www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

 

KHÍ-HUYẾT

 Khí Nạp Tam-tiêu, Huyết Quy Bào-Lạc

 


 

 (Đọc Bài số 3)

 

Lục-Mạch Đồ

 六 脈 圖

(Quách-Ngọc gọi là Lục-vi 六 微)

 

Ü Sinh

Ü Sinh

Ü Sinh

Đoài Kim

Cấn Thổ

Chấn Tướng-hoả

HỮU        Thốn

Quan

Mệnh  Xích  Môn

Dương

Dương-  Thái-

Thiếu- 

Minh

Minh    Âm

Dương

Đại-Trường

Vị       Tỳ

       Tam-       Tâm-Tiêu       Bao-lạc

Ư Khắc

Ư Khắc

Ư Khắc

            Trường

 

        quang

   Tâm  Tiểu-

Can      Đảm

Thận    Bàng-

    Âm   dương

  Âm     Dương

Âm     dương

Thiếu-  Thái-

         Quyết-  Thiếu-

Thiếu-  Thái-

TẢ          Thốn

Quan

Xích

Ly Hoả

Mộc

Thủy

Đoài

Tốn

Khảm

Ü Sinh

Ü Sinh

Ü Sinh


Động-mạch nơi cổ tay gọi là thốn-khẩu, gốc ở nơi huyệt thái-uyên cuả phế-kinh, mà phân ra làm ba bộ: Thốn, Quan, Xích, năng kiểm-soát tạng-phủ toàn-thân. Tại sao---> Trong Hà-đồ, cửu-tứ đồng-cung. Cửu là Kiền, tứ là đoài. Hai vạch dưới cùng cuả kiền-đoài tượng thái-dương. Kiền  là trời, mà đoài chủ khí. Phế là hoa-cái, cư ở trên cùng, ắt có tượng cuả trời. Cho nên một tạng năng thống chúng-tạng. Một mạch năng kiểm-soát chu-thân. Mà phải-trái phân ra làm sáu bộ, ắt sáu quẻ con, lục-khí cuả trời, mười hai kinh mạch đầy-đủ trong thốn-quan-xích. Kẻ nghiệp-y từng nghiên-cứu thửa nguồn chăng? Tả-xích thận-thủy sinh tả-quan can-mộc. Tả-quan can-mộc sinh tả-thốn tâm-hoả. Hữu-xích tướng-hoả sinh hữu-quan cấn-thổ. Hữu-quan cấn-thổ sinh hữu-thốn phế-kim, mà phế-kim lại sinh thận-thủy, do Hà-đồ tả-triền tương-sinh vậy. Thủy cuả tả-xích khắc tướng-hoả cuả hữu-xích. Mộc cuả tả-quan khắc thổ cuả hữu-quan. Hoả cuả tả-thốn khắc kim hữu-thốn. Ấy là đối-vị tương-khắc vậy. Mà kim cuả hữu-thốn khắc mộc cuả tả-quan. Thổ cuả hữu-quan khắc thủy cuả tả-xích. Ấy là nh́n xéo tương-đối vậy. Đều là Lạc-thư hữu-triền tương-khắc vậy. Mà lấy quẻ phối-trí, tả-thốn là ly, tả-quan là tốn, tả-xích là khảm, hữu-thốn là đoài, hữu-quan là cấn, ắt hữu-xích là tướng-hoả, không phải là quẻ chấn. Mà v́ sao lại lấy dương-mộc biến thành, mới hay rằng tướng-hoả vô-thể, lấy mộc làm thể vậy. Không những tướng-hoả lấy mộc làm thể, mà quân-hoả cũng lấy mộc làm thể. Tam cuả ly cũng là mộc đông-phương cuả Hà-đồ vậy. Vả chăng, tả-hữu tam-bộ phối-quái, càng có diệu-lư. Tay trái là tiên-thiên, tay phải là hậu-thiên. Thốn lấy ly-đoài đối. Ly tiên-thiên đối với đoài hậu-thiên vậy. Quan lấy tốn-cấn đối. Tốn tiên-thiên đối với cấn hậu-thiên vậy. Xích lấy khảm-chấn đối. Khảm tiên-thiên đối với chấn hậu-thiên vậy. Mà ly hoả vốn hợp lại ngôi cuả kiền, khảm thủy vốn đảm-đương ngôi cuả khôn, ắt thử lấy tả-thốn làm kiền, tả-xích làm khôn, ắt tả-thủ lại là hậu-thiên, hữu-thủ lại là tiên-thiên. Kiền hậu-thiên đối đoài tiên-thiên. Tốn hậu-thiên đối cấn tiên-thiên. Khôn hậu-thiên đối chấn hậu-thiên. Quái-vị tự-nhiên, biến-hoá bất trắc như thế. Lật ngược lại mà xem, hữu-xích là chấn vậy. Rất rơ. Cớ sao thiên-cổ không có người nào biết điều đó. Hoặc bảo, mệnh-môn sở dĩ thuộc quẻ chấn, chẳng có thuyết sao? Đáp: mệnh-môn là tên huyệt cuả đốt xương sống thứ bẩy vậy. Xương sống 21 đốt, ba lần bẩy hăm-mốt, mệnh-môn ở trong khoảng đốt thứ bẩy, chính do quẻ chấn một vạch dương ở dưới hai vạch âm. Thửa tượng quá giống. Ấy là kiền-khôn bắt đầu giao, một dương chớm động là gốc cuả sinh-dục vậy. Đằng trước đối với rốn, tên huyệt là thần-khuyết, như bắc-cực đối với nam-cực vậy. Mệnh-môn là nhà cửa cuả tướng-hoả. Mà tâm-bao-lạc lại là tâm-chủ, lại tên là đản-trung. Sở dĩ hộ-vệ tim, là cung-thành cuả tim. Ắt là tạng cuả tướng-hoả. Thượng-tiêu để thống phế-tâm, trung-tiêu để thống t́, hạ-tiêu để thống can-thận. Sở dĩ bao quanh chúng-tạng. Là khu-cốc cuả thân, ắt là phủ cuả tướng-hoả. Kinh-mạch cuả tam-tiêu, tâm-bao-lạc lưu-hành, đều là lưu-hành cuả tướng-hoả cả. Mệnh-môn như là cung-xá, kinh-mạch như là đạo-lộ. Thống-lĩnh nó nơi tướng-hoả, đều thuộc vào hữu-xích, mà nhất dương sinh cuả đốt thứ bẩy là quẻ chấn, chẳng cũng hiển-nhiên thay. 

