Nhâm Th́n

      Nguyên Phong

 

 

Sức Khỏe

      

 
Bệnh Viêm Kết Mạc

      
BS Lê Ánh
 
Bệnh Tay Chân Miệng

      
BS Nguyễn Vĩ Liệt



 

 

Biên Khảo
Kinh Tế
 

Việt Nam

  Tổng Kết T́nh H́nh Kinh Tế
      
Của Việt Nam Năm 2011

     
 Nguyễn Văn Thành


H
oa Kỳ/Thế Giới

  Tổng Kết T́nh H́nh Kinh Tế
      
Của M Quốc Năm 2011

     
 Nguyễn Văn Thành


 

Kinh Nghiệm Sống

 

  Món Mới
      
Kiều Lam
 
Biển Có Linh Hồn Không?

      
Bạch Liên
 
Vạn Vật
 
    Bạch Liên
  Đạo Nghĩa V Chồng

      
Vơ Hoàng Nam
  Phân Biệt

      
Lê Văn N

 

 

Viết v
Ninh Ḥa
 


 
 Những Điều Lư TV
      
Ninh-Ḥa

     
Trần Minh Hiền
  Đám Cưới Đầu Xuân

      
Phan Nho
  Những Ngày Đồng Q

      L
ê PThọ

 



Viết v
ninh-hoa.com



  Duyên Nào Tôi Đến Với
      
Ninh-ḤaDOTCom

     
Trâm Anh
 
 Đầu Năm...Khai Máy
      Topa Panning



 

 KNiệm V
Trường:

Trần B́nh Trọng
Ninh Ḥa
 

  H Trong T Mới
     
Nguyễn Thị Đào
 
Năm Học 1974-1975

      Trần Hà Thanh
 
Lời Ngỏ

     
Bùi Thanh Xuân

 

Bán Công


 
Hồi Tưởng

     
Lương LHuyền Chiêu
 

 

Vạn Ninh



 
Lời Chúc Xuân

     
Ngọc Ánh
 
Nắng Xuân

      Tuyết Xuân
     
Huỳnh Thị Hà
 
Miên Trường Xuân Thịnh
      
Vượng

     
Lam Kha
 
Xuân Mới

     
Nguyên Kim
 
Vọng Cổ: Mừng TẾT

     
Nguyễn Thị Kính
 
Dọc Đường

     
HThoại M
 
Chúc Tết

     Vui Xuân - Đón Tết
     
Lâm Ngọc
 
Xuân Tuổi T

     
Thanh Nhàn
 
Tâm S Đầu Xuân

     
HThị Thanh Nhàn
  Lời Chúc Đầu Xuân

      Tưởng Mùa Xuân
     
Hà Tấn S
  Chúc Mừng Năm Mới

     
Nguyễn Thị T
 
C̣n Lại Trong Em...

     
Thúy Vũ


 

VT/NTH


 
Chuyện Các Anh Và Tôi

     
Người XVạn
 

 

Các Trường Khác


 
Họp Mặt Đầu Xuân

     
Lê Thị Ngọc Hà





 

Lụt Trong
Văn Chương
 


  Mùa Lụt Q Tôi

      
Trần NPhương
 
Vè Băo Lụt Năm Nhâm
      
Th́n 1904

      Nguyễn
Văn Sâm

 

Văn Học
Nghệ Thuật
 



 
Đời Sao Buồn Chi Mấy
      
CNhân Ơi

      Lương L
Huyền Chiêu
 
Rượu Trong Ca Dao
      
Tục Ngữ

      Hoàng Bích Hà
  T TTuyệtt

      
Vinh H
 
T́nh SLạc Long Quân Và
      
Âu Cơ

      
Vinh H
 
Truyền Thuyết Trọng Thủy-
      
MChâu Và Bài TUTLâm

      
Vinh H
  Nhớ Sao Là Nhớ Xuân Xưa

      Nhất Chi Mai
 
 Dịch TLư Bạch: Nghĩ C
       Dương Anh Sơn
 
Thanh Hiên Thi Tập:
      
Bài Số: 45-46

      Dương Anh Sơn
  Một Lần Gặp Lại

      Mùa Yêu Thương
      Kim Thành
  Chùm Thơ  Đường Luật

      Người XVạn
  Duyên Dáng Mùa Xuân

      
Tiểu Vũ Vi 

 



T
 


 
 Mùa Xuân QCũ
      Vân Anh
 
 Nỗi Niềm Xuân
      Dương Công Khánh
  Hương Xuân

      Nguyễn Thị Bảy
  Chúc Xuân

      Trần Thị Chất
  NMây Bay Đi

      
Lương LHuyền Chiêu
  Xuân Cao Nguyên

      Du Xuân
      Nguyễn Thị Cúc
  Hoa Xuân Cười

      Ta Vẫn Hẹn
      Hương Đài
  Mưa Nguồn

      An Lạc
      Mục Đồng
  Bài TCon Cóc

      
Nguyễn Hiền
  Mùa Xuân QHương

      
Tường Hoài
 
 Em VCùng Xuân
      Mời Xuân Lên Ngôi
      
Nguyễn Văn Hóa
  Chùm Thơ Họa

      
Vinh H
  Màu Xuân

      
T Kim Huy
 
 Nói Sao Vừa
      
Quỳnh Hương
 
 Ngày Xuân
     T́nh Xuân
      Hoàng Công Khiêm 
 
 Rực R Sắc Xuân
      Lê Thị Lộc 
 
 N Đồng
      Nhất Chi Mai
 
 Sang Mùa 
    
 Mùa Xuân Mưa
      Nguyễn Thị Khánh Minh
 
 Nhớ Khúc Ninh Ḥa
      NGH(NH)
 
