www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

 

KHÍ-HUYẾT

 Khí Nạp Tam-tiêu, Huyết Quy Bào-Lạc

 


 

 (Đọc Bài số 2)

 

Thủ H́nh và Thủ-Thần

           Lời xưa nói: "Lẽ châm-thích, thô thủ h́nh, thượng thủ thần".

          Linh-khu Tiểu-châm-giải nói: "Thô thủ h́nh là thủ thích-pháp vậy, thượng thủ thần là thủ huyết-khí hữu dư, bất-túc cuả con người, có thể bổ-tả vậy".

          Điều mà Linh-khu chép về lẽ thích-pháp có bốn:

           Huyệt-pháp:

           Khai-hạp:

           Nghinh-tùy:

           Phi-kinh Tẩu-chú:

1)    Cái gọi là huyệt-pháp: lấy tư-ngọ lưu-chú làm cao nhất, tí là dương, ngọ là âm, nói về khí âm-dương cuả 12 kinh-mạch, quán-chú chư mạch mà không có giờ ngừng vậy. 12 kinh-mạch, tam-âm-kinh chân tay, mỗi cái được 5 huyệt, tam-dương-kinh chân tay, mỗi cái được 6 huyệt, để ứng với ngũ-hành tỉnh (mộc), vinh (hoả), du (thổ), kinh (kim), hợp (thủy) vậy, (mỗi phủ lại thêm một 'nguyên' huyệt), kinh nói chỗ xuất là tỉnh, chỗ lưu là vinh, chỗ chú là du, chỗ hành là kinh, chỗ nhập là hợp, tay không quá khuỷu tay, chân không quá đầu gối, dương-can 36 huyệt, âm-can 30 huyệt, vị chi là 66 huyệt vậy.

2)    Thứ đến nói về khai-hạp, khai-hạp tuy cấp-bệnh không bó buộc, nhưng hoăn-bệnh tất thủ. Phép lấy thiên-can mậu thổ, khởi giáp nghịch-hành, giáp-ất-mậu-canh thổ là dương, ất-đinh-kỷ-tân-quư là âm, dương tỉnh kim, âm tỉnh mộc, mỗi ngày 12 giờ, tiểu-chu nơi thân, 10 ngày đại-chu nơi thân, triển-chuyển lưu-chú, âm-dương  thác-lạc, tương-sinh, tương-hợp là khai, ắt thích nó, tương-khắc là hạp, ắt không thích, bởi chưng trực sinh ta, ta sinh, cùng tương-hợp là lúc khí-huyết sinh-vượng, nên khá biện hư-thực mà thích, khắc ta, ta khắc, cùng là lúc hạp-bế, ắt khí-huyết suy-tuyệt, không phải là lúc khí hành chưa đến. Khí hành đă qua, thích nó ắt sai mà dẫn tà-khí, hoại-loạn chân-khí, nên biết mà cẩn-thận.

3)    Nghinh-tùy: nghinh-tùy là nghinh thửa khí-phương thịnh mà đoạt lấy, tả-pháp vậy, tùy thửa khí-phương suy mà cứu lấy bổ-pháp vậy. Tố-vấn nói: "Tả tất dụng-phương, phương là lấy khí-phương thịnh vậy, lấy nguyệt-phương đầy đặn vậy, lấy nhật-phương ấm vậy, lấy thân-phương định vậy, lấy tức-phương hút vào mà chuyển-hàm, bèn phục hầu-phương hô mà từ-dẫn-hàm, nên nói: tả tất dụng thửa phương thửa khí mà hành vậy. Bổ tất dụng viên, viên là hành vậy, hành là di vậy, thích tức trúng thửa vinh, phục để hấp bài-hàm vậy. Nếu hợp tí-ngọ, ắt bên trái là dương, bên phải là âm, theo tư đến ngọ, nam-tử dương tiến âm-thoái, châm là nội-chuyển làm tả, ngoại-chuyển làm bổ, theo ngọ đến tí, ắt dương-thoái, âm-tiến, châm là ngoại-chuyển làm tả,nội-chuyển làm bổ, nữ-tử làm ngược lại".

4)    Phi-kinh Tẩu-chú: lẽ Phi-kinh Tẩu-chú, tuy chưa chép trong châm-kinh, cũng không ngoài tí-ngọ, đạo nghinh-tùy. Phàm nói cửu, tức tí dương vậy, phàm  nói lục, tức ngọ âm vậy, ngày âm ắt tả-lục, bổ-cửu, ngày dương ắt tả cửu, bổ lục vậy, kinh nói biết là châm tức tin thửa trái, không biết là châm tức tin thửa phải, lúc đang thích, trước tiên lấy tay áp-án chỗ vinh-du châm, cắt mà tán, cấu mà đè, thư dăn mà gắng, sờ mà men  theo, động mà ruỗi ra,  suy mà án, dao-động mà xuất, ngoại-dẫn thửa môn, mà khép thửa thần.

 

Tư-Ngọ Lưu-Chú Đồ

    

       Kinh-lạc thường án thửa sở thuộc tạng hoặc phủ: tạng là âm, phủ là dương; trong là âm, ngoài là dương, nên lấy công-năng cuả tạng là thuộc trong, xưng là lư; công-năng cuả phủ ngoại-tại, xưng là biểu. 

          Cổ-tịch 'Hoàng-đế Nội-kinh Linh-khu Tố-Vấn' nói: "Kinh mạch lưu-hành không ngừng, đồng-độ với trời, đồng-kỷ với đất, Vũ-trụ Đông-y trời-đất-người hợp nhất. Sức khoẻ con người nhận khí-tiết biến-hoá, hoàn-cảnh điạ-lư, để đưa đến ảnh-hưởng cuả thời-gian vận-chuyển, mỗi ngày 12 thời-thần (mỗi thời-thần là 2 tiếng đồng-hồ), liên-hệ với 12 kinh-mạch, mà kinh-mạch tương-phối với ngũ-tạng lục-phủ trong con người.