                  Đồ-thư Ngũ Cơ-số Ứng Ngũ-tạng Bộ-vị Đồ

9  Kim Phế

7  tâm hoả 5  tỳ thổ

3  can mộc  1  thận thủy

Thượng-tiêu

Trung-tiêu

Hạ-tiêu

 

  

Nhân-thân lấy hoàng-cách-mô để phân trên dưới. Phế, tâm ở bên trên hoàng-cách-mô, tỳ, can, thận ở bên dưới hoàng-cách-mô. Mà phân ra thượng-trung-hạ tiêu, tức là các số 9, 7, 5, 3, 1 cuả Đồ-Thư vậy. Kim ngự hoả-vị, phế ở trên tâm, nhập kim-hương. Tâm ở dưới phế, ấy là Đồ biến Thư mà thành hai vậy. Tỳ, Can, Thận, mỗi cơ-quan như ngôi cuả thổ, mộc, thuỷ vậy. Đó là tam-đồng cuả Đồ-Thư vậy. Thứ-tự cuả số có vị-trí cuả thiên-nhiên vậy. Con người chính-sinh, ắt như thửa tự mà tối-linh. Cầm-thú, trùng-ngư sinh ngang, ắt tâm-trí khác con người vậy. Thảo-mộc đảo-sinh, ắt tâm-trí lại khác cầm-thú, trùng-ngư vậy.

 

Mạch Thái-Tố

太素 脈

 

Thái-tố-mạch Bí-quyết là một mạch-thư do Trương Thái-Tố đời Minh soạn. Ngoại trừ chẩn bệnh, c̣n đề-xướng ra thuyết con người trí-ngu, quư-tiện, thọ-yểu, cùng-thông, cũng năng dựa theo mạch-tượng mà suy-đoán ra (472, tr. 120).

 

Thái-tố Tạo-hoá Mạch-luận:""."".