 Chùm TXuân
      
Nguyễn Hoàng Phi
 
 Nḥa-QMNgàn Thương
      Mh HoaiLinhphuong
 
 Hương Sắc Mùa Xuân
      Bích Phượng
 
 Hẹn Xuân
      Đón Xuân
      Nguyễn Quân
 
 Mơ Và Nhớ
      Lê Văn Quốc
 
 Gom Nhặt Những Mùi Hương
     
Quốc Sinh
 
 Dấu Xưa Sương Khói
      Dương Anh Sơn
 
 Xuân T́nh
      
Kim Thành
 
Bâng Khuâng Chiều Cuối
      
Năm

      
Vơ Ngọc Thành
 
 Nhớ Tết Q Tôi
      Lê Hùng Thân
 
 Xuân T́nh Thương
      Thi Thi
 
 Dáng Xuân
      Lời Xuân
      Hoài Thu
 
 Mùa Xuân Xa X
      NTrưởng Tiến
 
 Xuân Nguyện
      Nguyễn Tính


 


Văn

 

  Một Chiều Cuối Năm Nhớ
      
V Các Bạn

      Nguyễn Vũ Trâm Anh
  Cát Tiên

      
Khuất Đẩu
 
 Xuân Này Chị Không V
      Lê Thị Ngọc Hà
  Mùa Xuân Anh Yêu Em

      
Việt Hải
  Con Dốc

      
Nguyễn Hiền
  Thầy Bói

      
Trần Minh Hiền
 
 Bếp Lửa Gia Đ́nh

      
Lư H
  Xuân Vắng Mẹ...

      
Hoàng Lan
 
 Bên Dốc Đời Nh́n Lại Những
      
Xuân Qua

      Hải Lộc
 
 Gởi Cô Bạn Nhỏ Xóm Rượu
      Phan Kiều Oanh
 
 Làm Con TPhải Là Con
      Phan Song
 
 Bóng Dáng Một Mùa Xuân
      
Lâm Minh Tài
 
 Người Trễ Hẹn Mùa Xuân
      
Nguyễn Hữu Tài
 
 Ḍng Đời
      Thi Thi
 
 Ba Má Tôi
      
Phạm Thị Thục
 
 Đầu Năm Đón Giao Thừa, Đi
      
LChùa Hái Lộc Đầu Xuân

      TBửu Nguyễn Thừa
 
 Một Chút Ưu Tư
      Nguyễn Tính
 
Một Mùa Xuân An B́nh
      
Đang Về...

 
     Nguyễn Đôn Huế Trang

 

 

 

 

 

Thư từ, bài vở, h́nh ảnh hoặc
ư kiến xây dựng, xin liên lạc:



diem27thuy@yahoo.com

 



 


 


 


 

 

 

 

 

 

 


 

 

       

 

 

Vài Phát Biểu
ở một thời điểm qua

 

Tô Đồng
 

 

 

 

 

 

Lời dẫn

 

Vào đầu thập niên 1980, tôi có tham dự vào một vài hội đoàn tị nạn, như Chương Tŕnh Tương Trợ Việt Nam (Michigan), Hiệp Hội Người Việt (San Diego)…Lúc này, người dân tị nạn ai cũng phải lo chuyện làm sao sinh sống nơi quê hương mới, chuyên gia mọi ngành c̣n t́m cách thi lại bằng hành nghề tại các quốc gia cho ngụ cư. Nhiều Cộng Đồng Người Việt đang ở thời kỳ thành lập, các tài liệu và sách vở tiếng Việt gần như không có. Sự truyền thông qua đài phát thanh, báo chí, rất là phôi thai hoặc yếu kém. Nay có dịp t́m lại một số những bài viết cũ, tôi muốn ghi lại hai bài đă phát biểu, một lần nhân dịp Phát Giải Báo Chí Học Đường của niên khóa 1982-83 tại Quận Cam, California, và một lần nhân Ngày thành lập Hội Phụ Huynh và Giáo Chức vào tháng 10, 1983 tại Quận San Diego.  

 

 

Giải Báo Chí Học Đường tại Quận Cam

(Niên khóa 1982-83)

 

 

Thưa quí vị quan khách,

Thưa các bạn,

Cùng các anh chị em Học Sinh, Sinh Viên,

 

Tôi xin thành thật cảm tạ Ban Tổ Chức đă dành cho tôi một chút th́ giờ trong buổi lễ phát Giải Báo Chí Học Đường năm nay. Vốn là một nhà giáo dục và chưa từng đóng góp được một phần nhỏ nào vào lănh vực văn hóa, tôi đă tạm nhận chức vụ Phó Chủ Tịch Chương Tŕnh Tương Trợ Việt Nam không chỉ v́ t́nh bạn mà quí vị trong Ban Quản Trị đă dành cho tôi, nhưng cũng chính v́ ḷng tin vào các tài danh của nước Việt, với các học giả, tư tưởng gia, các văn nghệ sĩ thuộc đủ mọi bộ môn mà tên tuổi tôi không thể kể hết được.

 

Kế hoạch Bảo Tồn và Phát Huy Văn Hóa Việt Nam tại Hải Ngoại đă được soạn thảo bởi một nhóm anh em và do bạn Đỗ Tiến Đức tŕnh bầy tại đại hội thường niên Chương Tŕnh Tương Trợ Việt Nam ở Michigan vào tháng 10/1981. Sư tương quan giữa vai tṛ của văn nghệ sĩ với cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại đă được nhà văn Nhật Tiến đề cập đến trong đại hội nhị niên vào tháng 8/1982.  Ưu tư của chúng ta là làm sao tạo dựng được một lớp người trẻ, lănh trách nhiệm tiền phong trong những hoạt động văn hóa ở giai đoạn chuyển tiếp hiện tại. Các bạn trẻ này, ngoài sự hấp thụ những tinh hoa của thế giới bên ngoài, c̣n được bồi dưỡng bởi những kinh nghiệm của các bậc đàn anh, đă từng sống và hoạt động cho Việt Nam, trong khung cảnh Việt Nam. Giải Báo Chí Học Đường nhằm khuyến khích phong trào sáng tác của các anh chị em Học Sinh, Sinh Viên đă được tổ chức trong tinh thần nói trên. 

