www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

 

KHÍ-HUYẾT

 Khí Nạp Tam-tiêu, Huyết Quy Bào-Lạc

 


 

 (Đọc Bài số 4)

 

Về Bệnh cuả Thốn-Quan-Xích:

Thốn-mạch:

Hồng (no đầy, trường-kết, cách nhiệt muộn). Phù (ngực hư-nhược, bắp thịt hư-khách nhiệt). Hoạt (vi-nhiệt, vi-lănh; dâm-trọc ẩm-thực-hoá). Thực (tâm-khí ải-thống thụ-tà; đau bụng). Huyền (tỳ-thống, vi lănh; tâm-thống, lao sấu cực nhiệt). Vi (tâm-khí thụ tà; tạng bế bất thông; thận hư). Trầm (nghịch-lănh tứ chi, hoàng-sấu, tất xấu. xương nhiệt). Hoăn (phong sấu, hạ hư-bại, hạng-bối câu cấp câu cấp-đống). Sáp (khí hư, huyết tán, vị bất hoà). Phục (trung trung tích lănh, khí bế bất thông, thận hư).

Quan-mạch:

Hồng (tích-tà khẩu diên, tà-khí thực, vị đ́nh-thực). Phù (hạ hư nhĩ thanh; thận phong đ́nh bế, vị dạng). Hoạt (tích lănh-khí, tiện sáp, yêu đỗ-đống). Thực (tiểu-tiện bất-cấm, phúc trướng, mộng tiết). Huyền (tiểu-phúc đống, khí sáp, cước khí, thận phong dạng). Vi (tâm-phúc trướng, măn khí, kết đống-thống, hư-khiếp). Trầm (tâm-khí đống-thống, bế-tắc bất thông, tỳ hư). Hoăn (vị lănh thổ nghịch đa, tâm-phúc can đống). Sáp (huyết lâm, huyệt bại, huyết phu can, phát hoàng). Phục (chứng phích khí lănh, huyết tích mục hôn).                                

Xích-mạch:

Hồng (tiểu cước nhiệt sáp, cước đống thận hư).Phù (cân-cốt minh-nhiệt, cánh huyết đầu thống). Hoạt (phong ung thiệt cường, tâm nhiệt, ẩu-thổ vị nghịch). Thực (phong nhiệt, diện xích, hung cách bất-lợi, đầu táo). Huyền (huyết cước ủng, đầu thống, mục sáp, thổ, cân cấp). Vi (phúc trung tích lănh tiết, lao-khí, mồ-hôi trộm). Trầm (khí trệ, yêu thống, hư nhiệt tích tử). Hoăn (thận lănh hư hăn, lănh mộng tiết). Sáp (tứ-chi nghịch-lănh, tề hạ phù-tiết tả thống). Phục (thực bất hạ, phúc thống, thủ túc thống, hạ tiết) 

Ngũ-hành Mạch-quyết:

Ngũ-hành đại-để yếu tương-sinh,

Biểu-lư mạch-h́nh tu yếu tinh.

Yếu thủ thu-đông tịmh xuân-hạ,

Tự nhiên chỉ hạ kiến phân-minh.

 

Ngũ-hành là thủy, hoả, mộc, kim, thổ. Phép chẩn-mạch hạ-chỉ, thiết-yếu tinh-chuyên, thiếu thời ngưng tâm định chí, rồi sau mới chẩn. Biện-nhận tứ-quư ngũ-hành vượng tướng, âm-dương nghịch-thuận. Thất-biểu bát-lư, hư-thực khinh-trọng, tương-khắc tương-sinh. Chỉ-thượng thuận thấy có tai-cữu, tật-bệnh, nếu được mạch vượng tướng, ắt có việc vui mừng. Muà xuân can-mạch huyễn mà khẩn, muà hè tâm-mạch hồng-đại, muà thu phổi rít mà vi, muà đông thận-mạch trầm mà hoạt. Ấy là mạch tứ-quư vượng-tướng. Tỳ-mạch, tứ-quư-mạch thấy khoan mà tế, lấy đó làm vượng-tướng-mạch vậy. 

Định tâm-mạch kiến quan-phẩm:

Tâm mạch phân-minh khẩ tú hồng,

Thử nhân tất định thị tam-công.

Chuyên tầm tam-án câu vô-tuyệt,

Đáo lăo tu tŕ quốc bính hùng.

 

Phàm tâm-mạchkhẩn-tú mà hồng-đại, tất là mgười chí-quư, ngôi tam-công. Lại nên tường-thẩm chỉ-án, điều điều bất-tuyệt. Nếu người nào có mạch đó, người đó đến lăo ắt là tướng tướng. Nếu xuân-hạ được hồng-mạch khẩn-tế là tốt. Thu-đông là tai-hoạ. 

Định tâm-bộ kiến hỉ:

Đương xuân tâm-mạch yếu hồng-huyền.

Khán thủ thanh-minh tiết-hậu biên.

Tu kiến thiên-trừ tịnh hỉ-sự,

Mạch vi khoan-hoăn nhất sinh hiền.

Tâm-mạch hồng-tú huyền-khẩn, đó là mạch đắc-thời, chủ có chuyện vui-mừng. Xuân gặp nó mẹ con vượng mà tương-sinh. Đến tháng tư, tháng sáu gặp hỉ-sự. Nếu khoan mà phù, chủ người hiền-triết, tự-nhiên vô-tai.Lần lượt có thiệu-tổ-tông tử-tôn. 

Định tâm-mạch chủ kinh-ưu:

Hốt nhiên vô-mạch thiểu tinh-thần,

Tụ hữu kinh-hoàng ưu-khủng tâm.

Thiên-tính trầm-ngâm đa độc-hại,

Cánh gia tâm-phúc tự kinh lâm. 

Tâm là chủ cuả ngũ-tạng. Bên trong phù mà lớn, là mạch vượng tướng. Bỗng-nhiên, vô-mạch là trong ḷng có kinh-nghi. Nên thấy tinh-thần hoảng-hốt. Trầm-tế là mạch bất-thuận, chủ trong ḷng có chuyện bất-minh. Kiêm tâm-phúc có độc-hại, như gai góc trong kinh-lâm, chủ có việc kiinh-ưu. 

Định can đảm gặp chức-nhiệm sang hèn:

Yếu tri chức-ư đảm trung khan,

Huyền-hoăn phân-minh tận tại can.

Can-mạch huyền-trường chung thị quư,

Bất vi khanh-tướng tức lang-quan.

 Can-đảm thực-đại thiểu thanh-thinh,

Tế-khẩn vi nhân định thị kinh.

Nhược cánh phù-cao đa đoản-sáp,

Trầm trầm tất định bất phân-minh.

Can  chi mạch thường thị huyền-trường, thửa mạch tùy can suy-vượng. Thửa mạch Xuân nên huyền mà khoan-trường, tịnh-tử quư trung-huyền, bèn là mạch quan-quư. 

Định tỳ-mạch kiến quan-phẩm:

Tỳ-mạch khoan-hoăn hảo t́nh-hoài,

Tràng chỉ tâm-điền bất khả sai.

Đại-tiểu phù-trầm câu tu hoăn,

Vị cao quan hiển kiến hoằng-tài. 

