www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Giáo Sư
Nguyễn Quang Tuyến

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

 

 

Main Menu

 
 

 


GS Nguyễn Quang Tuyến


Nguyên Giảng viên Khoa Tâm lư chiến
Trường Vơ bị Quốc gia VNCH Đà Lạt

 

 

 

 

LĂO TRÊ THẮNG KIỆN

 

 

                                         

Tuyển Tập Truyện ngắn:
 

05- NHỮNG QUẢ XOÀI XANH
 

         Một

Mùa hè năm 72, sau những sắp xếp ngấm ngầm của các phe phái, qua các màn kịch cắm cờ, dành dân lấn đất… những ngôi trường học nơi thành phố ấy, thầy cô giáo và đám trẻ ngơ ngác trước thời cuộc xoay chuyển từng ngày. Mỗi sáng mai thức dậy là một loạt tin tức thực thực hư hư về chiến sự bày ra trên mặt báo được xe đ̣  đưa lên; xen lẫn vào đó đám người mê kiếm hiệp, quên đời, ngóng chờ bản dịch Minh Báo Hồng Kông ngày hôm qua, để xem Lệnh Hồ ca ca đă đi đến đâu. Bao tin tức chiến sự xấu đi, sau mỗi đêm hỏa châu rập rờn cùng tiếng ́ ầm đạn pháo.Trong lớp học lại có vài em vội vă nghỉ học; có em gái rấm rức khóc v́ hay tin ở ngoài quê có người thân chết trong bom đạn; có em nữ sinh lớp lớn, mắt hoe đỏ v́ hay tin người yêu ngày qua đă nằm yên ngoài chiến trận… Cô giáo dạy văn lắng nghe và lo lắng nh́n đàn em áo dài xanh quây quần ngóng đợi…

Và rồi, trước hè năm 73, trường tiểu học An Hữu ở Cai Lậy Cái Bè, trong giờ các em đang ra chơi th́ một quả pháo 122 ly từ trong đâu đó rót ra bất ngờ rơi xuống sân trường. Nghe đâu, buổi sáng định mệnh tang thương ấy, mấy mươi em bé gái trai tan xác… Thời chinh chiến, hàng ngày, nơi đây, nơi đó, những cái chết oan trái đă thành b́nh thường. Nhưng lúc bấy giờ, trước đàn trẻ thơ vô tội, những xác chết oan nghiệt kia lại trở thành vũ khí để bên này lấy cớ hạch tội bên kia. Nhiều tờ báo chạy tít lớn, nhiều phóng sự và h́nh ảnh đưa ra những khía cạnh gây xúc động ḷng người. Ai cũng nghẹn ngào khi nh́n cảnh tượng mấy em gái nhỏ đang đánh đáo, kéo dây trong giờ chơi, nay tan tác máu xương… nhất là h́nh ảnh ba em gái gục chết bên tường rào sân trường trên tay c̣n nắm chặt quả xoài xanh cắn dở dang và gói muối ớt đỏ thẫm c̣n vung văi hoà lẫn trong vũng máu!

Sau đó, chính quyền dùng các cuộc mít-tinh phản đối, đả đảo để vạch trần tội ác đối phương. Sở giáo dục tỉnh thành nào cũng rầm rộ tổ chức mít-tinh… mọi phương tiện đều dùng để “lên án phía bên kia”. Trong khi ở các vùng quê th́ cùng nhau dành dân, lấn đất, đêm cắm cờ Mặt Trận Giải Phóng, ngày nhổ đi thay vào cờ Quốc Gia… Chẳng có ngôn từ nào nói cho hết cái thời người ta đem sự sống c̣n của cả một dân tộc vào một tṛ cá cược lạ lùng!

Định mệnh lại một lần nữa đưa đẩy cô giáo của chúng ta vào cuộc. Chính quyền Thành phố lúc bấy gi cũng tổ chức mít-tinh ở sân vận động, cô giáo được trường cô đang dạy, giao cho việc đại diện trường đọc cảm tưởng trước mấy ngàn học sinh các trường Trung học Công, Tư trong thành phố.

Buổi mai hôm ấy, trời âm u buồn, băo tố ở nơi nào đó trên biển đông, Dalat cũng chia một phần ủ rũ. Trời như xuống thấp hơn, mây và sương oằn xuống trong từng cơn gió quái tê cóng lạnh. Hàng ngàn em học sinh trai gái lặng lẽ nghe những bài diễn văn hô hào đả đảo, dài ḍng chán ngấy của nhà nước. Rồi khi cô giáo đăng đàn, cô mảnh khảnh trong chiếc áo len màu sậm và chiếc khăn quàng tím than, cô mỏng manh như một dấu chấm than giữa cuộc đau thương oan nghiệt! Cả đám học sinh áo xanh sậm của cô đứng ở giữa hàng chục màu sắc khác biệt của các trường khác, cô đăm đăm nh́n xuống đám học tṛ thân thương của ḿnh, hàng ngàn ánh mắt trong veo đang chờ đợi cô…

Im phăng phắc, mây và sương mù như sà xuống thấp hơn, thấp hơn nữa trong giá buốt để thương cho thân phận con người trong bom đạn vô t́nh:

 “…Các em ơi! Ngày c̣n đi học, cô cũng như các em, đă từng là những bé gái mỗi sáng nhoẻn miệng cười chào cha mẹ, ông bà rồi tung tăng nhảy chân sáo đến trường. Trên đường đi, các em gái ấy líu ríu kể cho nhau nghe bao chuyện vui buồn ngớ ngẩn của tuổi mới lớn; khoe nhau trong cặp sách đang dấu cái kẹo, mấy thẻ tre, mấy viên sỏi đánh đáo… rồi có gói muối ớt, mấy trái me chua, vài quả ổi sẻ, vài trái xoài xanh… Các em ơi! Thế giới dù có bao la đến mấy, dù trăm ngàn tính toán đến đâu, th́ thế giới ấy cũng không bằng một góc nhỏ trong chiếc cặp của thế giới trẻ thơ… Ngồi trong lớp học, chúng ra dấu với nhau, chúng khẽ mỉm cười trong ánh mắt bi-ve, chúng chờ tiếng trống báo giờ ra chơi…

Tiếng trống vang lên, sân trường vỡ ̣a trong tiếng cười nắc nẻ, chỗ này đánh nẻ, chỗ nọ kéo co, nhảy dây… C̣n có mấy cô bé làm bộ già rọm tụ đầu vào nhau rù ŕ kể chuyện… Mươi em bé xúm xít hít hít, hà hà bên mấy trái xoài xanh, trái cốc, trái ổi, chùm tầm ruột và một gói muối ớt, chúng nhóp nhép cười cười nói nói nước miếng chua ngọt ừng ực nuốt vội nơi mấy chiếc miệng trẻ thơ xinh xinh…

Các em ơi! Một tiếng nổ tai ác xé toạc không gian hạnh phúc đơn sơ của tuổi thơ! Những chiếc miệng xinh mới đó th́ nay đă há hốc, tan xác, mắt vẫn c̣n mở choàng, ngỡ ngàng nh́n lên trời xanh thăm thẳm; có em tay vẫn c̣n cầm chặt quả xoài xanh, quả cóc, quả ổi đang cắn dở; gói muối ớt đỏ trắng lấm tấm bắn tung nơi nào, những hạt lấm tấm đỏ trộn lẫn với ḍng máu vô tội vỡ ̣a ra lênh láng!

Ôi! Các em gái của cô ơi! Hăy tưởng tượng mà xem, những quả xoài xanh vẫn c̣n nắm chắc trong bàn tay non dại. Nào…nào cuộc chiến tàn khốc này phục vụ cho ai? Trẻ thơ nào có tội t́nh ǵ cho cam!!” 

Cô không đọc nên lời, vai cô rung lên, cô ̣a ra khóc như một người mẹ khóc con, một người chị khóc v́ thất lạc em gái trong mù mịt đất trời… Cô nấc lên mấy tiếng “Ôi những quả xoài xanhnào… nào có tội t́nh ǵ…” th́ vỡ ̣a ra, cả ngàn tiếng nấc sụt sịt của các nữ sinh các trường. Bọn nam sinh th́ mắt đỏ hoe, cúi đầu xấu hổ cố che dấu là ḿnh yếu đuối.

Cô giáo đứng đó, nước mắt chảy dài trên má, khăn quàng màu tím than phất phơ bay trong gió lạnh. H́nh tượng các em gái nhỏ vô tội chết oan khiên trong một cuộc chiến lạ lùng! Cô phát biểu không một lời trách móc ai, lên án ai, tuyên truyền cho ai… Cô phát biểu như một lời nấc vô vọng của những thân phận yếu đuối trước một cuộc chiến tàn khốc. Chỉ thế thôi! Chỉ có thế! Nhưng âm vang của nó c̣n hơn cả ngàn lời hoan hô, đả đảo. Phải chăng, xin ai đó cả hai bên trả lời, chiến thắng nào sẽ vinh quang hơn khi chiến thắng nằm trên một núi xương khô?  

Tôi chỉ nghe kể lại cảnh tượng này và nghe nói, sau buổi lễ, cô bị ban tổ chức mít-tinh chê trách cô không lên án kẻ chủ mưu pháo kích vào trường. Hẳn cô chỉ muốn trả lời, khúc ngâm Cung Oán là oán thương cho thân phận người đàn bà giam ḿnh trong cung cấm chứ nào phải oán trách đấng quân vương nào đó đă bỏ mặc cho thân phận nhi nữ bẻ bàng?  Dẫu rằng…  

Hai

Rồi cơn băo dữ “đổi đời” ùa đến, bao số phận phải đổi thay dù là kẻ thắng hay người thua… Miền nam bắt đầu một vở kịch lớn, ai ai cũng cố mặc áo quần lùi xùi, dáng đi khúm núm… sân khấu và kịch sĩ là dân cả một nửa đất nước thua trận đang tập tành cho quen với cảnh sống mới. Khó khăn đấy, nhưng muốn tồn tại, phải làm quen với những nghịch lư. Mọi người phải cố t́m cho ra quy luật sống, của một nếp văn hóa sống, khác với ḿnh.