           

            Các bạn Học Sinh, Sinh Viên,

 

Văn Hóa của một dân tộc là những nét hay, vẻ đẹp, có thể dùng để đánh giá trị dân tộc ấy. Dáng kiêu kỳ của loài thông, mầu sắc rực rỡ của hoa lá, tiếng hót vui tươi của chim muông; h́nh dạng, mầu sắc, âm thanh thiên nhiên ấy, cộng thêm với các quan niệm về nhân sinh và mỹ thuật, các kiến thức về khoa học và kỹ thuật, đă được thể hiện qua những công tŕnh kiến trúc, điêu khắc, những tác phẩm văn học, hội họa, thi ca nhạc kịch của con người.

 

Sản phẩm văn hóa, thông thường chịu ảnh hưởng của môi trường thiên nhiên, và thể chất, tính t́nh của ṇi giống mà tạo hóa đă dành sẵn cho dân tộc ấy. Văn Hóa Việt Nam bắt nguồn từ vùng châu thổ sông Hồng với một lịch sử trải dài trên 4000 năm, và theo ḍng thời gian phát triển nơi sông Hương núi Ngự cho tới miền trăng nước Đồng Nai. Nền Văn Hóa ấy đă chịu ảnh hưởng nặng nề trong nhiều thế kỷ của Trung Hoa cũng như của Ấn Độ, và gần đây nhất lại hấp thụ thêm nền Văn Hóa Âu Tây, đặc biệt là Pháp, Hoa Kỳ và Nga Sô Viết.

 

Là nơi giao điểm của nhiều ư thức hệ và nhiều tư tưởng chống đối lẫn nhau, Việt Nam qua nhiều thời đại vẫn giữ được một nền Văn Hóa với những sắc thái độc đáo, chính là nhờ ở tinh thần hiền ḥa, ḷng ham chuộng tự do của cha ông chúng ta, để có thể sống hoà hài với các dân tộc khác. Chữ Nhân của thầy Khổng Tử (551-479 TTL), ḷng Từ bi của đức Phật (563?-480 TTL), tính Bác ái của chúa Ki Tô (4? TTL-29?), tất cả đều có thể phát huy được trong con người Việt Nam.

 

Hiện nay ở trong nước, Cộng Sản định nghĩa con người Việt Nam như một con người có ḷng yêu nước Xă Hội Chủ Nghĩa nồng nàn, với một tinh thần quốc tế vô sản trong sáng. Cộng Sản đă đề ra ba cuộc cách mạng, về Quan hệ sản xuất, về Khoa học kỹ thuật, và về Văn Hóa tư tưởng. Thật ra cả ba cuộc cách mạng đó đều phụ thuộc vào con người, và vai tṛ Văn Hóa vẫn là tiền phong. Qua các sự kiện đă và đang xẩy ra, chúng ta có thể khẳng định rằng sự xây dựng Xă Hội Chủ Nghĩa này sẽ thất bại v́ không đáp ứng được những khát vọng sâu sắc nhất của dân tộc.

 

Tại Hải Ngoại, mẫu của con người trong thế giới tự do là sản xuất theo kỹ thuật, t́nh cảm theo khoa học, một con người đơn thuần duy lư với một quyền lực gần như vô giới hạn của một nền văn minh cơ giới. Mẫu người này, cố nhiên là không hoàn toàn, v́ nhân tính đă được hạ thấp, sẽ quyến rũ và thử thách chúng ta về mọi mặt. Chính v́ vậy, chúng ta phải trở về nguồn Văn Hóa dân tộc, để t́m hiểu những điều hay lẽ phải mà ǵn giữ, cũng như cái dở điều trái mà loại trừ. Sự tồn vong của một dân tộc nằm trong tay thế hệ trẻ. Chúng ta hăy kiến tạo một mẫu người Việt Nam mới, với thể chất lành mạnh, với tinh thần trong sáng và khoa học, với tư tưởng tiến bộ và nhân bản, để trong nước có thể xây dựng một xă hội tự do thanh b́nh và phú cường, và ở ngoài nước c̣n có thể tự hào về ḍng giống Việt.   

 

            Các bạn Học Sinh, Sinh Viên,

 

Tư tưởng thường đi trước hành động. Nền văn minh nhân loại hiện tại là kết tinh của một số tư tưởng lỗi lạc mà chắc chắn các bạn trẻ có cơ hội học hỏi hơn lớp tuổi chúng tôi. Kể từ thời đại Phục Sinh, hay đúng ra là thời đại Lư Trí, cái nh́n của con người vào vũ trụ và vào bản thể của ḿnh đă được t́m hiểu cặn kẽ theo khoa học. Một số thiên tài đă khám phá ra những phương thức kiểm soát được các hiện tượng, hầu dành phần chủ động trong việc tạo lập cuộc sống cho chính ḿnh thay v́ phụ thuộc vào thiên nhiên và phó thác cho may rủi. Có thể kể Machiavelli (1469-1527) về chính trị, Clausewitz (1780-1831) về quân sự, Newton (1642-1727) về thiên văn, Einstein (1879-1955) về vật lư hạt nhân, Wienner (1894-1964) và Mc Culloch (1898-1969)  về điện toán. 