Tỳ là thổ trung-cung, mỗi tứ-quư vượng 18 ngày. Thửa mạch khoan-hoăn. Bèn là tỳ thổ vượng-tướng. Chủ có việc hỷ-khánh. Nếu lại chàng chỉ tâm trung, có việc bất-khả sai. Đại-tiểu phù-hoăn, ấy là thể đặc thời vượng tướng. Người ấy ắt chủ đại-tài trí-tuệ. Hợp là quan cực-phẩm. 

Định phế-mạch làm quan, đi thi đậu:

Tam-thai hoa-cái yếu tu phù,

Chỉ bất hư-phù sự bất hư.

Nhược canh tái tám vô thực-đại,

Văn-chương cao chiết nhất chi quy. 

Định thận-mạch kiến quan-phẩm thọ-số:

Như đắc thử nhân trấm thả trường,

Lai thời trầm-hoạt bất tu ngang.

Phi duy hữu thọ kiêm tài-trí,

Tá quốc trung-thần bất tỷ thường. 

          Phàm xem thận-mạch nên trấm-hoạt thả trường, nếu được mạch ấy, bèn là mạch vượng tướng. Người được mạch này có tuổi thọ, nhiều tài-trí, nên làm tá-quốc trung-thần. Mạch cao-ngang bèn là người hạ-đẳng. Muà đó có tai-hoạ. 

Định mạch gặp di-quan:

 

Nguyên-khí hốt nhiên động hoạt th́,

Vi quan tất định hỷ lai di.

Canh tu tâm-mạch khoan-hồng ứng,

Dụng-ư sảo đ́nh tử-tế suy. 

          Khí nguyên-tạng là gốc cuả chân-nguyên. Thửa mạch thường nên trầm mà hoạt. Thêm vào vi-sáp là có tin vui. Nếu tựa nước sông, ắt là gặp tai-hoạ tứ-quư bất-trắc. 

Định thận-mạch kiến hỷ: 

 

Tả-hữu tu minh lưỡng xích đương,

Phúc-thần giai hỉ cánh vô song.

Tế-quan hồng-khẩn tâm lưu-lợi,

Khắc nhật tu tŕ tấn  lục-hương.

         Ôi! Thận là bắc-phương thủy. Lắng đấy ắt trí-huệ sinh mà biết hỉ. Ở công là mạch thấy nơi thốn-khẩu. Ở tư là mạch thấy nơi lưỡng-xích. Thốn-mạch hồng mà khẩn ắt là trong ṿng một tháng quư-nhân kiến hỉ. Mạch hư-bại là có tai-nạn bất-trắc. 

Định thận-mạch kiến tiên tấn-thoái:

 

Phục vi tiên khan lộc-vị lai,

Phân-minh lưu-lợi bật thiên-tài.

Trầm trầm thốn-khẩu tri quân thoái,

Hoán di nhập thư văn-chính đài. 

          Phàm xem đường quan-lộc, trước nhất xem có ngôi tiến-thoái không? Như thốn-khẩu mạch hồng mà huyễn, đại mà tán là bất-nhiệm sĩ-mạch. Tại quan thoái-vị, tại tư hữu tai. Nếu hồng mà hoàn, thốn-khẩu cũng chủ thoái-vị. Như mạch phân-minh lưu-lợi, hồng hoạt mà huyễn, như có một điểm minh-châu tại bồn, văng lai chàng là chỉ người đó định nhâp-vị công-đài. 

Định mạch tiện phúc-đức: 

 

Mạch kiến phân-minh tự thập châu,

Thốn-quan-xích bộ diệc thường thù.

Câu kim lưu-lợi tri vi phúc,

Kỳ khí phân-minh tử-tế suy.

  Ôi! Con người phúc-đức, mạch nũ-tạng đều nên lưu-lợi phân-minh. Không thấp, không ngang. Phàm được từ 50 đến bất-tức cùng là vô-chỉ-hoán. Đó là người có phúc. Tả-hữu quan với xích, phân-minh tương-ứng nơi tâm-bộ, là thượng-đẳng phúc-nhân. Nếu thấy trong quan-mạch hồng-nhuận là thứ-đẳng.Ngoài ra đều là thường-lưu vậy. 

Định mạch kiến tôn-trọng:

 

Tức-số triều lai bất cải thường,

Nhất sinh trầm-trọng vị cao-cường.

Chẩn nhi cử-động thường thù-phục,

Tự hữu hồng-danh măn thế hương.

   Phàm mạch tôn-trọng, thăy trầm mà ổn bất-loạn, phân-minh không trệ-nhu, tức thị là mạch tôn-trọng. Lại nên thẩm-khán lục-bộ tự-hoà tương-ứng. Thửa mạch an-nhiên như châu tại nước. Người đó tôn-trọng kiêm có thanh-danh. Biểu xuất-nhập vậy.

Định mạch thấy trước giầu sau nghèo: 

 

Hồng-đại khoan-điều thị phú nhi,

Nhược cầu quan-chức mạn phi nghi.

Hốt nhiên tại khởi ư tâm-bộ,

Phú-quư tu bần thực khả kỳ.

          Tâm mạch vốn nên hồng đại. Biết điều đó th́ nếu trước tiên thực-hoăn, tất định gia-quan hữu tài. Tâm-mạch tai khởi, chủ trước giầu sau nghèo. 

Định-mệnh kiến trí-huệ:

 

Chủ trí khan lai thị thủy hương,

Hoằng-thốn đại-lược hữu văn-chương.

Nhị-nghi xích-thốn lai tương-ứng,

Tŕ-hoăn đô đê nhất lệ tường.

Luận ngũ-tạng trọng-trọc khinh-thanh:

 

          Can bô khinh-thanh quư lộc vinh,

          Thường thường chi mạo túc nhân-t́nh.

          Số phùng đại-ứng hưởng thông-thái,

          Cung cẩn vưu như tự tự minh.

Tâm-bộ khinh thanh ứng tại thần,

Thông-minh tu tác miếu-đường nhân.

Vượng khan giáp-tư vô lưu-trệ,

Nhị-thập niên lai quư-hiển thân.

          Phế-bộ khinh-thanh hiẻn nghiă-tài,

          B́-phu nhuận-hoạt thiện khôi-giai.

          Khan khan vô-trở danh sơ-hiển,

          Sĩ-lộ công-danh đạo ngọc-giai.

Thận-bộ khinh-thanh tri xảo đa,

Thông-minh tiếp-vật dữ nhân hoà.

Thinh thanh điều-sướng vô ngưng-trệ,

Nhất-lục tương-phùng qúy nại hà?

                   Tỳ-bộ khinh-thanh trường viễn lự,

                   Tín-thành vô-siểm mạo đường đường.

                   Chỉ khan ngũ-số tương thành-tựu,

                   Phú-quư thanh-danh định viễn-dương.

Can  gia tính trọng-trọc hà như?

Lang-bái vô-t́nh chủ hạ ngu.

Bất thị kỳ trung vô quư-tướng,

Nại duyên tinh-hoạt thậm thô nhi.

Thâm gia trọng-trọc tái vô-t́nh,

Chủ chi đa ngu phân tai kinh.

Thử bộ hựu vô-t́nh nhất điểm,

B́nh-sinh na đắc kiến thân vinh.

          Tỳ-gia trọng-trọc chủ phong cuồng,

          Vô-tín khi nhân mệnh bất trường.