          Trước thái-cực có thái-dịch, thái-sơ, thái-thủy, thái-tố. Đạo trời đất không dời khỏi ngũ-thái. Thái-dịch là thanh-trọc chưa phân. Thái-sơ là lúc ban đầu cuả âm-dương. Thái-thủy là lúc khởi đầu cuả khí-h́nh. Thái-tố là gốc cuả trời đất vậy. Gốc dựng đạo sinh. Thái-cực là cùng cực cuả muôn vật. Bĩ cực thái-lai. Dương cục âm sinh, âm cực dương sinh. Vật cực ắt phản. Cực là kết-thúc vậy. Kết-thúc mà khởi đầu. Thái-cực là gốc cuả h́nh-khí-chất vậy. Vô-cực mà hữu-cực vậy. Từ vô quy hữu. Hữu tất quy vô. Vô năng sinh hữu. Hữu-vô tương-sinh. Vô-hữu tân thời. Liệt-tử nói: "Thánh-nhân thống-lĩnh thiên-điạ từ âm-dương. Ôi! Hữu-h́nh sinh nơi vô-h́nh, ắt trời đất làm sao mà từ dạng ấy mà sinh ra được?". Nên nói: "Có thái-dịch, thái-sơ, thái-thủy, thái-tố vậy. Thái-dịch là chưa thấy khí. Thái-sơ là bắt đầu cuả khí (Đổng án: nên thêm 'Thái-thủy là bắt đầu cuả h́nh'). Thái-tố là bắt đầu cuả chất. Khí-h́nh-chất đầy đủ mà chưa dời nhau. Nên nói: không phân-minh. Không phân-minh là muôn vật không phân-minh, mà chưa dời nhau vậy" (318, Thiên-thụy thiên, tr.50-51). Nh́n mà chẳng thấy, nghe mà không nghe ra, theo dơi mà không bắt được, nên nói là Dịch. Dịch vô-h́nh-trạng. Dịch biến ra 1, 1 biến ra 2, 2 biến ra 7, 7 biến ra 9 (cửu), cửu biến ra cứu. Bèn biến về 1, 1 là bắt đầu cuả h́nh-biến. Liệt-tử bảo: chỉ nói bốn thứ đó là cứu vậy. Cứu là cực mvậy. Ắt là cái mà ta gọi là thái-cực vậy. Ôi! Thái-tố gốc ở ngũ-thái. Ngũ-thái tức là ngũ-hành, ngũ-hành tức là ngũ-thái vậy. Ngũ-hành là âm-dương vậy. Âm-dương ắt là 1. Cực mà tất phản, chung mà phục thủy. Há chẳng phải là cái mà tiên-truyện gọi là động cực nhi tĩnh, tĩnh cực phục động sao? Một động, một tĩnh, hỗ vi kỳ căn, là diệu ru! Thái-cực là trước vô-cực cuả trời đất. Âm hàm dương vậy. Sau khi có tượng, phân-âm, phân dương vậy. Âm là mẹ cuả dương, dương là cha cuả âm. Nên dương sinh ở tư, cực ở tỵ, mà một âm lại. Âm sinh ở ngọ, cực ở hợi, mà một dương lai-phục. Dương gốc ở âm, âm gốc ở dương, nên chấn là trưởng-nam thuộc hoả. Hoả sinh ở dần. Tỵ là bào-thai. Tốn là trưởng-nữ thuộc thủy. Thủy sinh nơi thân. Hợi là bào-thai. Tỵ-hợi là cửa ngơ cuả trời đất, là căn-bản cuả âm-dương. Ôi! Trời 1 sinh thủy, điạ 6 thành nó. Đất 2 sinh hoả, trời 7 thành nó. Trời 3 sinh mộc, đất 8 thành nó. Đất 4 sinh kim, trời 9 thành nó. Trời 5 sinh thổ, đất 10 thành nó. Bởi chưng số lẻ chẵn mà lấy làm loại-phân. Số lẻ là dương,loà tượng cuả trời; số chẵn là âm, là tượng cuả đất. Trời 1 là thiếu-dương, đất 6 là thái-âm vậy. Thiếu-dương, thái-âm giao mà sinh thủy. Đất 2 là thiếu-âm vậy, trời 7 là thiếu-dương vậy. Thiếu-âm, thiếu-dương giao mà sinh hoả. Trời 3 là thiếu-dương vậy, đất 8 là thiếu-âm vậy. Thiếu-âm, thiếu-dương mà sinh mộc. Đất 4 là thiếu-âm vậy, trời 9 là thái-dương vậy. Thiếu-âm, thái-dương giao mà sinh kim. Trời 5 đất 10 giao nơi trung mà sinh thổ. Âm-dương, thái-thiếu phán-hợp. Đạo cuả vạn-vật sinh-thành biến-hoá. Ôi! Thủy-hoả là khảm-ly vậy. Khảm tại phương bắc âm-vị, mà thuộc dương. Ly tại phương nam dương-vị, mà quẻ thuộc âm. Khảm lấy dương mà sinh tại trên. Ly lấy âm mà sinh tại dưới. Ắt trời dưới, đất trên mà giao-thái. Thủy trên hoả dưới mà kư-tế vậy. Khiến dương xuất ở trên, âm phục ở dưới. Ắt trời tự trời, đất tự đất. Thủy hoả không giao, làm sao có được lẽ âm-dương giao-tế? Trời đất chưa phân, khôn phân-minh khôn lường. Trời đất đă phán, con người ngôi ở giữa, thừa-huởng chính trung cuả trời để sinh. Chẳng lẽ không bẩm khí âm-dương để thành. Nên Dịch nói: kiền-đạo thành nam, khôn-đạo thành nữ, mà thành đạo vợ chồng. Đạo vợ chồng dựng, mà sinh-ư vô-cùng. Ôi! Con người bẩm tú-khí cuả âm-dương ngũ-hành để sinh. Thân cư giữa trời đất. Thân cư bên trong nhân-thân. Đầy đủ lư cuả vạn-vật, là h́nh cuả vạn-vật. Biết thiên-thời, biết điạ-lư, thông nhân-sự, minh vật-t́nh. Giải vạn-vật h́nh-sắc, khí-vị. Nên linh hơn vạn-vật chính là con người. Tâm làm chủ thân con người vậy. Ôi! Ngũ-vận lục-khí bèn là thường-đạo cuả thiên-điạ âm-dương, doanh-vận, thăng-giáng. Ngũ-vận lưu-hành, có thái quá, có bất-cập. Trời đất