 

Một số các tư tưởng gia khác sử dụng những hiện tượng có thể kiểm soát được để xây dựng một thế giới đúng đắn và duy lư cho con người, nghĩa là theo một trật tự kinh tế và một hệ thống xă hội công b́nh. Voltaire (1694-1778) là một văn sĩ, thi sĩ, triết gia, nhưng cũng là một nhà cải cách với kiến thức rộng răi hơn người đương thời rất nhiều. Rousseau (1712-1778), một nhà xă hội học với cái nh́n “nhân chi sơ, tính bản thiện”, đă kiếm ra những định chế của xă hội dân chủ. Smith là một kinh tế gia đă đi trước Marx trong lư thuyết kinh tế sử quan.

 

Từ những hiểu biết về quá khứ, một nhóm khoa học gia khác đă t́m ra những chân trời mới. Darwin (1809-1882) cho ta biết tiến tŕnh của con người từ loài thú, Hegel (1770-1831) khai triển sự trưởng thành của tôn giáo, Freud (1856-1939) giảng nghĩa những diễn tiến về tâm lư con người, Marx (1818-1883) đă coi lịch sử xă hội như những đấu tranh giai cấp liên tục.

 

Những tư tưởng kể trên của phương Tây đều thiên về động, con người xử sự hợp với Luận lư học, ưa phân tích rồi tổng hợp lại theo các phương pháp của khoa học thực nghiệm. Ở phương Đông, trái lại con người chuộng sự tĩnh mịch, hành động theo t́nh cảm, và hiểu biết bằng trực giác. Tại phương trời này, trong đó có Việt Nam, cũng không thiếu ǵ các triết gia, các tư tưởng gia, và Lăo Tử (570-490 TTL) Trang Tử (365-290 TTL), Mặc Tử (470-391 TTL), Khổng Tử (551-479 TTL), Mạnh Tử (372-289 TTL), Phật Thích Ca (563?-480 TTL) … phải chăng đă gây được một nền văn minh tinh thần dài mấy ngàn năm? Dù theo Tây học, thánh Gandhi (1869-1968) của Ấn Độ, đă chứng tỏ sức mạnh của tinh thần và của ḷng tin có thể chế ngự được bạo lực, chính đă khai sinh ra sự tranh đấu bất bạo động? Đối với những tư tưởng vĩ đại của nhân loại, tư tưởng Việt Nam khác biệt ở chỗ nào? Tôi không có đủ thẩm quyền để trả lời. Con người Việt Nam thường hướng về nội tâm, hiểu theo thường t́nh, hoạt động thuận theo thiên nhiên, và không tin ở sự tuyệt đối của bất cứ chủ thuyết nào. Người Việt Nam ưa thích sự nhàn hạ, không phải kiểu "nhàn cư vi bất thiện", mà có thể là cái nhàn triết gia của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), cái nhàn cao ngạo của Cao Bá Quát (1809-1855), hay cái nhàn tài tử của Nguyễn Công Trứ (1778-1858). Tư tưởng của chúng ta giản dị, mộc mạc, có thể t́m thấy bàng bạc trong mọi tầng lớp dân chúng, qua các ca dao, tục ngữ, hoặc ẩn hiện qua các tác phẩm văn chương bác học của Nguyễn Trăi (1380-1442), Lê Quí Đôn (1726-1784), Nguyễn Du (1765-1820), Nguyễn Khuyến (1835-1909).

 

Thưa quí vị quan khách,

Thưa các bạn,

Cùng các anh chị em Học Sinh, Sinh Viên,

 

Chúng ta đang sống một thời đại đầy thử thách. Người là một con vật biết suy nghĩ theo Bacon (1561-1626), hay một cây sậy có tư tưởng của Pascal (1623-1662), nay trở thành một bộ máy biết suy nghĩ. Sự thông minh nhân tạo đă là một đề tài khảo cứu tại đại học. Nỗi lo lắng của Malthus (1766-1834) về nhân số học đă không ngăn được sự gia tăng khủng khiếp của dân số, trong khi phải cả tỷ năm mới đạt được con số 4 tỷ người ngày nay, th́ chỉ cần thêm một thế hệ nữa, thế giới sẽ đầy chật 8 tỷ người. Sự phê b́nh về sự thuần lư của Kant (1724-1804), một triết gia chưa từng rời khỏi nơi sinh quán quá 12 dặm, vẫn c̣n rất đúng với hiện tại. Pavlow (1849-1936), ông tổ của ngành Sinh lư học Thực nghiệm với các phản xạ có điều kiện, thay v́ mang lại được sự hoàn bị của trí óc, đă chỉ đưa đến những cuộc tẩy năo, những buổi học tập và tự thú trong các trại tập trung. Phải tới khi gần từ trần, Pavlow mới thấy rằng con đường ḿnh theo đuổi càng ngày càng dài ra, khi nói rằng dân Nga c̣n cần có tôn giáo và ḷng tin vào kiếp sống sau. Cái giá của nền văn minh khoa học thật là quá đắt, nếu được dùng để đưa tới tư lợi và giáo điều, làm sụp đổ đạo đức và t́nh tự con người.

 

Việt Nam cũng là vấn đề của thế giới hôm nay. Khi mà cuộc chiến “tư bản-vô sản” dằng dai hơn một thế hệ ở vào mức tàn bạo nhất, những bài hát trữ t́nh của Trịnh Công Sơn đă nói lên hoài băo của người dân được sống trong cảnh thanh b́nh, và khi mà Cộng Sản đă kiểm soát được toàn thể lănh thổ, th́ những cảnh thuyền nhân liều chết trên biển cả lại nói lên khát vọng tự do của người dân Việt.

 

Trong t́nh trạng đặc biệt bi thảm đó, của cái gốc Việt Nam c̣n trông chờ một ngày mai tươi sáng, và của cái ngọn Việt Nam hiện phiêu bạt khắp bốn phương trời, chúng tôi mong mỏi các học giả, các văn nghệ sĩ, sẽ t́m hiểu và nói lên được sự thật Việt Nam, sẽ sáng tác được những tác phẩm bất hủ để đời cho kho tàng Việt Nam nói riêng và cho nhân loại nói chung.