          Túng sử tại tâm-thanh ứng chỉ,

          Dă ưng trung-phú bất năng lương. 
 

Luận tâm-mạch:

 

Nam-phương câu-mạch yếu suy tường,

Thảng nhược phù-hồng thỉ bản hương.

Hồng-đại siêu-siêucâu thả nhuận,

Thử nhân tất thị ngũ-tinh lang.

                   Tâm bộ mạch lai hồng-đại-trường,

                   Nhất sinh lao-dịch phí tâm-trường.

                   Nhược thị câu hồng tịnh tú-nhuận,

                   Dung-nghi lễ-mạo dữ văn-chương.

Chỉ hạ phù-hồng cập tiểu-tŕ,

Nhất sinh tŕ-kiển bất tu nghi.

Cánh thẩm phù-cao dữ trầm-tế,

Yêu-cầu quan-chức định tương-tŕ.
 

Luận phế-mạch:

 

Luận phế thường tu tử-tế suy,

Nhược phùng hồng-đại định tai-nguy.

Cánh khan bản-bộ câu phù-hoăn,

Định thị hào-gia phú-quư nhi.

                   Thử mạch lai thời yếu sáp-nhu,

                   Nhược đương xuân đáo phúc lai quy.

                   Hốt-nhiên tự-tại thu-đông đắc,

                   Bách phúc lai lâm khánh hữu dư.

Phế gia tinh-vị chủ tây-phương,

Chỉ hạ phù-hồng định bổng trường.

Vi sự b́nh-sinh đa mănh-tháo,

Tâm-t́nh túc-định thị tài-lang. 

Luận can mạch:

 

Đông-phương can mạch ngẫu trầm-hồng,

Tu tại hư-kinh phi thị hung.

Nhược vô vi-tiểu trầm kiêm tế,

Lự thế đôn tri tối phú-phong.

                   Yếu tri bản vị tại quan khan,

                   Huyễn-hoăn phân-minh thị tạng-can.

                   Chẩn đắc huyễn-trường chung tất khan,

                   Tế-trầm định thị chủ cô-hàn.

Tuế-tinh mộc-vị quyết-âm kinh,

Huyễn nhi câu đại thị trú danh.

Nhược thị trầm-hồng câu-đoản ư,

Nhất sinh dũng-tháo lăo vô-thành.
 

Luận tỳ-mạch:

 

Trung-ương chi mạch mạch hiệu vi tỳ,

Biện thủ khinh-phù cập hoăn-tŕ.

Nhược bất hoăn-trường phù-cảnh-đại,

Bản nhân thực-lộc đại-khôi-ph́.

                   Chỉ hạ phục vi sự khả sai,

                   Nhất sinh bần-bệnh nhược vô-nhai.

                   Câu lai chỉ hạ khinh-thanh kiến,

                   Vi quan cực-phẩm tá hoàng-gia.

Chỉ hạ khinh-phù phục đoản-trầm,

Sinh lai san (keo-kiệt) súc cập do kim (kim).

Hốt-nhiên tiểu-sáp tŕ-trầm-tế,

Định thị tà-nịnh dữ tham-dâm.

Luận  lưỡng-xích bô mạch:

 

Lưỡng-mạch bản-bộ kư xích trung,

Chẩn thời tu yếu định tai hung.

Hốt-nhiên phù-giả âm-lao khách,

Xuân-hạ kiến chi tu mệnh chung.

                   Tả-hữu xích-mạch lai trầm-hoạt,

                   Chỉ hạ lai kiêm nhuận đới thâm.

                   Thử thị thế-gian trường-thọ mạch,

                   Nhân túc đa thụ túc tư kim (câm).

Lai thời trầm sáp khứ thời vi,

Thử chủ b́nh-sinh tật bệnh câu.

Cánh nhược trầm trung gia động-súc,

Kỳ nhân nan thụ tứ tuần dư.

                   Xích-mạch tu đuơng tử-tế tầm,

                   Xích trung tam-động hốt-nhiên trầm.

                   Thử danh thê dựng hà đương vấn,

                   Diệu-quyết tu tri bất hoán kim (câm).

Xích trung ẩn-ẩn mạch kiêm trường,

Phúc thọ vinh-hoa an khả đuơng.

Mạc giao thốn khẩu quan tương tịnh,

Bất tướng-tướng định hầu-vương. 

Định giáp-ất tai-phúc can-mạch thuộc mộc:

 

Giáp-ất lai du động canh huyền,

Vi nhân tôn-trọng hữu uy-quyền.

Nhược hoàn tam-án câu vô-đoạn,

Tam-phẩm cao-quan nhất thế hiền.

                   Giáp-ất thái quá tế tầm chi,

Tiên phao  (vứt đi) đầu-tử dữ tiền thê.

Khước hữu văn-chương đa học-nghệ,

Trung-niên phá-bại tẩu đông-tây.

Giáp-ất như mao mệnh bất trường,

Động hoạt lai thời sự khả thương.

Phá-bại tranh-tụng đa ưu-hiểm,

Cập đáo trung-niên tại ngoại-hương.

                   Giáp-ất phân-minh chỉ hạ tŕ,

                   Thiếu-niên đa-bệnh tối nan y.

                   Như phùng cử-án sơ vô-lực,

                   Phá-tán phân-ly định khả tri.

Giáp-ất toàn-nhiên chỉ hạ trầm,

Tầm trung thắc-thắc kiến tai lâm.

Nhượ hoàn hoả-khí lai tương-ứng,

Tỳ tẩu, noa đào bất khả tầm.

Luận bính-đinh tai-phúc tâm-mạch thuộc hoả:

 

Bính-đinh hồng-huyền định thị khoan,

Định tri vũ-chức tác văn-quan.

Nhược thị thứ-nhân lai tương-ứng,

Tất-nhiên tai-cữu tại tại lao-gian.

                   Bính-đinh trầm-hoạt tối tri ưu,

                   Quan-sự thường thường bất giải-hưu.

                   Phụ-mẫu tu pḥng tàn-bệnh tử,

                   Tha niên tất định tẩu tha châu.

Bính-đinh trầm lai động tế-vi,

Thử nhân ứng thị thiểu than-nhi.

Duy độ trầm-ngâm đa độc-hại,

Cầu tài thuờng kiến quỷ-thần tùy.

                   Bính-đinh nhu-hoạt cánh vi tŕ,

                   Đắc bệnh kinh-niên mạc oán suy.

                   Nhược dă thị mao chung thị tử,

                   Thần-tiên thiên-vạn mạc năng y.

Bính-đinh huyền-trường chỉ hạ lai,

Sinh-bính phú-quư hữu văn-tài.

Nhược hoàn chàng chỉ lai tương-ứng,

Trưởng-tử ưng tri thị đống-tài. 

Luận mậu-kỷ tai-phúc tỳ-mạch thuộc thổ:

 

Mậu-kỷ tài quá tế tầm chi,

Thiếu-niên viễn-lộ tẩu đông-tây.

Cửu-lưu chi nội pho hào-phú,

Định thị thường-nhân hữu lưỡng-thê.

                   Mậu-kỷ bất-cập động lai từ,

                   Định thị ly gia đáo xứ cư.