thăng-giáng có nghịch-tùng, thắng-phục phân-minh. Thiên-khí động mà biến, điạ-khí tĩnh mà thường, bèn đầy đủ hoá-khí cuả ngũ-hành, rồi sau mới hợp thửa dụng. Phàm vạn-vật bao giờ mà chẳng dựa vào khí trời đất mà hoá-sinh vậy. Thiên-mạch là biết âm ắt biết dương, biết dương ắt biết âm, Song le, khả dĩ tâm sát, khả dĩ ư-thức, khả dĩ toàn-sinh, chí-đạo huyền-vi, biến-hoá vô-cùng, ai biết được thửa nguồn? H́nh-biểu khí-lư mà là tương-thành vậy. ***Ôi! Khí nóng lạnh muốn phát, như dương chưa cùng âm, âm chưa cùng dương, nhân đó điều-hoà, chân-khí bèn an, tà-khí bèn chính. Kinh bảo: trị lúc chưa nhuốm bệnh, không trị lúc đă mắc bệnh rồi. Ôi! Trời như thất-thổ, ắt không năng vinh-dưỡng vạn-vật. Bởi chưng thiên-điạ vạn-vật đều lấy thổ làm gốc. Nên vượng cuả vạn-vật, do thổ mà sinh. Suy cuả vạn-vật do thổ mà quy lỗi. Ôi! Vinh-vệ là cương-kỷ cuả âm-dương. Tỳ-vị là nam-nữ cuả âm-dương. Tả-hữu là đạo-lộ cuả âm-dương vậy. Hô-hấp là số, tuần-hoàn không ngừng. Ứng coí thường-biến, giống thiên-vận cuả vô-cùng. Là chủ-tể cuả một thân, vị và dương-cơ. Thần ngộ linh-cơ, tâm-thực vi diệu. Tâm là quân-chủ, bèn thuận trung-hoà tỳ thổ làm bang, chủ bệnh cuả ngũ-tạng, lục-phủ trên dưới. Lẽ âm-dương hư-thực, huyết thiểu, huyết thịnh, mạch thiểu, mạch thịnh. Ấy là phản vậy. Phản ắt bệnh, thực ắt khí nhập, hư ắt khí xuất. Khí thực ắt nhiệt, khí hư ắt hàn. Ôi! Khí thực ắt là khí hàn-thấp vậy. Như có, như không. Bệnh-tật không thể biết trước được. Xét hậu với tiên là biết bệnh. Biết tiên-hậu, hư-thực là thợ chớ mất thửa pháp, được như sống là không dời thửa pháp. Lúc bổ-tả, vật nào thích-nghi nấy. Ôi! Mạch là dương tại trong, âm tại trong âm là thuận. Âm tại trong dương là nghịch. Dịch nói: một âm, một dương là đạo, chính là điều đó vậy. Độc-âm bất sinh, độc dương bất thành. Âm-dương bèn là đạo sinh-thành. Không thể khuyết được. Ôi! Ngũ-hành là âm thịnh, dương thịnh. Âm-dương nghịch vậy. Dương sinh âm, âm sinh dương là thuận. Kim, mộc, thủy, hoả, thổ tương-sinh vậy. Nghịch là thủy, hoả, kim mộc, thổ tương-khắc vậy. Ôi! Ngũ-hành có can chi, số can 10, số chi 12.  Bởi chưng trung-số cuả trời là 5, nên khí-nguyên cuả trời chẳng bao giờ là không có 5. Ngũ-khí hợp-nhất. Một âm, một dương nên bội lên thành 10. Trung-số cuả đất là 6, nên khí-nguyên nơi đất chẳng nơi nào không phải là 6. Lục-khí hợp-nhất, một âm, một dương mà thành chi. Lấy đó mà xem, chẳng ǵ là không phải thiên-lư tự-nhiên vậy. Khứ-ngũ-hành,hoả sinh nơi dần thuộc mộc, hoả vượng tại ngọ. Chinh nam mà hoả vượng, tuyệt tại hợi. Hợi thuộc thủy khắc hoả. Thủy sinh tại thân, thân thuộc kim. Kim sinh thủy, thủy vương tại tư, tư chính bắc mà thủy vượng. Thủy tuyệt tại tỵ. Tỵ thuộc thổ, thổ khắc thủy, Thủy sinh tại hợi. Hợi thuộc thủy, thủy sinh mộc. Mộc vượng tại măo. Măo vị chính đông, mà mộc vượng, Mộc tuyệt tại thân, thân thuộc kim, kim khắc mộc, kim sinh tại tỵ thuộc hoả, hoả năng khắc kim, tại sao lại nói kim sinh nơi tỵ? Tỵ tuy thuộc hoả, mà chân-thổ tại đó. Bởi chưng thập can, mậu-kỷ thuộc thổ, mậu lộc tại tỵ, kỷ lộc tại ngọ, tỵ-ngọ thổ-vị, kỷ có tính cuả chân-thổ, nên hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim vượng tại dậu. Chính dậu mà kim vượng. Kim tuyệt tại dần, dần mộc năng sinh hoả, nên hoả khắc kim vậy. Ấy ắt là thuyết cuả vô-cực, thái-cực, lư cuả âm-dương tiêu-trưởng, như tuần-hoàn vô-đoan vậy. Ngũ-hành tương-khắc, cái mà không thắng được là tặc-tà, thửa khó trị nghi vậy. Đến như khả thắng là vi-tà. Tuy bất-trị mà tự khỏi. Thúc-Hoà nói: xuân được tỳ mà chẳng trị-liệu, đông kiến tâm mà bất-trị. Hạ kiến phế mà khó khỏi bệnh. Thu kiến can để nghi ǵ? (Đổng án: câu này nên sửa lại  thành: thu kiến can mà bất cứu). Câu này nguyên-bản chỉ có: nam-tử chỉ lấy đông tứ-tự. Ngữ-khí chưa dứt. Nay căn-cứ vào sao-bản trân-bí, thêm vào hiệu- khám, ứng bổ tám câu mới toàn. Ngược lại, có thể lấy vi-tà mà sợ vậy, Tại saq? Kịp xem Linh-khu-kinh nói: mộc minh mà hoả minh, hoả viêm mà thổ thắng. Thổ doanh mà kim sinh. Kim thắng mà thủy doanh. Nam-tử lấy đông-nam khí-vận, là ly, tốn, chấn, khôn làm vậy.