Các thầy cô giáo gốc lính th́ vào trại tập trung cải tạo; một số được cho nghỉ dạy v́ vốn là gốc lính nhưng đă giải ngũ, nay cho về vườn kiếm việc làm khác; một số được lưu giữ lại trường hoặc chuyển trường với hai chữ: “Giáo viên lưu dung”. Người ta xác định rơ là lưu dung chứ không phải lưu dụng (lưu dụng là giữ lại để sử dụng; c̣n lưu dung là dung tha cho mà giữ lại). Có vài người đặc biệt là giáo viên cũ mà không lưu dung, họ ung dung ở lại trong vai tṛ lănh đạo v́ họ là người bên kia đă cài sẵn trong ḷng địch.

Cô giáo của chúng ta là giáo viên lưu dung, cô lủi thủi âm thầm như kẻ bên lề. Lúc gió băo, việc chính của con gà mẹ là lo xoè cánh rộng ấp ủ các con, mắt ngơ ngác nh́n mây ch́ cuồn cuộn trên bầu trời giông băo.

Tôi c̣n nhớ, sau mấy năm đi học tập cải tạo trở về, tôi đă nh́n thấy thành phố như xiêu vẹo, ngơ ngác chưa ḥa nhịp được đời sống mới. Đâu đâu cũng rực đỏ màu cờ, rồi cổng chào; đâu đâu cũng muôn năm và vĩ đại… Đă quen sống trong khu trại cải tạo có rào kẽm bao bọc, có quản giáo dắt thành hàng đi tới đi lui như bầy vịt con đi theo vịt mẹ; nay ra sống trong cái trại lớn, không có hàng rào mà như có ngàn ánh mắt vô t́nh theo dơi; như người quen trong bóng tối nay ra ngoài ánh sáng, tôi bỡ ngỡ, xa lạ và lo sợ… Cái cảm giác đất trời xám xịt, hoang vắng… đâu đâu cũng tiếng loa đinh tai, nhức óc với thứ nhạc rầm rập áp đảo, vẫn măi c̣n đeo đẳng tôi trong những giấc mơ dữ nửa khuya. Tôi thảng thốt sợ hăi những ngày tháng ấy, không phải v́ áo cơm mà như người hốt hoảng mà v́ thấy ḿnh mất bóng, thấy ḿnh lừ lừ cùng mọi người, xếp hàng cuộn vào chiếc máy vô tri khổng lồ ầm ́ nuốt chửng. Khắp nơi nơi, cái khí thế kiêu căng thiếu đức “khiêm” của người quân tử, như chú gà trống vênh váo đập cánh, nhắm mắt, cao cổ gáy không cần lưu tâm đến cầy cáo bên cạnh! Người ta tự thấy ḿnh to lớn trong mọi lời nói, tự ḿnh khen ḿnh và mong ước được nghe khen.

Để khỏi đi kinh tế mới, một số người xin vào các tổ hợp và hợp-tác-xă (HTX) sản xuất trong thành phố. Tôi và một số cô thầy giáo cũ xin vào HTX gỗ mỹ nghệ và tổ hợp thuộc da thỏ. Có lần tôi được biết ở tổ da thỏ có ít soude dư dùng để ngâm da, họ muốn đổi. Tôi hỏi chồng một cô giáo - anh ta là giáo sư hóa học trên đại học - về việc dùng soude dư đó làm xà pḥng được không?  Nếu được th́ anh em ḿnh sản xuất để cải thiện cái ăn. Anh trả lời chắc chắn làm được và thế là chúng tôi lên kế hoạch nhỏ sản xuất xà bông để cô giáo và học tṛ cô, là vợ tôi, đem ra chợ bán lẻ mua gạo.

Sau khi đi giao hàng ở Miền Tây về, tôi một mua can dầu dừa, và mươi kư soude dư của tổ hợp, rồi đạp xe chở qua nhà anh để xem anh pha chế. Tôi vốn dốt khoa học, nên cùng với các con trai anh ngồi trố mắt nh́n anh pha pha, chế chế, nấu rồi khuấy… và cuối cùng một thau chất sền sệt như chè đậu nếp được anh đổ vào một khuôn bằng tôn sắt anh làm sẵn có 20 cây xà pḥng dài cỡ 30 phân.

Mấy chú cháu nín thở nh́n thầy phù thuỷ giả-kim-thuật đang làm phép biến chất bột trắng trắng và dầu dừa thành bo bo, bột ḿ và có thể có chút thịt cá tươi!! Cháu con trai lớn của cô giáo ṭ ṃ sờ tay vào thành hộp khuôn, anh trợn mắt bảo ngồi im. Mấy chú cháu im lặng chờ đợi cái ước mơ có it cơm cá thành hiện thực.

Gần sâm sẩm chiều hôm, cái khuôn bí hiểm đă nguội mà ước mơ cầm một cục xà pḥng về khoe và tặng vợ để giặt đồ cho con cũng không thành hiện thực. Chất nhăo sền sệt vẫn không đông. Cô giáo đi đâu đạp xe về, nh́n thấy mấy chú cháu ngồi im vây quanh nhà sáng chế, và nhà giả-kim-thuật đang trầm ngâm suy tư, bèn lảng xuống bếp.