                   Nhược thị huyền-nhi tâm hữu bệnh,

                   B́nh-sinh vô-nghiệp tại thi-thư.

Mậu-kỷ khâu (tên một mạch) thời cánh thị phù,

Ngữ-ngôn vô-vị cánh thô-sơ.

Thiết cốt động lai thời ứng chỉ,

Tùng sinh chí tử tác nô-phu.

                   Mậu-kỷ hoăn-sáp chỉ hạ khoan,

                   Đại-tiểu phi đồng tử-tế khan.

                   Vi nhân tâm hạ đa thuật-nghệ,

                   Văn-chương tu hữu bất vi quan.

Mậu-kỷ lai thực 實 cánh phù cao,

Thiên-nhiên hung-ác thị cường-hào.

Nhược kiến phục thời tu phó-kiếp,

Hốt-nhiên tranh cạnh tự thân chiêu.

                   Mậu-kỷ chi lai nhất hướng trầm,

                   Nhược hoàn tŕ-hoănthị tai lâm.

                   Bất-luận lăo-thiếu giai ưu-mệnh,

                   Án chi vô-lực tử thuân (rụt lại) tuần. 

Luận canh-tân tai-phúc phế-mạch thuộc kim:

 

Canh-tân động hoạt lưỡng đầu hư,

Lai bất khinh-phùxích hoàn tư.

Tái-tam cử-án đô vô-lự,

Định thi lao-niên dĩ phá đồ.

                   Canh-tân chi bộ kiến huyền-trường,

                   Thiếu-tử chi thân tại ngoại-hương.

                   Túng-nhiên bất xuất tha châu khứ,

                   Dă dụng ly gia bối phụ-nương.

Canh-tân thường phạ hoăn canh huyền,

Phi luận đa-bệnh cập đa diên.

Hồng-khẩn lai thời tu bệnh thiểu,

Định kỳ hoả nhật đáo hoàng-tuyền.

                   Canh-tân  hốt nhiên hoạt thực lai,

                   Nhất sinh cương-liệt hữu văn-tài.

                   Như phùng chàng chỉ lai tương-ứng,

                   Tu chiết nguyệt biên châu-quế hồi.

Canh-tân hốt kiến đắc vi-trầm,

Vi nhân  thất-tín chỉ tham dâm.

Mạc quái nhân tiền đa ngữ-tiếu,

Năng tương thiện-khẩu thủ nhân tâm. 

Luận nhâm-quư tai-phúc thận mạch thuộc thuỷ:

 

Nhâm-quư điều-điều (xa xôi) chỉ hạ khoan,

Nhăn tiền kiến nhiệm thị lang-quan.

Chỉ sầu đoản-số lai vô-vị,

Định tri tu thị bách-niên hoan.

                   Nhâm-quư huyền-trường động cánh nhu,

                   Vi nhân tú-khí túc phong-lưu.

                   Khước hữu văn-chương đa đạo-thuật,

                   Nại hà tu học bất thành hưu.

Nhâm-quư như tŕ thái-quá th́,

Tài đáo chung niên bệnh mạc nghi.

Nhược kiến tế-trầm đa xảo-tính,

Thường-lưu hà thị hữu tam thê.

                   Mhâm-quư chi mạch phạ phục-trầm,

                   Động-sáp lai thời bệnh dĩ thâm.

                   Nhược kiến hoăn thời công-sự phát,

                   Phù lai thứ-đệ lục tương lâm.

Nhâm-quư trầm lai hựu tự thuỷ,

Cử thủ án chi đa bất-túc.

Hà tu măi quái vấn lương-y,

Tu-du phạ kiến toàn-gia khốc. 

Định ngũ-hành kiến hỉ:

 

Mộc trung nhược kiến hoả lai th́,

Vi sự hoan-hân tất khả tri.

Cư quan chuyển chức nhưng gia lộc,

Cầu vọng hanh-thông bất dụng nghi.

                   Hoả mạch chi trung kiến thổ lai,

                   Kỳ nhân hỉ-khánh túc văn-tài.

                   Cánh gia hồng-hoạt thời thời ứng,

                   Xuất-ngoại cầu tài tất định hồi.

Thổ-vận phùng kim khí thị khoan,

Lạc-nhiên vô chiếu dă gia quan.

Mạch trung nhược kiến phùng phù-hoạt,

Tài cẩm từ-từ tận tự khoan.

                   Kim-mạch đuơng thu động thanh th́,

                   Quan hiền tất định hỉ thiên-di.

                   Tế khan nhuộc kiến huyền-trường giả,

                   Gia-đạo hưng-long hỉ khả tri.

Thận-mạch ư trung huyền thả trường,

Nhất thân vinh-quư thọ cao-cường.

Hốt-nhiên hoăn-hoăn lai tương-ứng,

Cầu tài hà dụng tác kinh-thương.

 

Định âm-dương tai phúc:

 

Cửu-thời huyền-diệu tự-nhiên thông,

Tâm mạch thuần dương chủ hữu danh.

Thuần âm nhất thế bất thông-minh.

Dương trung kiến âm quan đa thất,

Âm nội dưong sinh thị quư-nhân.

Phế-mạch thuần dương nhập trạch vượng,

Thuần-âm tất định thị bần-nhân.

Âm trung kiến dương bần diệc phú.

Dương trung kiến âm thương nhi-nữ.

Âm nội sinh dương vượng ngoại-nhân.

                   Tỳ-mạch thuần dương cầu sự khoái,

                   Thuần-âm vi sự diệc nan thông.

                   Âm trung kiến dương vô-tam-đắc,

                   Dương nội sinh âm đắc diệc không.

Thận-mạch thuần dương thê vi chính,

Thuần-âm bất-dụng nhiệm môi-nhân.

Âm trung kiến dương nhân thê phú,

Dương nội sinh âm hữu ngoại-t́nh.

                   Mệnh-mạch thuần dương nô-bộc hảo,

                   Thuần âm nhất cá dă nan lưu.

Âm trung kiến dương nhân tha phú,

Âm nội sinh dương kiến vật thâu.

Tâm-mạch thuần dương phú-quư toàn,

Thuần-âm bần-tiện bất kham ngôn.

Âm trung kiến dương chung than phú,

Dương nội sinh âm hoạ văn-niên.

                   Dương tại can-tỳ lạc nhất sinh,

                   Thuần-âm vô-sự dă tương-tranh.

                   Âm trung kiến dương nhưng thọ-mệnh,

                    Dương nội sinh âm thọ bất đ́nh.

Lưỡng thận thuần âm thị tiểu-nhân,

Thuần dương tất định hữu quan-thân.

Âm trung kiến dương vi nhân thiện,

Dương nội sinh âm định thị quân.

                   Lục-mạch thuần-âm vô tạo-hoá,

                   Tầm-thường cầu sự tối nan thông.

                   Quân-tử đắc chi do tự khả,

                   Tiểu-nhân đắc chi định tao hung.

Lục-mạch thuần-dương định tĩnh-th́,

Nhất sinh phú-túc thiểu nhân tri.

Nhược hoàn âm-mạch vi-vi động,

Bất thị sinh tai tất tử-kỳ.