Thái-tố mạch-luận. Ngũ-hành-số phân bát-quái:

          Kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Ba bộ thốn-quan-xích, có ngư-vỹ cốt–tiết, thứ phân-định vậy. Cổ-pháp lấy quyền-cốt bằng phẳng làm quan. Hoành-văn tiết thứ hai là một tấc. Nhập làm một thước, ấy là nói thốn-khẩu xích trung. Bèn phân thốn là thốn. Nên âm được trong xích một tấc là xích-trung. Dương được trong thốn chín phân là thốn-khẩu, chỗ đó chỉ là đầu đuôi một tấc chín phân mà thôi. Nói quan-thượng là ranh-giới cuả xích-thốn. Đă định-vị  cuả xích-thốn ắt quan có thể biết được. Hoặc nói cao-cốt mu bàn tay là quan, tất nên được phép xích-thốn, rồi sau mới có thể định được.

          (Đồ khuyết)

          Thốn tâm bộ: tiểu-trường, tâm, phủ, danh thụ-thịnh.

          Quan can bộ: đảm can phủ, danh thanh-tịnh.

          Xích thận bộ: bàng-quang, thận phủ, danh tân-dịch.

          Thốn phế bộ: đại-trường, phế phủ, danh truyền-tống.

          Quan tỳ bộ: vị, tỳ phủ, danh thủy-cốc. 

Xích mệnh-môn, tam-tiêu mệnh phủ, danh nguyên-khí.