 

Tôi xin cám ơn tất cả các bạn Học Sinh, Sinh Viên, đă tham dự vào Giải Báo Chí Học Đường vả đồng thời cám ơn ban Giám Khảo cùng tất cả quí vị đă đóng góp cho giải thưởng. Tôi cũng xin cám ơn sự lưu ư của quí vị quan khách, của các bạn, của các anh chị em Học Sinh, Sinh Viên, trong buổi lễ phát giải hôm nay.

 

 

Hội Phụ Huynh và Giáo Chức
tại Quận San Diego

(Tháng 10, 1983)

 

            Thưa quí vị quan khách,

            Thưa các bạn,

 

Nhân ngày thành lập hội Phụ Huynh và Giáo Chức tại San Diego, mấy anh em trong ban Vận Động có nhă ư mời tôi nói một câu chuyện hầu quí vị. Tôi đă đề nghị một đề tài để chúng ta cùng suy nghĩ, đó là vai tṛ của Giáo Chức Việt Nam tại Hải Ngoại, đặc biệt là Hoa Kỳ.

 

Ai cũng biêt rằng Giáo Dục là một vấn đề trọng đại. Những điều sai lầm về Giáo Dục có ảnh hưởng lâu dài tới nhiều thế hệ, trong khi sự sai lầm về chính trị và kinh tế có tác dụng ngắn hạn hơn nhiều. Tuy nhiên tôi không thấy ngần ngại cho lắm. Tại sao vậy? Thứ nhất là tại nơi đây, chúng ta chưa ở cái thế trực tiếp hoạch định về Giáo Dục. Nhà giáo Việt Nam chỉ cần thực thi những chính sách sẵn có để đào tạo lớp người mai sau phục vụ cho những xă hội mà chúng ta đang sinh sống. Thứ hai là vấn đề đặt ra chỉ thu hẹp trong Cộng Đồng Việt Nam mà thôi. Thế mà Cộng Đồng này có mặt rất trễ trên thế giới, có thể coi là mới bắt đầu sau biến cố tháng 4/1975, hay sau 200 năm lập quốc của Hoa Kỳ. Như vậy chúng ta chắc chắn có thể thu lượm, lọc lựa, và áp dụng những bài học của các dân tộc ngụ cư đi trước. V́ đề tài này được đưa ra như một suy tư chung, nên tôi sẽ nói rất vắn tắt về vai tṛ của Giáo Chức Việt Nam, và xin để th́ giờ tŕnh bầy về những khía cạnh tổng quát hơn của Giáo Dục.

 

Thế nào là Giáo Dục? Giáo là dạy dỗ, dục là nuôi dưỡng. Mục đích chính của Giáo Dục là đào tạo các thanh thiếu niên để tiếp tục cuộc sống với các giá trị tích lũy về con người, theo nhân sinh quan hướng về chân thiện mỹ của các bậc đàn anh. Nhưng tư tưởng của nhân loại không phải là bất biến, các xă hội cũng tiến triển lần hồi theo thời gian, và mục tiêu của Giáo Dục cũng thay đổi để thích nghi với các xă hội ấy.

 

Việt Nam là một nước nhỏ, nằm trong một vị trí rất đặc biệt, tựa lưng vào dăy núi Trường Sơn, và ngoảnh mặt ra biển Đông Hải. Kể từ thời vua Hùng Vương dựng nước, cha ông chúng ta đă gây được một nền văn minh tinh thần rất cao. Nền Giáo Dục chịu ảnh hưởng nặng nề bởi giáo lư Khổng Mạnh, quả đă sao lăng về phần “cách vật trí tri”. Dân thời đó, sống thuận theo thiên nhiên, chuyên về nông nghiệp, ưa sự an cư và tin vào thần quyền. Việt Nam đă hoàn toàn không chú trọng tới thế giới bên ngoài, và không hay biết ǵ về nền văn minh cơ khí, có thể nói đă bắt đầu từ thời đại lư trí khoảng năm trăm năm về trước. Khi bị xâm nhập bởi nền văn minh tây phương này, chúng ta cũng có Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) và những bản điều trần, Bùi Viện (?-1878) và những vận động với chính phủ Mỹ. Nhưng thật là đáng tiếc, những con én đó đă không kéo nổi lại mùa xuân ở các triều đại nhà Nguyễn.

 

Trong thế kỷ thứ 19, Việt Nam bắt đầu mất chủ quyền về Pháp kể từ ḥa ước đầu tiên (1862); Trung Hoa, thánh địa của nền văn minh Á Châu, bị thảm bại bởi Nha phiến Chiến Tranh (1840-1842), thủ đô bị liên quân Anh Pháp lấn chiếm (1858-1860). Ấn Độ trở thành thuộc địa của Anh (1877). Trái lại, Nhật Bản với chính sách Giáo Dục cải cách thời Minh Trị Thiên Hoàng đă đột nhiên trở thành một cường quốc sau một thời gian rất ngắn. Những sự kiện đó làm thức tỉnh các sĩ phu Việt Nam trong việc dành lại độc lập và cổ vơ một nền Giáo Dục mới. V́ thời thực dân c̣n đang quá thịnh, các nhà cách mạng như Phan Chu trinh (1872-1926) với phong trào Duy Tân, Phan Bội Châu (1864-1940) với phong trào Đông Du, đều gập toàn thất bại. Tuy nhiên, sự dấn thân của nhiều nhà nho trong giai đoạn khó khăn này đă là một điểm son của nền giáo dục cổ xưa, một nền giáo dục không phải chỉ gồm toàn từ chương khoa cử, hay để xem hoa nở và chờ trăng lên! Các cụ muốn xuất thế mà đă phải nhập thế. Các cụ quên đi tùy kỳ thế, tùy kỳ ngộ, tùy kỳ cảnh để có gan đội đá vá trời. Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895) có lẽ đă luận rằng một nước mạnh hay yếu là do chánh giáo chứ không phải là tại lớn nhỏ: nên giữ thuyết Khổng Mạnh làm nền tảng luân lư, lấy chủ nghĩa Dân Quyền để tổ chức xă hội, học khoa học kỹ thuật Âu Tây để mở mang mọi ngành nông, công, thương. Huỳnh Thúc Kháng (1876-1948) cũng quan niệm là Việt Nam muốn tồn tại trong một thế giới đầy cạnh tranh tất phải mạnh và giầu, mà sự giầu mạnh là kết quả của sự khôn ngoan do học vấn mang lại.