          Ở trên cùng là mười bài thơ luận âm-dương định tai-phúc. Lấy thuần-âm là hung, thuần-dương là cát. Hai bài thơ dưới cùng lại nói thuần dương hung, thuần-âm cát. Trước sau tuy không hợp nhau, nhưng mà nghiệm nhân cát hung đều ứng. Bởi chưng ư tiên-hiền, sợ người sau thiên lệch, nên  làm hai thứ đó, phản-phục hỗ-thuyết, chính-yếu là người xem hiểu ư. 

Luận  bốn muà tương-phản:

Xuân lai thổ vượng mạch kư quan,

Tối yếu huyền-trường chỉ hạ khoan.

Nhược phùng vi-sáp lai tương-khắc,

Vi tai xuân hậu khước nan an.

                   Sơ kiến dụng chỉ bất  tu thâm,

                   Mạch kiến phù-hồng thị bản tâm.

Thận kiến nhược yêu lai tương-khắc,

Nhân liệu vô-môn tử-tế tầm.

Thu lai vi-tế phế gia cường,

Mạch kiến phù-khâu (tên mạch) nhập tửm hương.

Quan nội đắc chi tu hoăn-hoăn,

Canh thu huyền-khẩn thất gia-hương.

                   Tam đông thận mạch yếu tiềm-tàng,

                   Chỉ hạ thâm-thâm hoạt bất mang.

                   N hược bỉ tỳ gia xâm-đoạt vị,

                   Cánh nghi tử-tế định tai-ương.

Xuân-mạch vi-sáp, hạ vi trầm,

Thử mạch hoàn đương bất xứng tâm.

Tai chí vi duyên nhân thử tật,

Diệc tri lễ-lư thống-sướng ngâm.

                   Thu đắc phù-hồng, đông hoăn vi,

                   Hoàn đồng tiền-sự đắc vô-nghi.

                   Đại-để tai thời lai đoản-súc,

                   Phúc lai tam-bộ nhuận vật tề. 

Tạp-đoán:

 

Tam-bộ quân-quân 勻勻 tổng nhất đồng,

Thử danh hào-phú thế như hùng.

Lưỡng quan sáp-đại thượng triều thốn,

Ưng thị cao-quan, kim-tử phong.

                   Đại-thể tam-quan đoản phục trường,

                   Lai thời hoặc khẩn, khứ thời cường.

B́nh-sinh ngữ-cấp tịnh thân nhược,

Bần khốn hà đa thị hiển-quang. 

Luận tuế-quân can-mạch:

 

Giáp-ất đông-phương hiệu tuế-quân,

Mạch lai trường-hoăn nhiệm huyền-quân .

Tâm-thần nghi-mạo đa tài-nghệ,

Tam-phẩm quan viên dĩ thượng nhân. 

Luận hoả-tinh tâm-mạch:

 

Hoả-tinh vi chủ tại nam-phương,

Môn án phù-trầm tế-nhuận trường.

Đa thị dương pḥng nhân tháo-cấp,

Quan cao nhị-phẩm giáo ỷ quang. 

Luận nguyệt-bột mệnh-mạch:

 

Nguyệt-bột yếu tại mệnh-môn hương,

Phu hạ như châu động bất mang.

Vi tính đa gian nhân-tử ố,

B́nh-sinh nhật-nhật luyến hoa-nương. 

Luận thái-bạch phế-mạch:

 

Thái-bạch kim-tinh vị chính tây,

Kỳ lai phù-sáp bất tu nghi.

Trung-gian tú-nhuận tương hoà-thuận,

Lợi ngục binh-quyền tận hữu quy. 

Luận tây-đế tỳ-mạch:

 

Tây-cung đế-mạch yếu suy-tường,

Chỉ hạ đa-đoan khẩn hựu trường.

Hàn ngoại bất vi tướng-quân chủ,

Trung-niên tất định tá quân-vương. 

Luận thần-tinh thận-mạch:

 

Bắc-phương khảm thuộc thần-tinh vị,

Mạch-thể triê-triêu tự ân đầu.

Thập vạn binh-quyền vi thượng-tướng,

Danh tiêu thanh-sử định phong-thần. 

Luận la-hầu thận-mạch:

 

La-hầu thê-nhi thận trung tầm,

Trước cốt phương lai thận đại-trầm.

Nhăn đại xích-hoàng hoan phụ đính,

Đa-mưu túc-trí đới yêu kim (câm). 

Định mạch kiến tăng-đạo hỉ:

 

Mạch kiến phân-minh thủy nhập châu,

Tự-nhiên thanh-tĩnh khí sinh tô.

Cánh khan lục-bộ quân hoà-động,

Phúc ấm hương lư (cổng làng) dữ chúng thù. 

Xem mạch tăng-đạo phân-minh như châu vào nước, tự-nhiên thanh-tịnh. Như được mạch ấy là mạch b́nh-hoà, được thửa tương-ứng đều kịp thời, nhưng người ấy có tử-y sư-hiệu. Chàng chỉ lại sáp-đới, chỉ là tăng-đạo tầm-thương mà thôi. 

Định đàn-bà ció mang:

 

Phụ dựng trầm-phù hoạt cánh hồng,

Tu tri tả-hữu định thư-hùng.

Hốt-nhiên an-tĩnh thiên sinh quư,

Vị đáo trung-niên nhập đế-cung. 

Mạch dựng-phụ được trầm mà hồng, trầm mà hoạt, là khí b́nh-hoà. Âm-dương tả-hữu thốn-khẩu là tả nam, hữu nữ. Nếu chưa an-tĩnh, mạch hồn-nhiên bất-động, người ấy sinh ra chuỉ quư. 

Định sản xa gần:

 

Nhị-bộ phù-hồng hạ-nguyệt sinh,

Nhược phùng huyền-đại tại thanh-minh.

Mạch lai trầm-hoạt đông-gian kiến,

Phù-hoạt tu tri vượng chủ canh.

 

Yếu tri sản-hậu bất nan tri,

Tứ-quư tỳ trung tử-tế suy.

Phù nhi hoạt giả tri sản cận,

Tŕ nhi hoạt giả sản ưng tŕ. 

Định sản quyết:
 

Yếu tri thai động tỳ-mạch quan,

Mạch khẩn như huyền tử-tế khan.

Thai nội anh-nhi ưng chuyển-động,

Khước linh dựng-mẫu bất năng an.

 

Ưng tri dựng-phụ tế suy khan,

Hồng-đại thông-huyền hữ-hữu vong.

Hữu  thủ mạch huyền tri đoán nữ,

Tả-biên hồng-đải thị tri nam.

 

Tuy-nhiên tam-bộ kiến ngư tường,

Tử tại thai trung vị khẳng mang.

Cánh hữu âm-dương tu định thủ,

Đương tri tử-mẫu bất an-khang. 
 

Định thất-nữ kinh-mạch:

 

Thất-nữ như hà mạch bất điều,

Chỉ nhân tư-tưởng tự-nhiên chiêu.

Chí kim thể sấu uỷ hoàng-sắc,

Phù-hồng mạch sấu xích vi điều.

 

Khí thích nguyên-lai huyết tích triền,

Thông-tiêu khí hoán bất hội miên.

Tam-quan mạch khẩn vô hồng-đại,

Vinh-vệ tùng lai bổ vị tuyên.

 

Nhược minh can-tỳ hầu quan trung,

Vệ-khí nhân phong đầu thượng công.