 

Ngũ-tạng sở thuộc Đồ, quan sắc, thính âm, thụy ngoạ, thần-khí, phương khả chẩn mạch

Ngũ-tạng: tâm, can, phế, thận, tỳ. Biết mạch ngũ-tạng là hay kinh-lạc thụ mệnh.

Mạch-hậu lớn, hoạt hoăn.n, huyền, phù. Xét hư-thực cuả biểu-lư, biện lẽ âm-dương thuận-nghịch.

Ngũ-hành: hoả, mộc, kim, thủy, thổ. Xét nguyên-lưu cuả bệnh, lẽ sinh-khắc bất-trị.

Bốn muà: xuân, hạ, thu, đông, vượng, lộc. Xem mạch bốn muà âm-dương,  tâm, can, phế, thận, tỳ.

Thông cùng lưỡi, mắt, mũi, tai, môi. Ngũ-kiện năng quan-tế, vinh khô sinh tử phân.

Ngũ-t́nh: hỉ, lạc, nộ, bi, khủng. Bệnh đa nhân sự đắc, hư-thực yếu phân-minh.

Ngũ-sự: ngôn, thị, mạo, thính, tư. Ngũ-sự phiền tâm chủ, trừ chi lạc hữu dư.

Ngũ-dụng: minh , cung , tùng , thông , duê . Ngũ-dụng là gốc cuả tâm, quá mức thần-khí suy.

Ngũ-đức: triết 哲 (sáng suốt), túc 肅 (nghiêm-nhặt), nhân 仁 (nhân-từ), mưu 謀 (mưu-lược), thánh 聖 (thánh-thiện). Thần-khí thủ bất-bại, niên cao lư tự-nhiên.

Ngũ-khí: tiêu   (khét), đán  (a rank odor), tinh   (tanh), uế   (dơ bẩn), hủ   (hôi thối), tỳ vượng đều là nguyên-gian, vị hư ẩu nghịch hà?

Ngũ-vị: đắng, chua, cay, mặn, ngọt. Ăn ít đều là sinh bệnh dịch, thiện tham.

Ngũ-sắc: vàng, đỏ, xanh, trắng, đen (gầy yếu kiêm ph́-thịnh). Âm-dương nghịch-thuận phân. Bệnh-nhân khí-sắc thấy, sang hèn không nên luận.

Ngũ-số: hoả (2-7), mộc (4-9), kim (3-8), thủy (1-6), thổ (5-10). Bát-quái vận  tạo-hoá, vạn-vật dưỡng hư-linh, sang hèn cuả nhân-thân, sinh-tử định khô-vinh.

Ngũ-âm: 15, 16, 47, 10, 24, 81 ( chủy, giốc, thương, vũ, cung). Người sành ngũ-âm mới phát-giác được ngũ-bệnh.

Thập-can: hoả, mộc, kim, thủy, thổ. 5 âm, 5 dương. 5 tạng, 6 phủ. Bính, giáp, canh, nhâm, mậu. Hoả, mộc, kim, thủy, thổ. Tâm, can, phế, thận, tỳ. Đinh, ất, tân, quư, kỷ. Tương-sinh, tương-khắc và chỉ có thổ là tối vi khôi.

Thập-nhị chi: tỵ, dần, thân, hợi, th́n, tuất. Âm-dương tùng thử tịnh. Tương tịnh thập can sinh. Hợi, măo, dậu, tỵ, sửu, mùi. Chưởng quyết biết ngàn năm. Thân người há chẳng rơ?

Ngũ-phương: nam, đông, tây, bắc, trung. (Tâm, can, phế, thận, tỳ. Hoả, thủy, kim, mộc, thổ. Quẻ phân 64, hoá nồng chưa biết mẹ). Ngũ-tạng kể trên, mỗi tạng sở-thuộc, lần lượt có lời vị-tận.Như tiết-lậu tiêu-tức có thể thấy vậy. Học-giả tinh trí, được thửa thông-thần vậy.

 

Luận Ngũ-dương Mạch:

          Phù là nhẹ mà hướng-thượng, ẩn ẩn hoăn-tán. Như vật nổi trên mặt nước, chỉ nặng nhu không có ǵ, càng nhẹ càng thịnh, phiếm nhiên đầy ngón tay, nếu tam-bộ thường phù là chủ tâm-khí bất-túc.

          Trơn chu như ḥn son vô-đoan, năng-chỉ tức-phục. Nâng lên chỉ vọt lên. Không tiến, không lùi, hơi nặng, hơi lớn, nếu tam-bộ thường trơn chu, chủ can-khí bất-túc.