Đến khi chạng vạng tối, tôi sờ vào thành khuôn c̣n ấm ấm, nhà sáng chế nghiêm trang bảo: “Hăy kiên nhẫn! Trên nguyên tắc th́ nó phải thành xà pḥng thôi, điều lạ là sao không đông cứng, lại phải chờ”. Tôi và hai cháu trai, vét một chút chất sền sệt nhớt ở đáy thau ra rửa tay, các cháu cười nắc nẻ (như Archimède reo lên Euréka v́ t́m ra sức đẩy của nước) khi thấy đám bột trắng xốp của xà pḥng hiện ra trong ḷng tay!

Tôi bèn đạp xe về và hẹn mai kia đến xem thành quả của việc hợp tác sản xuất.

Mấy ngày sau tôi đến, xà pḥng đă đưa ra khỏi khuôn, các thỏi h́nh vuông dài nằm thỏng thượt trên bao bố ở nền nhà. Ôi, nhà khoa học h́nh như chưa có kinh nghiệm thực tế: cây xà pḥng chỉ thẳng khi nằm im trên nền nhà, c̣n cầm lên th́ nó oằn xuống như sợi bún, như miếng sương sâm!  Thầy giả-kim-thuật buồn rầu, vớt vát:

- Nếu cắt ngắn lại khoản sáu phân th́ chắc nó cũng hơi thẳng, tạm tạm gần cứng, giống cục xà pḥng.

Tôi nh́n anh, nh́n chị và mấy cháu, thấy mà thương vị thầy hóa học lư thuyết, có bao giờ phải quơ quào với nợ áo cơm?  Rồi chúng tôi cố thêm mấy lần mua soda, dầu dừa về thử nghiệm pha pha, chế chế, thêm bột cao-lanh, bớt đi ít dầu… khuấy tới, khuấy lui… và nó cũng ỉu x́u, èo uột!! Hai nhà sản xuất tạm dừng sản xuất, c̣n hai nhà tiếp thị tiêu thụ th́ làm ǵ với sản phẩm gần giống như xà pḥng đă sản xuất?

Sau đó mấy tuần, có một hôm, vợ tôi đạp xe ra chợ mua cám heo trở về, nói với tôi:

 - Thương cô quá anh à, em gặp con bạn học, bán chạp phô dưới chợ, nó nói: “Cô giáo gởi tau mươi cục xà pḥng nhờ bán hộ, mà mi coi để trong thúng trưa trời nóng là nó nhăo ra, răng bán chừ? C̣n mấy cục, tui với bà chia nhau mua giúp cô, thấy cô xách giỏ lát có mấy mươi cục xà pḥng mềm ỉu, nh học tṛ, mỗi đứa mua giúp vài cục mà thương quá!” Anh biết không, em đâu có dám nói với bạn là xà bông đó là do anh và thầy làm. Khi em chở cám qua dốc Chùa, gặp cô đạp xe đi đâu về, cô gọi em bảo qua nhà lấy bớt xà pḥng về giặt rũ cho lũ nhỏ, chứ chẳng biết bán cho ai.

Ở thành phố ấy, bao năm nay, những người dạy học không giàu sang ǵ, nhưng với đồng lương của ḿnh th́ gia đ́nh, vợ con không phải quay quắt trong nỗi lo cái ăn, mặc, học hành… C̣n bây giờ, tất cả mọi ngưới chỉ quay quắt một việc là gia đ́nh sẽ có ǵ để ăn, để may mặc, các con sẽ được học hành ra sao… được tồn tại thế nào? Trời đất, cỏ cây h́nh như cũng bị lùa vào một thời cơm-áo, cái sự được ban phát cho đủ ăn mặc và cho tồn tại như một loài động vật, nó khẩn thiết đến độ chẳng ai nghĩ được cái ǵ khác ngoài hai cuốn sổ: sổ hộ khẩu và sổ lương thực. Mỗi gia đ́nh như gia đ́nh cặp thỏ trắng với bầy con ẩn dưới hang tối trong rừng… quây bày con nhỏ vào ḷng, trao tráo mắt trong đêm đen mà lắng nghe từng bước đi rầm rập ngoài cửa hang, chúng lo s thợ săn và chó săn! Chợt nhớ đến câu trả lời phỏng vấn của một nhà văn Nga về hạnh phúc trong thời Xô Viết là: “Không hạnh phúc nào lớn hơn ở nơi này, bằng khi đêm xuống nghe tiếng gỏ cửa, mở cửa ra thấy người gơ cửa không phải là KGB”.

          Ôi, hạnh phúc quả là đơn giản biết bao cho bầy thỏ trắng được sống trong khu rừng không có cáo và sói!