Nữ-tử chỉ nhân tư-tưởng hoạn,

Phụ-nhân đa thị tích kỳ phong. 
 

Luận phụ-nhân kinh hậu đới hạ:

 

Phụ-nhân huyết-khí bất điều-hoà,

Tranh nại âm trung âm cánh đa.

Nhật tiệm tang hư nhân hựu sấu,

Mạch lai dương-hoả lănh thiên-ma.

 

Đới hạ chi thời thiên bổ vi,

Trầm-trầm tế-tế yếu quân tri.

Luận vân huyết-hải đa hư-lănh,

Song tác đan-điền kết tử-tŕ. 
 

Định âm-dương tương-phản:

 

Bát bát nam-nhi khước phản-âm,

Xích trung phù-đại thốn trung trầm.

Nữ-niên thất-thất âm-cung thịnh,

Thử pháp suy chi bất hoán kim (câm). 

Định thiếu-nhân mạch tương-phản:

 

Thiếu-nhân chi mạch cương kiến cương,

Hồng-đại liên-nên tử vị vong.

Chỉ sầu khiếp-nhược tần-tần lập,

Tất định hồn-linh nhập quỷ-hương. 

Phàm mạch thiếu-nhân, thửa lục-bộ nên hồng đại kiến cương, là thuận mạch hữu lực. Có bệnh dễ trị, lâm bệnh khó trị. 

Định tứ chi bệnh-mạch:

 

Tứ chi câu lănh mạch hồng th́,

Bệnh tử tu tri bất dụng nghi.

Vật kiến thiên thân như hoả-nhiệt,

Mạch trường cường lănh đắc sinh hy. 

Thấy thương-hàn tứ-chi đều lạnh, là thửa mạch trầm-tế-thuận. Mạch âm-bệnh hồng-đại tức thị âm-bệnh tương-phản. Mà có hầu ấy khó trị. Thân nó như lửa, đầu đau táo khát, mạch hồng-đại là thuận vậy. Thửa lăo là phục-trầm. Tiểu-giả dương trung kiến âm là khó trị. Cái đó luôn luôn là phản-mạch. 
 

Thái-tố mạch-quyết:

 

Tả thủ tiền-án tâm thiếu-âm,

Ứng đầu than trung mục sảo kinh.

Hậu-án tiểu-trường thái-dương bệnh,

Lưỡng nhĩ hậu ưng thi kỳ thượng,

Chí số chủ nạch tứ chi b́nh.

Lục-thấtr nhiệt-khí thượng-tiêu công,

Nhị-nhất tử-tai nhâm-quư trung.

Quan tả án-can quyết-âm bệnh,

Ứng tại lưỡng nhân truyền-thụ chứng.

Hậu đảm thiếu-duơng lưỡng thgận trung,

Cửu giả ca n-khí hư nhi ứng.

Dục ư nhũ hồn thập bất túc.

Nhị tam can-khí ẩu nhi kết,

Tử tại bản nguyệt canh-tân nhật.

 

Xích tiên án thận thiếu-âm quyết,

Hoa-tŕ toại-để chi tân-dịch.

Hậu án thái-dương bang-quang bệnh.

Bệnh tại lưỡng hiếp thong than trung.

Mạch cửu chí thập than nhược chi,

Lục-thất chí tử mậu-kỷ nhật.

Hữu thủ tiền tỳ thái-dương kinh,

Ứng tâik than trung nhị quyền-cốt.

Hậu án thái-dương, dương-minh chứng,

Tại nhân đầu thượng ứng kỳ thân.

Nhị chí mạch nhất hư dục nhược.

Cửu thập nhị giả khái thấu số,

Nhược chủ tử ưng bính-đinh khuyết.

 

Tỳ tiền thái-âm ứng hung-cách,

Hậu chi vi-mạch dương-minh kinh.

Ứng nội hung trung tả-biên bệnh,

Số số nhi băng tử ứng chi.

Giáp-ất tương-khắc vi tương-đảo.

Cửu chi, thập chi đảo tỳ-khí,

Tứ-ngũ b́nh-mạch nhi tam nhược.

Chí số biểu-lư đồng đoạn-triệt.

Xích tiên án mệnh thuộc dương-minh.

Ứng tại giang-môn tả thận đồng.

Hậu chi tam-tiêu quyết-âm bệnh.

Ứng tại lưỡng khố (háng) tích trung thân,

Nhất tức tam niên bát cửu đồng.

Vửu chí, thập chí thoát liễu h́nh,

Hoăn hoăn kết tế tử bính-đinh. 

Tứ Tổng-mạch:


Phù chủ trúng-phong vô-lực hư,

B́ thượng vi dương ngoại đắc chi.

Trầm vi tích-tụ vô-lực khí,

Tam–khí phương-ôn hạ-chí cốt.

 

Tŕ nhi chủ thống vô-lực lănh,

Nhất tức tam chí hàn vi dương.

Số nhiệt vô sang nhiệt vi táo,

Nhất tức lục chí b́ vi dương. 

Phù-trầm tŕ-số phong-khí lănh-nhiệt:

 

Thốn phù đầu diện nhăn mục phong,

Hưu hư xỉ thống khâu tà.

Trầm hung khí măn khái tật suyễn,

Phiên vi thổ-thực tức khí hung.

 

Tŕ lănh ẩu thổ đông măn cách,

Hư-hăn câu-cấp thống bất dĩ.

Số nhiệt thượng úng táo khẩu can,

Đầu thống phiền-khát đông khẩu-sang.

 

Quan-phù lưỡng hiếp câu-cấp vận.

Bối tích cân thống bất năng thông.

Trầm-khí phúc trướng minh tâm-thống.

Thượng hạ quan cách bất tư thực.

 

Tŕ lănh tích phúc du tẩu,

Thượng hạ bất-định thích phiên vị .

Số nhiệt đại-tiểu tiện bất thông.

Thận ung phiền khát hoặc bất dĩ.

 

Xích phù yêu thống liên tiểu hiếp,

Sán khí thối  sang hư dương lâm.

Trầm  tiếu tiên lâm bế âm,

Phúc trướng mạch (?) măn bất thực.

 

Tŕ tiện hoạt-số tiết tinh cấm,

Tất hĩnh đông nhuyễn ôn đạo-hăn.

Số khát bất chỉ tiện lâm huyết,

(?) khước sang ôn âm nhương dạng. 
 

Hà-đồ sinh-thành Quyết. sinh-tử Bí-quyết: 

          Trời 1 sinh thủy, đất 6 thành nó; đất 2 sinh hoả,  trời 7 thành nó; trời 3 sinh mộc, đất 8 thành nó; đất trời 4 kim, trời 9 thành nó; trời 5 sinh thổ, đất 10 thành nó.

          Giả như tâm-mạch chẩn được 1 động, 1 chỉ, 6 động, 6 chỉ, 11 động, 16 chỉ, 21 động, 26 chỉ; 31 động, 36 chỉ; 41 động, 46 chỉ. Là thủy khắc hoả. Lại gặp năm tháng ngày giờ bính-tân, th́n-tuất tất chết vậy.