 

Từ sau thế chiến thứ hai, nhờ ở sự may mắn có quốc ngữ, nền Giáo Dục thuần túy Việt Nam bắt đầu phát triển nhanh chóng. Tuy đất nước bị chiến tranh “ư thức hệ” tàn phá liên tiếp hơn mấy chục năm trời, một nền Giáo Dục khai phóng có tính cách nhân bản, khoa học và đại chúng đă được thực hiện trong mọi lảnh vực và ở mọi cấp, từ Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học cho tới Đại học.

 

Rất nhiều học giả và giáo sư đóng góp cho nền Giáo Dục này, nhưng đặc biệt nhất phải kể Dương Quảng Hàm (1898-1946) và Hoàng Xuân Hăn (1908-1996).

 

Tôi không muốn phê b́nh về nền Giáo Dục có tính cách giáo điều của Cộng Sản. Nh́n vào các xă hội Cộng Sản, có thể thấy những khuyết điểm của nền Giáo Dục này. Ở thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, nền Giáo Dục Việt Nam c̣n bị ảnh hưởng rất nhiều của Pháp. Nền Giáo Dục của Pháp có bề rộng, dạy cho Học sinh quá nhiều kiến thức về mọi mặt, nên thiếu sự chuyên biệt. Dựa vào một hệ thống tuyển chọn thật là khó khăn trước khi Sinh viên bước vào ngưỡng cửa Đại học, nền Giáo Dục đó mang lại đặc quyền cũng như sự độc tôn cho các vị thành đạt. Sự cạnh tranh hậu Đại học có thể coi như không có. Vào thời Đệ Nhị Cộng Ḥa, ảnh hưởng của Giáo Dục Hoa Kỳ gia tăng nhanh chóng. Nền Giáo Dục Hoa Kỳ có bề sâu, nặng về kỹ thuật, không nhằm đào tạo cho Học sinh những khả năng tổng quát.  Dựa vào một hệ thống thăng tiến, các Sinh viên được nhập học Đại học dễ dàng, và chuyên viên mọi ngành mọi lănh vực được sản xuất hàng loạt. Sự cạnh tranh hậu Đại học trở thành vấn đề căn bản.

 

Chúng ta khó tổng kết được ảnh hưởng của các nền Giáo Dục Trung Hoa, Pháp và Hoa Kỳ với Việt Nam. Nền Giáo Dục nào cũng có cái hay cái dở, nhưng thường là được hoạch định sao cho thích hợp với xă hội đă tạo ra nền Giáo Dục đó. Tuy nhiên, một số các nhân tài sau khi tốt nghiệp tại các Đại học ở các nước tiền tiến và trở về phục vụ đă không cứu văn nổi t́nh trạng suy sụp của quê nhà, quả là một bài học cho chúng ta. Kiến thức nhiều cũng không đủ, phải có khả năng tạo điều kiện áp dụng những kiến thức đó nữa.

 

Thế giới đang đi vào thời kỳ đầy nguy hiểm. Nền văn minh nhân loại nay quá phụ thuộc vào khoa học, mà nhiều vấn đề nhân sinh lại không thể dùng khoa học mà giải quyết thỏa đáng được. Không kể các ngành khoa học nhân văn, nếu chỉ nói tới khoa học thực nghiệm, theo thứ tự chính xác giảm dần, ta có Toán học, Vật lư, Hóa học và Sinh học. Toán học, từ những định đề, định nghĩa và giả thiết, cho những đáp số có thể chứng minh chắc chắn là đúng. Vật lư giảng nghĩa và áp dụng được những hiện tượng thiên nhiên từ các nguyên lư căn bản. Hóa học tiên đoán và kiểm soát được các phản ứng phân tích và tổng hợp của vật chất dựa vào các thí nghiệm và định luật. Sinh học phụ thuộc vào lư thuyết ít hơn và phát triển theo kinh nghiệm nhờ vào sự quan sát các sinh vật. Cố nhiên các ngành Khoa học này bổ túc lẫn cho nhau, như những tiến bộ Y khoa chỉ có thể xẩy ra sau những kết quả đạt được từ các ngành Khoa học khác.

 

Nhưng trên tất cả Sinh học, Hóa học, Vật Lư và Toán học là Triết học. Trong Triết học, tiền đề quan trọng hơn cả định luật. Chính Triết học liên hệ trực tiếp tới bản chất, tư tưởng và hành động của con người. Socrates (469-399 TTL) nhà hiền triết của Hi Lạp, đă để cả cuộc đời t́m hiểu “sự thực” “đức hạnh”, và khổ công biện thuyết với những người trẻ để khuyên họ suy nghĩ cho rơ ràng và hành động theo lẽ phải. Khổng Tử (551-479 TTL) dù vất vả lập thuyết về sứ mệnh con người, cũng chỉ tới được “vi nhân nan”. Lăo Tử (570-490 TTL) đă khuyên người trở về với “đạo” để cuộc sống thuận theo tự nhiên như nước chẩy xuôi ḍng. Cho tới ngày nay, cứu cánh của con người vẫn chưa được soi sáng, dù Lecomte de Nouy (1883-1947) đă chứng minh bằng tính xác suất sự có mặt của Thượng đế, khi lập ra thuyết viễn đích và khi giải thích về định mệnh con người.