          Thực là đối cuả hư, thửa mạch nguyên-mạch trường-cửu mà bất-tuyệt. Chỉ khinh ắt hữu dư. Chỉ trọng ẩn-thụ nơi huyền. Nhỏ về hồng. Nếu tam-bộ thường thực, chủ tỳ-khí bất-túc.

          Huyền là ứng chỉ khẩn-phách như ba-huyền, chỉ trọng như số, chỉ khinh càng gấp. Tụ-liễm mà không tán. Trường-cửu mà không co rút. Nếu tam-bộ thường huyền, chủ phế-khí bất-túc.

          Hồng là lớn. Nguồn sâu, lưu dài, một khi t́m hạ-chỉ, không huyền, không phù, khinh-trọng đều ưng, nếu tái-tầm, như là hữu dư, nếu tam-bộ thường hồng, chủ thận-khí bất-túc.

 

Luận Ngũ-âm Mạch:

          Vi là rất nhỏ và yếu. Trọng-chỉ t́m nó. Nhỏ nhẻ như mao phát. Ẩn-ẩn, sáp-sáp. Nghi bất khả trạng. Trong khoảng hữu vô. Nếu tam-bộ thường vi, chủ huyết trệ mà thần bất-túc.

          Trầm là như nước chẩy trên đá, tất cực-kỳ thấp, trùng trùng t́m đấy, phảng-phất ẩn-ứng, so với vi cái đó có hoăn-khởi nơi cốt thương. Nếu tam-bộ thường trầm là chủ vị nghịch mà khí bất-túc.

          Rít là trệ mà không trơn chu, chỉ hà như sách-ẩn sa. Như dao cắt tre, trầm-hạ mà thôi. Trọng ắt ứng chỉ, khinh ắt như vô. Sau thực, trước hư, qua lại không ngừng. Nếu tam-bộ thường rít, chủ hồn bất-túc. (Đổng Án: câu này nên cải là: 'chủ can hư mà hồn bất-túc', mới có thể hợp-phách với ngữ-khí tiết trên).

          Ôi! Ngũ-dương thường phù, ngũ-âm thường trầm.Trầm là mạch cuả tạng. Phù là mạch cuả phủ. Lại có gọi là trầm trong phù. Cái ấy là vị vậy. Năng biết mạch-vị sở-tại. Ắt mạch cuả tạng-phủ dễ sinh vậy.

 

Luận Tứ-doanh Mạch:

          Tứ-doanh là khinh, trọng, thanh, trọc. Khinh-thanh là dương, trọng-trọc là âm. Ôi! Muốn biết con người sang hèn, giầu nghèo, thọ-yểu, nên t́m nơi mạch tứ-doanh. Như tiền-luận, ngũ-dương, ngũ-âm-mạch, chỉ nói thiên-lệch cuả tạng-phủ. Luận tứ-doanh là thống-quán nhất thể, mà tinh-thần, hồn-phách, khí-huyết thăng-giáng, không ǵ là chẳng cấp cho. Nên mạch thanh ắt thần tinh. Thần tinh ắt khí thanh. Khí thanh ắt cốt-nhục h́nh bẩm cái ǵ cũng thanh vậy. Ấy là khinh-thanh, trọng-trọc, nên có thể biết được. Ôi! Muốn xắt mạch ấy, nên nhớ thúc-Hoà dặn trong mạch có bệnh. Bệnh ắt biến mà khó thẩm thửa chứng. Bởi chưng ngũ-tạng, lục-phủ hoặc là tà-khí chồng-chất mà ra. Bây giờ khi đă hiểu rơ bốn mạch khinh-thanh-trọng-trọc. Khinh là như bàn tay t́m ngọc, thuần-túy ôn-nhuận, thức-tính minh-mẫn,

Lộc-vị quyền-quư. Thanh là b́nh thanh mà nổi, trạng-thái như lông nhẹ, không ch́m, không thấm ướt, ẩn-ẩn thường động.

          Trọng là hoăn mà thô, lấy tay đè xuống, thửa mạch trọc, mạch trọc khí cũng trọc vậy.

          Trọng là trong trọc mà chiùm như gấp. Sách-ẩn trọng-trọc, cũng tại cứu thửa bản-nguyên.

     Can-bộ khinh-thanh, y-thường vinh-quư,trọng-trọc nhất thân bất-túc.

   Tâm-bộ khinh-thanh, thông-minh phát-đạt. Trọng-trọc yểu-vong thân tử

          Thận-bộ khinh-thanh, trí-xảo kiêm-hoà. Trọng-trọc khí thiểu, đa-dâm.

   Phế-bộ khinh-thanh, nghiă-dũng mưu-lược, trọng-trọc tham-dâm tử lâm.