Giả như phế-mạch chẩn được 2 động, 7 chỉ, 12 động, 17 chỉ, 22 động, 27 chỉ, 32 động, 37 chỉ; 42 động, 47 chỉ. Là hoả lại khắc kim. Lại gặp năm tháng ngày giờ mậu quư, tư-ngọ tất chết vậy. (Đổng án: điều này nguyên-bản khuyết. Vả lại, ngộ-tạp với điều can-mạch. Nay căn-cứ theo trân-bi sao-bản bổ nhập).

Giả như can-mạch chẩn được 4 động, 1 chỉ, 9 động. 1 chỉ, 14 động, 19 chỉ, 24 động, 29 chỉ, 34 động, 39 chỉ; 44 động, 49 chỉ. Động mà chỉ là kim khắc mộc vậy. Lại gặp năm tháng ngày giờ ất-canh, măo-dậu tất chết vậy.

Giả như tỳ-mạch chẩn được 3 động, 1 chỉ, 8 động, 1 chỉ, 13 động, 18 chỉ, 23 động, 28 chỉ, 33 động, 38 chỉ; 43 động, 48 chỉ. Động mà chỉ là mộc khắc thổ vậy. Lại gặp năm tháng ngày giờ ất-canh, măo-dậu tất chết vậy.

Giả như thận-mạch chẩn được 5 động, 1 chỉ, 10 động, 1 chỉ, 15 động, 20 chỉ, 25 động, 30 chỉ, 35 động, 40 chỉ; 45 động, 50 chỉ. Động mà chỉ là thổ khắc thủy vậy. Lại gặp năm tháng ngày giờ giáp-kỷ, sửu-mùi tất chết vậy.

      Mạch vận-hoá, khí tuế can tiên, tiền-tiến 4 vị là tại-tuyền. Hâu vị đồng thượng y ban-dụng. Phép chẩn này tác điạ-tiên.

 

Điạ Lục-khí:

Đại-hàn quyết-âm thủy chủ sơ,

Xuân-phân cư hoả nhị chi cư.

Tiểu-măn thiếu-âm phân tam-khí,

Đại-thử thái-ât  tứ chi hồ.

 

Thu-phân dương-minh ngũ-khí tao,

Tiểu-tuyết thái-dương hàn-thủy hư.

Y-sư bất năng minh thử lư,

Quang-âm không độc ngũ-xa thư. 

Thiên lục-khí:

Sơ-khí tuế tiền thủy chủ tiên,

Nhị quân tam tướng đại bài liên.

Tứ kai thị thổ thường vi hiển,

Ngũ khí táo kim lục thủy hàn. 

Khách-khí lai quy:

 

Mỗi niên tiến tứ thị khách hương,

Thượng lâm thập số hạ lâm phương.

Hàn-khí nhiệt thử xuất bài thủ,

Chủ khách thắng-phụ định nhược cường. 

          Sơ-khí quyết-âm phong mộc; nhị-khí thiều-âm quân hoả; tam-khí thiếu-dương tướng hoả; tứ-khí thái-âm thấp thổ; ngũ-khí dương-minh táo kim; lục-khí thái-dương hàn-thủy. 

Định tử-sinh bí-quyết:

          Tư-ngọ thiếu-âm quân hoả; măo-dậu dương-minh táo kim; thin-tuất thái-dương hàn thủy; sửu-mùi thái-âm thấp-thổ; dần-thân thiếu-dương tướng hoả; tỵ-hơi quyết-âm phong mộc.

          Giả như năm giáp-th́n, giáp hoá thổ-khí, như thận-kinh thụ bệnh, tháng 9 giáp-tuất là thổ-khí. Lại phạm ngày giờ giáp-kỷ, sửu-mùi, ắt chết vậy. Kỳ dư đều phỏng theo đấy. 

Thái-thượng huyền-linh chí-huyền, chí-diệu bí-yếu mạch-quyết:

          Mạch có ba bộ âm-dương tương-thừa. Vinh-vệ huyết-khí, tại nhân-thể cung, hô-hấp xuất-nhập, thưóng-há ư trung, ân tức du-bố, tân-dịch lưu-thông, tùy thời động-tác. Phỏng tượng h́nh-dung. Xuân huyền thu phù. Đông trầm hạ hồng. Sát sắc quan mạch. Đại-tiểu bất-đồng.Nhất thời chi gian, biến vô kinh thường. Xích thốn tranh sai. Hoặc đoản hoặc trường. Thượng hạ tranh thác, hoặc tồn hoặc vong. Bệnh tưu cải dung, tiến thoái đê ngang. Tâm mê ư hoặc. Động thất kỷ-cương. Duy nguyện cụ tŕnh. Kim đắc phân-minh chi sở vấn. Đạo chi căn-nguyên, mạch hữu tam-bộ, thốn xích cập quan. Vinh-vệ lưu-hành.Bất phù hoành thuyên (cân nhắc). Thân trầm, tâm hồng. Phế phù can huyền. Tư thử kinh-thường. Bất thất thù (1/24 lạng) phân. Xuất-nhập thăng-giáng. Lậu-khắc chu-triền. Thủy há nhị khắc. Nhất chu tuần-hoàn. Đương phức thốn-khẩu, hư-thực kiến yên. Biến-hoá tương-thừa. Âm-dương tương-can. Phong tắc hư-phù. Hàn tắc lao-kiên. Trầm tiềm thủy súc. Chi  ẩm cấp-huyền. Động tắc vi-thống. Số tắc nhiệt phiền thiết hữu bất-ứng. Tri biến sở duyên, tam bộ bất-đồng. Bệnh các dị-đoan. Đại-quá khả quái. Bất cập diệc nhiên. Tà bất không-trung. Trung tất hữu gian. Thẩm-sát biểu-lư.Tam-tiêu biệt yên. Tri kỳ sở hợp. Tiêu-tức chẩn khán. Liệu độ tạng-phủ. Độc quân-thần yên. Vi tử-tôn kế. Phi nhân mạc truyền.

          Tả-thốn (tâm/tiểu-trường), quan (can/đảm), xích (thận/bàng-quang); hữu-thốn (phế/đại-trường), quan (tỳ/vị), xích (mệnh-môn/tam-tiêu). 

Tam-bộ khan động-mạch đoán:

          Tả thủ thốn-khẩu nhị mạch, thấy trầm là tâm-mạch, thấy phù là tiểu-trường-mạch. Nên thủ thiếu-âm với thủ thái-dương là biểu-lư. Tâm lấy tiểu-trường làm phủ, hợp nơi thượng-tiêu.

          Tả thủ quan thượng nhị mạch, trầm là can-mạch, phù là đảm-mạch. Nên tả thủ quyết-âm với thủ thiếu-dương làm biểu-lư, can lấy đảm làm phủ, hợp nơi trung-tiêu.

          Tả thủ xích thượng nhị mạch, trầm là thận-mạch, phù là bàng-quang-mạch. Nên thủ thiếu-âm với thủ thái-dương làm biểu-lư. Thận lấy bàng-quang làm phủ, hợp nơi hạ-tiêu.

          Hữu thủ thốn-khẩu nhị mạch, thấy trầm là phế-mạch, thấy phù là đại-trường-mạch. Nên thủ thái-âm với thủ dương-minh-mạch làm biểu-lư. Phế lấy đại-trường làm phủ, hợp nơi thượng-tiêu.