Những ngày tháng ấy, buổi sáng mờ sương, tôi đạp xe ra hồ vớt bèo thồ về cho heo ăn, hai con heo do một cô học tṛ thương Thầy Cô, cho nuôi rẽ, để gia đ́nh tôi chứng minh rằng có việc làm trong thành phố. Có hôm tôi ngồi xem mấy chàng trai trẻ đứng bên cầu ống nước gần nhà Hướng-Đạo ở bờ hồ câu cá. Họ có một cách câu cá lạ lùng, họ rải một ít bột cám trên mặt nước hồ, xong dùng cây cần cứng như que củi dài hơn sải tay, cước lớn sợi dài khoảng hơn hai sải, đầu sợi cước cột một chùm lưỡi câu khoảng bảy tám lưỡi gắn xoay h́nh hoa thị. Họ không gắn mồi vào lưỡi như câu cá b́nh thường ở trong Nam, mà ném giật vun vút khi chùm lưỡi ch́m xuống hồ. Tiếng vun vút chụp giật, tiếng rít gió xé ghê rợn… Xoẹt, xoẹt… thi thoảng có chú cá rô phi, cá chép bị lưỡi câu móc xé đầu, xé bụng bị kéo giật lên máu loang trên bờ cỏ… Tôi bỡ ngỡ nh́n và hỏi, hai bạn trẻ người Bắc cười thản nhiên:

 - Chú không biết cách câu giật vun vút, vui tai, này à? Ối giời ạ, ở ngoài  quê  chúng cháu, hợp tác xă nông nghiệp nào mà chả có ao cá Bác Hồ, muốn ăn cá th́ phải chờ cuối năm tát cạn, tính điểm chia phần. Ôi giời ạ! Hơi đâu mà chờ cuối năm, chờ đánh kẻng tát ao, chia phần cho rách việc! Đây là cách ai dạn tay th́ cải thiện, ai ngoan ngoăn th́ húp gió! Hi hi! Chúng cháu đi làm về, qua ao, ngó trước sau chẳng có ai, giả vờ rửa cái chân, cái cuốc… thế là thả chùm lưỡi xuống giật phứa nó mươi phát, chụp được chú trắm, chú mè nào là bỏ vào túi, tối đến có cái để chén . Cứ giật phứa!, giật tuốt là được, có khó ǵ đâu chú. Ha ha... giật tuốt! Giật tuốt. Cái ǵ cũng vậy, có khó ǵ đâu chú, chụp được, vớ được là giật lấy tuốt! Giật tuốt, giật tuốt!

Tiếp sau hai từ: “Giật tuốt! Giật tuốt!”, các cậu quật cần vun vút, luỡi chùm xoàn xoạt xé mặt nước… một con cá chép màu hồng bị xé toát mảng bụng hất lên bờ cỏ giăy đành đạch và máu trào ra trong nền nắng nhạt.

-  Chú cho rằng tụi này lấy cắp à? Ôi, lấy cắp th́ chán chê ǵ chú ơi, chúng làm ông to bà lớn, ăn cắp cả vạn lần hơn mà vẫn sống nhăn răng, sống phây phây, sá ǵ vài con trắm, con mè?

Tiếng rơi tơm, tơm của chùm lưỡi câu khi cắm phập xuống mặt nước; tiếp theo là tiếng véo véo xé gió của cây cần giật mạnh lên vun vút. Thỉnh thoảng, một chú cá bị lưỡi câu móc xé toạt lưng, bụng, bị giật bắn vào lề cỏ dăy đành đạch, há mồm trợn mắt nh́n trời xanh như muốn hỏi v́ đâu nên nỗi?

Tôi nh́n hai cậu cười ha hả, quật vun vút phá tan cái yên ả của buổi sáng bên hồ trời xanh, mây trắng… Tôi chợt nhớ đến anh bạn dạy văn ngày nào, anh rất mê câu cá, nói với tôi về thú vui thi vị này, giọng Huế nhẹ và mượt mà: “Ń, cái thú câu cá đâu phải chỉ là câu được cá, mà lắng nghe cho được, trong trí tưởng tượng, sự mon men của chú cá dưới mặt nước trong xanh, êm ả, quanh mồi câu… Lắm lúc câu cá thú vị khi chờ đợi, thổn thức… như ngóng chờ bước đi của người yêu tới nơi hẹn ḥ”.

Cái thời của Lă Vọng ngẩn ngơ câu không lưỡi, không mồi; cái thời của những người như bạn tôi nh́n sợi cước mong manh sóng sánh bóng dưới mặt hồ, tim rộn ràng như ngóng đợi người yêu; và nay, th́ cái thời của “giật tuốt, cướp tuốt”… Mọi thú vui cao nhă nay được hạ thấp, chỉ c̣n dồn vào giác quan sao cho: no đầy bụng, đầy mồm, ngập răng…!!

Như thế đó, từng bước, từng bước, một cách sống mới, cách sống thậm thà, thậm thụt, ngó-trước-ngó-sau “giật-tuốt” đă tràn vào chiếm ngự! Lạ thật, chỉ mấy mươi năm chia cắt mà cách sống hai miền khác biệt đến thế sao? Những người như Mai, Loan trong Nửa Chừng Xuân, Đoạn Tuyệt, như Thu trong Bướm Trắng, như… trong Gió Đầu Mùa ở nơi đâu? Những thanh lịch Hà thành nay đâu? Mà chỉ thấy toàn Chí Phèo với Xuân tóc đỏ, phổ biến trong một thời buổi đảo điên? Hay những người xưa cũ ấy giờ đây ta chưa được gặp? Chắc họ cũng ngỡ ngàng cho một cuộc thay đổi đời ḱ lạ này; chắc họ cũng như ta rất sợ hăi và ẩn núp đâu đó để tồn tại, dù ô nhục cũng chỉ cầu mong được tồn tại giữa cuộc bể dâu!