          Tỳ-bộ khinh-thanh, phú-quư thanh-danh, trọng-trọc rất độc vô-t́nh.

  Huyền-hồng trường-đại là tuế-nhiệt, đoản-xúc vi-trầm khí lănh-đống. Thực

chủ can hư tịnh nhiệt thương. Mạch phù hư thũng lănh trung sinh.

Hoạt thời ẩu-nghịch yêu-chi khốn. Hoăn tật nguyên lai khí bất ninh. Sáp huyết bệnh thời nhân phụ dựng. Nam nhi hữu thử lậu tinh-thần. Nam-tử đăn hữu tật, thương thần lao khiếp. Phụ-nữ hữu tật, lao tâm thụ khí, ôn can huyết-khí bất điều. Thương-hàn thương-phong tích nhiệt. Đầu huyễn ( mê-loạn, mắt hoa), hơi nóng nơi xương bốc lên. Không thể xét một loại. Duy xét chân tay lănh nhiệt. Xem mạch nghe tiếng. Chuyên tại lư cuả trọng-trọc khinh-thanh hư-thực, không thể vơng-nghị thiện chủ. Thiết-lập ra thẩm xét tường-tế hai ba lần minh-bạch mạch-bệnh tương-ứng, mới có thể dùng thuốc. Không đến nỗi thương kinh, thác lạc. Dùng thuốc như hành-quân. Thủ thắng, đắc công. Vạn-toàn mà sống. Dung-y bất tường kư chính. Được tính thị-phi phục-nhập trọng-điạ. Không được thửa mệnh giúp người, có tội-tính ǵ? Y-học không năng minh-sát thửa tinh. Trị thửa bệnh, toàn thửa sinh. Thực là khó vậy. Mạch được quan-lộc, sinh-tử.Duyên-do tật-bệnh, hoạ-phúc. Chẳng cũng thần-t́nh sao?

 

Ngũ-tạng, Lục-phủ Ca:

Tâm-mạch hỉ phù-hồng. An cư ngũ tạng-thông. Trầm-trệ kiêm hoạt-thạch. Thời nghịch mệnh tu chung. Huyền ưng tâm vô-bệnh. Thần nghi hoăn-mạch thông. Vật phù vi tế-đoản. Tà-nhiệt măn tâm trung. Huyền-số nhân phong-nhiệt. Vi-trầm khiếp ngoạ-phong. Thực trường bào cách úng. Dương-cưc chí âm sung. Vi khiếp tâm hoàn khủng; tường-huyên vật khí phong. Động giả phân khinh-trọc, biểu-lư bệnh lai tùng. Can mạch xuân lai vượng. Trường-trường tế khả lân. Đoản, vi, phù, sáp kiến, kiêm khắc mộc nan toàn. Hồng-đại tuần trung dũ. Vi trầm đoản-hoạt đ́nh. Hoăn thời ưu vi lănh. Huyền-số chủ cân luyến (bắp thịt co quắp lại). Phù thực biến thũng xích (sưng đỏ). Hư nhân sáp phục tham. Hoạt thời lên đảm khát. Đầu thống hữu phong hàn. Vi hoăn khinh phù tán. Sinh hoa thi vật nan. Động khan tứ-thập-nhị. Giáp-ất tựu trung khan. Phế-tạng mạch khinh-phù. B́nh-hoà sáp cánh ưu. Canh ga hồng khẩn cắng. Vô-sự nhất trường ưu. Trầm mạch hư hoàn biến. Âm-giao dương tự chu. Nhược hoà tŕ lộng khẩn. Tiến-thoái diệc vô do. Phù-thực tất tương chỉ. Hồng tŕ số ưu-phù. Phế kim hoàn hựu sáp. Diên thổ bất nghi thu. Thân cái nghi thanh-tịnh. Vi trầm chủ hữu nghi. Nhược gia phục tuyệt lập. Tâm hữu sự hoà phi. Phù thận hư ưng cửu. Hoăn đống mộng tiết đa. Đồng thời hữu lục-bát. Nhâm quư ứng tiền ca. Tỳ-tạng mạch nghi khinh. Y-y hăn thiếu b́nh. Cập hoà huyền khẩn-cấp. Trường-ưu mệnh ưng sân. Phù thực trung tiêu thủy. Vi-phù khách nhiệt-t́nh. Mạch lai tỳ ứng ẩn. Thực hoả dụng tâm-t́nh. Hoạt chủ tỳ nhiết táo. Nha tuyên khẩu-khí thăng. Động khan nhị-thập bát. Mậu-kỷ hợp trung doanh.

 

 

 

 

Xem Bài số 5

 

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hữu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com