Hữu  thủ quan thượng nhị mạch, trầm là tỳ-mạch, phù là vị-mạch. Nên túc thái-âm với túc dương-minh làm biểu-lư. Tỳ lấy vị làm phủ, hợp nơi trung-tiêu.

Hữu thủ xích thượng nhị mạch, trầm là mệnh-môn-mạch, phù là tam-tiêu-mạch. Nên thủ quyết-âm với thủ thiếu-dương làm biểu-lư. Mệnh-môn lấy tam-tiêu làm phủ, hợp nơi hạ-tiêu.

Mạch tương-loại:

          Huyền với khẩn tương-loại. Phù với khâu  tương-loại. Phù với hồng tương-loại. Nhu với nhược tương-loại. Trầm với phục tương-loại, Hoăn với tŕ tương-loại. Nhuyễn với nhược tương-loại. ách với thực tương-loại. Hoạt với số tương-loại. Vi với sáp tương-loại.

          Ôi! Mạch là khí-thiên chân uỷ-hoà. Vương Thúc-Hoà đời Tấn lấy phù, khâu, hoạt, thực, huyền, khẩn,hồng làm thất-biểu. Vi, trầm, hoăn, sáp, tŕ, phục, nhu, nhược làm bát-lư, để định âm-dương cuả con người. Để quyết-định sống chết cuả con người.

          Nhưng văn-lư phiền-phức, hậu-học đến chết cũng chưa giải nổi. Đại-để, đạo duy-tŕ mạch, không lời nào có thể truyền được, không môn-đồ nào có thể học được. Thửa khu-yếu chỉ là để pḥ. Trầm-tŕ là động-chỉ. Phong, khí, lănh, nhiệt là chủ-bệnh. Vả chăng, như phù mà có sức là phong, phù mà vô-lực là hư. Trầm mà có sức là tích, trầm mà vô-lực là khí. Tŕ mà có sức là thống, tŕ mà vô-lực là lănh. Số mà có sức là nhiệt, số mà vô-lực là sang. Lần-luợt xem tam-bộ tại chỗ nào có được. Và chăng, thốn-bộ thuộc bệnh cuả thượng-tiêu đầu-diện, hung-cách.

          Quan-bộ thuộc về bệnh cuả trung-tiêu phúc-đỗ, trường-vị.

          Xích-bộ thuộc về bệnh cuả hạ-tiêu tiểu-phúc, yêu thối. Lần lượt xem trong ngũ-tạng, tạng nào có bệnh đó. Lục-phủ cũng vậy. Người học hội-ư mà tinh-thông. Thứ đến là chê-trách cuả đắc-án thốn, ác-xích. 

Tứ Tổng Mạch:

          Phù mà có sức chủ phong, vô-lực chủ hư. Phù cử-chỉ tại ngoài da, là biểu-hiệu dương, là chứng bên ngoài.

          Phù mà có sức chủ tích, vô-lực chủ khí. Tam nhân mới là hiển-vi thực. Trầm-mạch hạ-chỉ được nó đến xương, bèn là lư, là âm, là bệnh nội-thụ.

          Tŕ mà sức chủ thống, vô-lực chủ lănh. Lại là hàn. Tŕ-mạch trọng-án tại nội. Chuyển-án mới thấy. Nhất tức tam chí là ân, chủ hàn. Bèn là bệnh nội-thụ. Số mà có sức là nhiệt, vô-lực là hư. 

Ngũ-tạng thấy phù-mạch là chủ bệnh:

          Tâm-bộ phù chủ tâm hư. Dụng sự dễ kinh sợ. Thần không thủ-xả (lấy và bỏ). Lưỡi mạnh bất năng. Ngôn-ngữ thác-mậu.

          Can-bộ phù chủ can hư.Trúng phong ung-hoán (chân tay tê-liệt). Cân mạch câu luyến (co quắp không duỗi ra được). Đau mắt, đau răng, ruột phong chẩy máu.

          Tỳ-bộ hư-phù, chủ phúc trướng ẩu-nghịch, ẩm-thực thiểu tiến, khí suyễn và gấp, tiết tả vô độ.

          Phế-bộ phù chủ phế hư, táo bón, mặt phù lắm nhọt, thổ huyết, thổ nồng thấu suyễn.

          Thận-bộ phù chủ thận hư. Đùi chân mọc nhọt. Hư dương lâm-lịch. Lưng đau, răng đau. Ruột non khí sán (phàm nhân vật ǵ trở-ngại làm cho gân thịt co rút thường-trực rồi phát ra đau-đớn dữ-dội). 

Ngũ-tạng thấy trầm-mạch là chủ bệnh:

          Tâm-bộ trầm chủ ruột non lâm-lịch. Khách huyết, nịch huyết, tiểu-tiện bất thông, ngủ mà không ngủ say.

          Can–bộ trầm, chủ nộ-khí thương can, hiếp thống ph́ khí. Mắt đỏ hoe, sáp đỗ đông phúc măn.

          Tỳ-bộ trầm, chủ hư thương tỳ. Cơ hàn khách nhiệt, thực bất tác, cơ-phu khí bĩ-tắc. Thân hoàng sấu (da vàng, gầy g̣).

          Phế-bộ trầm, chủ ho khạc hay nôn mửa. Thượng-khí suyễn-cấp. Ẩu-huyết, thất huyết, tức-bí, ruổt bị ung-thư.

          Thận-bộ trầm, chủ trướng măn bất thực, tiểu-tiện ràn ruạ, âm-ung tác trướng, bí trác (?) ruột đầy. 

Ngũ-tạng thấy tŕ-mạch chủ bệnh:

           Tam-bộ tŕ, chủ tiểu-tiện tần-số. tiêu thống ẩu-thủy, chứng xung đa trọng, phục luơng trường thống.

           Can bộ tŕ, chủ cân luyến cốt đông, miên hôn đa lệ, thương sự di kinh, chuyển cận sàng mộc.

           Tỳ bộ tŕ chủ tiết-tả khái-thấu, hồi trùng (giun ở trong bụng các động-vật) xuất đàm, diện ung đa, ẩm-thực bất hoá.

          Phế-bộ tŕ, chủ thấu suyễn măn, đại-tiện đường-tiết, b́-phu táo sáp, mộng thiệp đại-thủy.

          Thận-bộ trí, chủ tiểu-tiện hoạt số, tiế tinh bất cấm, tất hĩnh thống nhuyễn, âm hiển đạo hàn cước khí. 

Ngũ-tạng thấy số-mạch chủ bệnh:

          Tâm-bộ số, chủ ứng tại khát. Trên lưỡi sinh nhọt. Tiểu-tiện xích-sáp. Nhăn mục hôn đông.

          Can-bộ số, chủ mắt đau, có màng, mắt tối-tăm, nhiều nước mắt.

          Tỳ-bộ số, chủ miệng hôi, phiên vị, xỉ thống, nha tuyên, ăn nhiều không no, tứ chi bất cử.

          Phế-bộ số, chủ phế thấu thoá huyết, yết-hầu tanh, mắt đỏ, đại-tiện bế-kết. Mặt mọc nhọt nóng.

          Thận-bộ số, chủ tiêu-khát không ngừng. Tiểu-tiện huyết lâm. Hạ-chí (trẻ con đến muà hè hay ốm), cước sang. Dương ung, thấp-dạng. 

 

 

 

 

Xem Bài số 6

 

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hữu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com