Giữ nề nếp cũ, họ cũng phải ngậm ngùi trốn nhũi câm nín đâu đó, để cho qua phận người trong môi trường sống mới. Trong giai đoạn ban sơ này, trong giới ta được tiếp xúc, th́ ta chỉ gặp những người hănh tiến, đắc thế xem tất cả chúng ta là một ḷ toàn các ông Bá Kiến trong làng Vũ Đại, mà đă là Bá Kiến th́ hoặc là đứng đó để bị ăn đ̣n của anh Chí Phèo, hay phải bỏ của chạy lấy người.

Đây là thời của ḷng kiêu ngạo, thời của các anh Chí Phèo đang lên ngôi?

Rồi như thế, tôi đă thấy Thành phố đẹp êm ả đă thay đổi, thời:“Giật tuốt! Giật tuốt!”, đă dần thay thế cho nếp sinh hoạt cũ; cái thời:“Lắng nghe sự êm ả của ḷng ḿnh và của đất trời” dần dần tàn lụi.Thiên nhiên không có chỗ cho chân không! Quyền lực mới ùa vào lấp chỗ trống và mang theo đông đảo lớp người mới, tràn vào.Trước khí hậu và đất đai  trù phú của cao nguyên th́ họ “chi viện” cho một lớp người mới, họ nắm hết toàn bộ cơ cấu quyền lực từ thấp lên cao. Những người mới vào khát sống, khát đất sản xuất, khát chiếm đoạt… mười người mới vào vừa yên ổn, là về quê kéo vào mười người khác, và mười người mới lại… Cứ thế, chỉ trong ṿng mười năm, số dân mới đă xấp xỉ bằng dân bản địa, trong khi dân bản địa c̣n lại sống tại dây th́ sợ hăi, khép kín, chấp nhận tủi nhục; một số không ít bỏ chạy đi nơi khác… Một tầng lớp mới hả hê trong tâm trạng người chiến thắng, họ được vây quanh tâng bốc, tung hô, của đám người địa phương; họ tỏa ra khắp nơi, thay thế vai tṛ chủ sở hữu vật chất cho đến việc muốn là chủ sở hữu tinh thần bằng cách miệt thị mọi thứ giáo dục, văn nghệ, văn hóa cũ và tụng ca văn nghệ, văn hóa giáo dục mới… Họ và đám người đi theo ra sức chiếm giữ mọi khoảng trống không của bọn người bại trận –“Bỏ của chạy lấy người” – bỏ lại.  Đó là nguồn cơn đổi thay từ gốc mọi chuẩn, nơi mà người đi xa trở lại thấy mọi sự đều khác lạ.

 Một thời buổi mới đă tràn ngập, thay đổi rất lớn v́ thái độ giật tuốt dưới mọi dạng thức, nó như vết dầu loang, tràn vào thay thế cho nếp sống êm đềm cũ… C̣n nhớ, Amicis trong Grand Coeur: “Nh́n vào hành vi ứng xử của người dân đi trên đường, ta có thể biết được nền giáo dục của quốc gia đó”. Cứ xem sinh hoạt của một xă hội, th́ sẽ hiểu ngay văn hóa nào đă tạo dựng nên những sinh hoạt đó. Từ hành vi giật tuốt, cho đến tṛ chặn đường đánh thầy, người t́nh chặt người yêu từng khúc bỏ vào bao bố ném thùng rác, hiệu trưởng mua dâm nữ sinh, nữ sinh đánh hội-đồng và xé toạc áo quần bạn học, quay phim đưa lên mạng; sát thủ cướp của giết người tuổi vị-thành-niên… tất cả chỉ là hệ luận tất yếu từ nếp sống xă hội mấy mươi năm chứ chẳng phải chuyện một ngày…

Lâu nay tôi yêu văn hóa đất Bắc qua văn chương Tự Lực Văn Đoàn, sau này qua văn chương Sáng Tạo của những người di cư năm-tư, tôi yêu ngôn ngữ dịu dàng trau chuốt,  tôi yêu cả bề dày văn hóa, học thuật lẫn con người kẻ sĩ Bắc Hà. Nhưng nay, trong giai đoạn đầu tiên ấy, nơi này, các phẩm chất ấy nơi đâu rồi? Đâu đâu, trong cảnh ngộ của chúng ta, chúng ta gặp toàn anh Chí Phèo, anh Xuân tóc đỏ dốt nát, hănh tiến và nặng lời chà đạp kẻ cùng đường. Đâu rồi những kẻ sĩ khiêm cung nức danh đàng Ngoài?  Có lẽ họ là số đông trầm lặng, đang âm thầm câm lặng nh́n giông băo giá băng?