 

Tôi xin kể hầu quí vị một câu chuyện có thể không thật. Trên thiên đàng, nàng Eva v́ ăn trái cấm, mới ư thức được là ḿnh có cái khác với chàng Adam, nên vội lấy lá cây che dấu tấm thân ngà ngọc. Tư hữu và vị kỷ từ đó bắt đầu, và cảnh hạ giới hiện ra với thế giới nhị nguyên mà chúng ta đang sống, nơi mà sự vật như nam-nữ, âm-dương, đại cường quốc-tiểu nhược quốc… và các sự việc như hay-dở, phải-trái, thịnh-suy, tư bản-vô sản… dựa vào nhau mà tương sinh, tương khắc, tương hóa.  

 

Con người bằng xương bằng thịt chỉ là một thành phần tinh anh và tiến bộ của sinh vật không thể mạo nhận là chúa tể của muôn loài. Nền văn minh cơ khí thật ra rất có giới hạn. Nếu những phương tiện dùng để cứu sống con người ngày nay tinh vi bao nhiêu, th́ những khả năng dùng để hủy diệt con người càng mănh liệt bấy nhiêu. Các thực hiện nhân tạo càng vĩ đại, th́ sự ô nhiễm thiên nhiên càng gia tăng! Thật vô lư, không gian cho sinh vật th́ hữu hạn mà con người cố nới rộng thêm ra, và thời gian th́ vô cùng mà con người hấp tấp, vội vă như cố thu ngắn lại!

 

Khi con người ư thức được thân phận ḿnh, hiểu được những động lực đối kháng tạo ra cảnh trần gian này, th́ may ra áp dụng hay hóa giải được các động lực đó, để có một cuộc sống an lành và ḥa hài. Nền Giáo Dục hướng về Chân Thiện Mỹ là t́m về lẽ phải tương đối, sự tốt lành khách quan, và sự cao đẹp khiêm nhượng.

 

Trong một thế giới như vậy, Việt Nam khó tránh khỏi sa vào một hoàn cảnh khó khăn. Chúng ta miễn cưỡng phải chấp nhận cuộc tranh đua về mọi mặt, nhất là về Khoa Học Kỹ Thuật. Quê nhà như cái gốc, cần được lành mạnh hóa, đất được vun xới và bồi dưỡng. Hải ngoại như cái ngọn, phải làm cho tươi tốt, giữ được bản sắc, và hấp thụ được tinh hoa của bầu không khí bên ngoài. Chỉ khi nào cái gốc và cái ngọn có thể hỗ trợ và bổ túc lẫn cho nhau, cái cây Việt Nam mới có thể đâm chồi nẩy lộc được.

 

Vai tṛ của quí vị Giáo Chức tại hải ngoại như vậy rất là quan trọng. Tôi xin góp ư vào một vài điểm sau đây:

 

Thứ nhất: Đặt trọng tâm của Giáo Dục vào giới trẻ.

 

Phần đông người Việt khi rời bỏ quê hương ra đi đều nghĩ là v́ con cái, mong cho chúng có đời sống tự do và nhiều cơ hội hơn. Đó là một quan niệm hợp t́nh hợp lư. Tương lai của Việt Nam cố nhiên ở trong tay thế hệ trẻ. Tôi xin đọc lại một đoạn văn của Nguyễn Bá Học (1857-1921):

Các anh em thiếu niên ta ơi! Xin các anh phải giữ lấy trí thông minh, ḷng ái quốc, chầm chậm mà đi, thủng thẳng mà xét, biết một việc lo chắc một việc, nói một câu cho đúng một câu, số phận nước nhà ở trong tay các anh. Các anh chịu khó gia tâm một tí, t́m cho đến cỗi rễ, học cho đến ngọn nguồn, trước phải hiểu lịch sử nước nhà, sau phải coi phong trào thế giới, làm sao là khôn, làm sao là dại, sao là quốc túy phải giữ ǵn, sao là hại phải chấm dứt. Các anh bước một bước là nước nhà nhờ một bước, Các anh lạc một quăng đường là nước nhà lại bị nhận ch́m mất tầng địa ngục.

 

Thứ hai: Giữ ǵn và phát triển tiếng Việt trong Văn Chương và Cộng đồng Hải ngoại.

 

Ngoài sự dùng tiếng Việt như một phương tiện truyền thông trong Cộng đồng, các Học Sinh, Sinh Viên, cần được học hỏi về Văn Chương Việt nam, được khuyến khích trong việc sáng tác Văn học Nghệ thuật. Sự nghiên cứu và sự soạn thảo các vấn đề khoa-học kỹ thuật cũng cần được chú trọng v́ tiếng Việt là chuyển ngữ chính cho sự tái thiết và phát triển Việt Nam trong tương lai.

 

Thứ ba: Khai thác triệt để sở trường của dân tộc Việt.

 

Hoa Kỳ là nơi hội tụ của nhiều dân tộc trên thế giới. Nói một cách chủ quan th́ phần đất này là nơi thiên đàng mà người Cộng Sản muốn, mà không biết đến bao lâu mới đạt được. Việt Nam có thể tranh đua trong môi trường này, đóng góp sắc thái Văn hóa của ḿnh như một loài hoa thơm cỏ lạ trong khu vườn thế giới đại đồng.

Các học sinh Việt Nam thông minh, chăm chỉ, có khả năng về Toán học, Lư hóa, và một số nghề chuyên môn cần sự khéo léo và kiên nhẫn. Tuy nhiên một số sở đoản như nặng tinh thần đố kỵ, từ chương, thụ động, ít khả năng hợp tác, thiếu tài quản trị và óc kinh doanh, cần phải được t́m kiếm nguyên nhân để sửa chữa.