Một nền giáo dục lạ, một nền văn hóa lạ đă thay thế, và dĩ nhiên để tồn tại th́ bằng cách nào đó chúng ta như mọi sinh vật buộc phải thích nghi với môi trường sống mới: con chim cánh cụt dùng cánh ngắn để bơi trong nước; cánh dài thướt tha như chim én sẽ là thừa thải trong thế giới chim cánh cụt. Làm sao thích nghi mà không bị đồng hóa? Tồn tại mà vẫn giữ cho được phẩm cách của ḿnh? Một bọn người hăm hở xông xáo vào một hồ nước đầy cá lúc nhúc, nghênh ngang ném từng chùm lưỡi câu thèm-khát và quyền-lực vun vut, vun vút… “giật tuốt, giật tuốt”. “ Chết mày này! Tao giật phứa, không trúng đuôi th́ cũng trúng đầu”. 

Ba

 Vết chém treo ngành ngày 30/4 ngọt và sắc quá! Lưỡi kiếm vừa lướt qua, thịt da chập nhau liền mí, mới đầu chưa ai thấy được nỗi đau ghê rợn của nó. Lắm người ảo tưởng đường kiếm vương đạo chỉ múa lả lướt, bao dung, nào ai nỡ xắt lát thịt da đồng tộc! Rồi thời gian qua, rồi vài ba năm sau, trên vết chém ngọt đó đă sưng tấy, máu mủ tươm ra, người ta mới giật ḿnh thấy: “Hỡi ơi! Ta đă mất mát nhiều đến thế sao!” Cả thành phố bao lâu nay thiêm thiếp gà gật ngủ, mới choàng tỉnh, mới thấy ḿnh bị “giật tuốt”  khá nhiều thứ: Chợt như mất tất cả đất trời thơ mộng nơi này ?

Những tháng năm đó, trong giới những người đi dạy trước kia ở thành phố, đă thấy lắm cảnh trái ngang. Tôi đă thấy bạn dạy học với tôi nay lầm lũi vác quang gánh bốc xếp cám gạo ở nhà máy xay góc chợ; tôi đă gặp một anh bạn dạy Anh văn, sau bốn năm đi cải tạo trở về ngơ ngác như-khùng-như-điên, bởi về đến nhà th́ vợ đă lấy cậu học tṛ của ḿnh, cậu ấy làm lơ xe đ̣ và vợ thầy là người buôn chuyến, chạy gạo nuôi hai con nhỏ dại mà thầy đă để lại cho cô nuôi, khi thày vào trại cải tạo; tôi đă gặp các cô giáo bị cho nghỉ việc về đứng bán áo quần cũ ở lề đường, về làm thợ thêu, về đi kinh-tế-mới… Và ngoài những người thất thế đó, tôi cũng đă gặp những người bạn cũ, mắt họ ngời lên: “Ngày ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lư chiếu trong tim” (thơ Tố Hữu). Họ thuộc những người thắng, hân hoan trong nắng hạ nên tránh gặp, tránh nh́n những người đang tê tái trong hoàng hôn đông giá!

Cô giáo dạy văn được lưu dung sau bao cay đắng của kẻ “hàng thần lơ láo” ở trường cũ, nay bị chuyển qua trường khác; không được dạy văn cấp ba, cô xuống đứng lớp cấp hai và đổi về trường ngoại ô. Cô được cho đi tập huấn học cách dạy văn không cần giảng rộng, không cần cảm xúc cá nhân, mà cần nhất là không sai những ǵ sách giáo khoa đă viết. Không thêm, không bớt. Cô không c̣n có Đoạn Trường, Cung Oán, Hoa Tiên để mà mơ màng t́nh yêu đích thực. Biết tính mẫn cảm của cô giáo dạy văn, nên có người bạn cũ khuyên cô đừng dạy văn nữa. Cô không nghe theo v́ làm sao bỏ nghề cô đă yêu mấy mươi năm rồi…

Rồi, một lần nữa, định mệnh văn chương lại trêu ngươi cô giáo dạy văn. Ở trường cấp hai, khi cô giảng bài đọc thêm môn văn, có bài về “Mỹ Ngụy thả bom cày xới làng quê” Một em học sinh được cô gọi đứng lên đọc bài đọc thêm cho cả lớp nghe: “Những em bé gái sơ tán bị bom thù phủ lên tan xác, trong khi cặp sách vở vẫn c̣n ôm gh́ trong ṿng tay thơ dại…”

- Thôi em, đừng đoc nữa.  Cô giáo thảng thốt kêu lên.

Cô giáo như thấy trước mắt  cảnh chết chóc của bao trẻ thơ non dại cả Bắc Nam trong cuộc chiến tàn khốc, lớp học lặng như tờ, mấy mươi đôi mắt bi-ve đăm đắm nh́n cô giáo xanh gầy thất thần, mặt tái mét trong từng cơn gió lạnh đầu đông lùa vào khung cửa… Cô ngồi đó, trước đám học tṛ nhỏ dại, cô ră rời thẫn thờ, nghẹn ngào chẳng biết v́ đâu, và bởi v́ đâu mà hai hàng nước mắt ràn rụa nhoà trên đôi mắt mệt mỏi, chán chường… Cô đang nhớ đến những trái xoài xanh ngày nào, hay nghĩ đến hàng triệu mái đầu xanh vô tội lùa vào một tṛ chơi thắng-bại tai ác ở cả hai bên? Cái chết của trẻ thơ, dù ở đâu, dù bất cứ lư do ǵ, đều là tội ác của người lớn, của tất cả người lớn ở mọi phe phái!!

Cô chẳng giảng một lời, cô chỉ nấc lên và thút thít trong nước mắt, như biết bao đau khổ, oan nghiệt nén xuống, nay có dịp vỡ ̣a ra… Những ngày tháng ấy, thật là hiếm hoi có một bài giảng văn bằng nước mắt trong lớp học…

Rồi sự việc cũng đến tai Ban Giám Hiệu, rồi cũng đến tai trưởng bộ môn Văn của Sở Giáo dục. Trong cuộc họp bộ môn Văn, khối trường trung học thành phố tại ngôi trường nữ cô dạy ngày xưa, cô giáo lưu dung ngồi yên một góc, cố thu ḿnh nhỏ hơn, nhỏ hơn nữa, trước cái nh́n xăm xoi của các anh chị sống trong “mặt trời chân lư”. Anh trưởng bộ môn, giọng Huế nhỏ nhẹ nói: “…Chúng tôi không quên trước kia, ngày ấy cô đă gào lên: “Ôi! Những quả xoài xanh…!” rồi cả ngàn học sinh thút thít khóc trước các luận điệu… trước sự đóng kịch tài t́nh của cô… mục đích là chi rứa?  Cô gây căm thù, cô làm cho nhân dân nghĩ sai về… Cô nghĩ sao bây giờ, khi cô được lưu-dung mà c̣n vờ vĩnh rỏ nước mắt giả dối trong lớp học…?” 

Cô giáo đứng yên đó, mắt thẩn thờ nh́n hoang dại ra khung cửa sổ, ra sân chơi quen thuộc của ngôi trường cô đă gắn bó mươi mấy năm trước ngày băo tố, ngoài ấy có hàng liễu rủ bông đỏ rún rẩy trong gió đông tê tái lạnh. Tay cô mân mê cuốn sổ lương thực mà mới khi sáng cô lên pḥng đời sống được kư cho mua thêm mấy lạng bột ngọt và nửa cân đường… Cô mung lung nghĩ đến các con, nghĩ đến dàn su su, chiều nay sẽ hái vài trái um với chao cho chồng con ăn.

Lại cái giọng Huế mượt mà như nhung và cay như ớt, hĩm ấy tiếp tục đay nghiến:

- “ nọi răng lạ rứa! - Mô phải cái chết mô cũng như cái chết mô! Đâu phải dạy văn chương là chỉ truyền cảm xúc, ảnh tượng của văn thơ cho học sinh là đủ?... Cô nhợ cô là giáo viên lưu dung! Cô phải hiểu, dạy văn là phải có tính giai cấp, tính quần chúng, tính chiến đấu cho lớp trẻ biết căm thù, biết đâu là ta, là địch! Bọn trẻ bị sát hại, bị mất mạng là v́ ai? Đạt được điều ǵ?. Đọ đọ, đâu phại chị rủ ra mờ khọc ủy mị như kiểu nhựng trại xoài xanh ngày trước kia nạ…”

giáo vẫn đứng yên như một tượng đồng hoen rỉ, mắt vô hồn nh́n xa xa… Cô không nghe ǵ hết, không thấy ǵ hết… Cô nh́n xuống nhà trú mưa của hoc sinh trường, nhớ bài nói chuyện của cô lúc mới về trường: “Tuổi trẻ và t́nh yêu”, cô thoáng như thấy cả ngàn tà áo xanh rờm rợp, lung linh vào ra trên sân trường ngày nào… Cô lẩm bẩm như trong mơ:

- Mới đó mà đă hơn mười lăm năm rồi!  Mười lăm năm xót xa trong cuộc đời Kiều nhi!

-  Xin cô phạt biệu lớn lên!  Anh tổ trưởng bộ môn dằn giọng.

Mọi người quay xuống nh́n. Cô lặng lẽ ngồi xuống và xếp cuốn sổ vào giỏ, lặng lẻ chẳng chào ai, chậm bước ra khỏi pḥng, tay cầm chặt cuốn sổ lương thực, như đang đi trong giấc mộng du… mặc cho cả pḥng họp ngỡ ngàng. 

Rồi tôi nghe  người ta kể lại, cô “bị” cho nghỉ dạy văn, cô “được” cho dạy toán lớp 6, cô phải nhờ chồng dạy cho cô môn toán hàng đêm để sáng mai lên lớp.  

Rồi cô giáo phải xin nghỉ dạy học và cùng gia đ́nh rời xa nơi thành phố cô rất đổi yêu thương, và nơi đó đă một thời thật đáng nhớ.

                            

 

 

oOo

 

XEM PHẦN 06

 

 

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Quang Tuyến

Nguyên Giảng viên Khoa Tâm lư chiến
Trường Vơ bị Quốc gia VNCH Đà Lạt

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com