 

Thứ tư: Tạo sự liên lạc mật thiết giữa gia đ́nh và học đường.

 

Nền Giáo Dục được thực hiện nơi gia đ́nh, học đường và xă hội. Tại Hoa Kỳ, nền Giáo Dục học đường thiên về phần chuyên nghiệp, c̣n phần luân lư và tinh thần thường được các tổ chức tôn giáo, xă hội khác đảm trách. Trong t́nh trạng hiện tại, mọi người Việt đều vất vả để thích nghi với cuộc sống mới, nên tổ chức Phụ Huynh và Giáo Chức là một điều cần thiết cho Cộng đồng. Tổ chức này cũng có thể cổ vơ cho tinh thần đoàn kết, sự hợp tác kinh doanh, để người Việt chấp nhận được luật chơi tập thể, năng động, là khía cạnh đặc biệt của xă hội Hoa Kỳ.

 

            Thưa các bạn Giáo Chức,

 

                   Tôi đă nói việc dễ, các bạn gánh vác việc khó, đúng như người xưa đă dạy “ngôn dị, hành nan”. Tôi cầu chúc và mong đợi sự thành công của các bạn, những người đă đóng góp tâm huyết cùng chịu sự thăng trầm với tập thể tỵ nạn nơi Hải ngoại. Tôi tin tưởng rằng các bậc Phụ huynh, các Hội đoàn chuyên nghiệp, sẽ tiếp tay với các bạn trong việc gây dựng một thế hệ trẻ c̣n tự hào về ḍng giống Việt.

 

            Thưa quí vị quan khách,

            Thưa các bạn,

 

Tôi                               Tôi tŕnh bầy một số ư nghĩ thô thiển và vội vàng, chắc không tránh khỏi sai lầm và thiếu sót, nên rất mong quí vị bỏ qua. Được vậy, tôi mới dám mượn chữ của Nguyễn Du, mang lời quê góp nhặt mà dông dài với quí vị trong ít phút.

 

Thành thật cảm ơn quí vị.

 

     

Lời kết,

 

Gần một thế hệ trôi qua từ khi tôi có dịp đọc hai bài diễn văn kể trên. Thế giới nay quả đă có trên 7 tỷ người. Thêm vào là đủ loại người máy bắt đầu làm việc thay cho con người trong mọi ngành Công Kỳ Nghệ. Các Kỹ Thuật Cao đều có những bước tiến khổng lồ, đặc biệt nhất là địa hạt Truyền Thông với tất cả các dạng mới của các máy Vi Tính / Điện Toán dùng cho mạng lưới toàn cầu. Tin tức thế giới và tất cả kiến thức của nhân loại có thể tức thời được đọc hay t́m thấy trong một máy điện thoại chỉ nhỏ bằng ḷng bàn tay.

 

Thời gian này, các chế độ độc tài khát máu liên tục và lần lượt sụp đổ. Về chính trị, sự thất bại của “Thí Nghiệm Tả Khuynh” cho con người đă quá rơ ràng, khi thế giới Cộng Sản tan ră nhanh chóng. Nhưng “Ư Niệm Hữu Khuynh” cũng chẳng thể mang lại hi vọng lớn lao ǵ cho nhân loại. Con người càng ngày càng đa đoan, sự việc càng ngày càng phức tạp, nhiều điểm nóng chưa có cách giải quyết tốt đẹp, trật tự thế giới mới c̣n mơ hồ, kinh tế toàn cầu vẫn tiếp tục ở vào một thời kỳ khó khăn bất trắc. Có thể nhóm chính trị gia đang nắm quyền sẽ phải đồng thuận để thong thả đưa nhân loại đi theo một đường hướng mới, hầu tiến tới một nền hoà-b́nh tương-đối, và thực hiện mục-tiêu-tồn-tại-chung trong hạnh-phúc, cùng chấp nhận chỉ sử dụng không-gian hữu-hạn mà con người hiện đang sở-hữu trên mặt Địa-cầu.

 

Riêng đối với Việt Nam, trong mấy thập niên qua, công việc Bảo Tồn và Phát Huy Văn Hóa đă đạt nhiều kết quả tốt, do việc làm của tất cả mọi người, thuộc mọi ngành nghề, ở mọi nơi, trong và ngoài nước. Cần tạo từ ngữ đẹp, thống nhất, chính xác, và dùng cho đúng, viết cho đúng, phát âm cho đúng. Thế hệ thứ hai của Cộng đồng Hải Ngoại cũng đă đạt được nhiều thành tích khích lệ. “Sự thật Việt Nam” đang dần dần được sáng tỏ. Tiếc rằng Mùa Xuân đầu tiên của Văn Cao chưa phải là Mùa Xuân đoàn kết của dân tộc. Cái gốc và cái ngọn của Việt Nam chưa thỏa thuận tới được một mẫu số chung, vẫn mạnh ai đi đường nấy.

 

Tuy không thể đi ngược lại hay đi xuôi trước ḍng thời gian được, nhưng trong Mùa Xuân sắp đến này, chúng ta hăy hi vọng Việt Nam sẽ tiến lần tới một thể chế có tự do, dân chủ và thịnh vượng thực sự. Trong một thế giới an b́nh, và Nam quốc sơn hà Nam đế cư.

 

 

 

 

Newport Coast, CA.

Lễ Tạ Ơn, Thanksgiving.

24 tháng 11, 2011

   

TÔ ĐỒNG

 


        


 

 

 

 

       

 

          

 

 

       

 

 

 

 

Trang XUÂN 2012- Văn Học Nghệ Thuật Và Quê Hương