Tương-quan như sau: 

Thời-giờ

Thời-thần

Kinh-lạc/Tạng-phủ

23:00-1:00

Giờ tư

Mật (nên đi ngủ)

1:00-3:00

Giờ sửu

Gan

3:00-5:00

Giờ dần

Phổi

5:00-7:00

Giờ măo

Ruột già (Thức giậy nên uống nước)

7:00-9:00

Giờ thin

Dạ-dầy (Nên ăn sáng)

9:00-11:00

Giờ tỵ

Lá lách (Mỗi tiếng đồng-hồ nên uống nước một lần)

11:00-13:00

Giờ ngọ

Tim (Cởi mở, thoải-mái, vui vẻ)

13:00-15:00

Giờ mùi

Ruột non

15:00-17:00

Giờ thân

Bàng-quang

17:00-19:00

Giờ dậu

Thận

19:00-21:00

Giờ tuất

Tâm-bao (Hoạt-động, đi tản bộ)

21:00-23:00

Giờ hợi

Tam-tiêu

 

          Kỳ-kinh bát-mạch chỉ kinh-mạch biệt-đạo kỳ hành, bao gồm: đốc-mạch 督脈, nhâm-mạch 任脈, xung-mạch 沖脈, đới-mạch 帶脈, âm-duy-mạch陰維脈, dương-duy-mạch 陽維脈, âm-kiểu-mạch 陰蹻脈, và dương-kiểu mạch陽蹻脈.

          Túc thiếu-âm thận-kinh, túc thái-âm tỳ-kinh, túc quyết-âm can-kinh là chỗ liên-kết cuả chư âm. Chữ duy có nghiă là có duy-hệ liên-lạc với. Âm-duy-mạch khởi chỗ chư âm giao nhau (tam-âm giao-huyệt).

          Dương-duy-mạch là một trong tám kỳ-kinh bát-mạch. Dương-duy-mạch có công-năng duy-hệ các dương-kinh trong nhân-thân.

 

                  Âm-duy Mạch                           Dương-duy Mạch

 

    Âm-kiểu Mạch  Dương-kiểu Mạch        Âm-kiểu Mạch  Dương-kiểu Mạch

          Âm-kiểu Mạch là một trong tám kỳ-kinh bát-mạch, là biệt-mạch cuả túc thiếu-âm thận Kinh. Âm-kiểu Mạch khởi từ giữa gót chân, hay nói một cách chính-xác hơn, khởi từ nhiên-cốc-huyệt cuả túc thiếu-âm thận Kinh, men theo bẹn, sinh-thực-khí, bụng-ngực, lên đến yết-hầu cho chí huyệt t́nh-minh. Nạn-kinh nói: "Âm-kiểu mắc bệnh, dương nhặt, âm khoan, dương-khí bất-túc, âm-khí thiên-thịnh, muốn nhắm mắt mà ngủ". Dương-kiểu Mạch là một trong tám kỳ-kinh bát-mạch, là biệt-mạch cuả túc Thái-dương bàng-quang Kinh. Khởi từ căn-trung-huyệt, men theo mé ngoài chân mà đi lên, rồi nhập huyệt phong-tŕ. Âm-dương kiểu-mạch giao-hội nơi vành trong cuả mí mắt, rồi nhập vào óc, nên chương 'Hàn-nhiệt Bệnh' trong sách Linh-khu có nói: "Dương-khí thịnh ắt mắt sáng; âm-khí thịnh ắt mắt mờ. Dương-kiểu mạch thịnh ắt khó ngủ; âm-kiểu-mạch mất điều-hoà ắt mé trong chi-thể cơ-nhục buông thả, mà mé ngoài lại câu-cấp".

Ngũ

 

Du

Thuộc-

 

Can-

kinh

Tâm-

kinh

Tỳ-

kinh

Phế-

kinh

Thận-

kinh

Tâm-

Bao

kinh

Danh

xưng

 

tính

Ất

Mộc

Đinh

Hoả

Kỷ

Thổ

Tân

Kim

Quư

Thủy

Tướng

Hoả

Tỉnh

Ất

Mộc

Đại-

Đôn

Thiếu-

Xung

Ẩn-

Bạch

Thiếu-

Thương

Dũng-

Tuyền

Trung-

Xung

Vinh

Đinh

Hoả

Hành-

Gian

Thiếu-

Phủ

Đại-

Đô

Ngư-

Tế

Nhiên-

Cổ

Lao-

Cung

Du

Kỷ

Thổ

Thái-

Xung

Thần-

Môn

Thái-

Bạch

Thái-

Uyên

Thái-

Khê

Đại-

Lăng

Nguyên

 

Thái-

Xung

Thần-

Môn

Thái-

Bạch

Thái-

Uyên

Thái-

Khê

Đại-

Lăng

Kinh

Tân

Kim

Trung-

Phong

Linh-

Đạo

Thương-

Khâu

Kinh-

Cừ

Phục-

Lưu

Gian-

Sứ

Hợp

Quư

 

Thủy

Khúc-

 

Tuyền

Thiếu-

 

Hải

Âm-

Lăng-

Tuyền

Xích-

 

Trạch

Âm-

 

Cốc

Khúc-

 

Trạch

  

Tam-

Tiêu

Kinh

 

Vị-

 

Kinh

Tiểu-

Trường

Kinh

Đảm

 

Kinh

Bàng-

Quang

Kinh

Đại-

Trường

Kinh

Thuộc

 

 

Tướng

Hoả

Mậu

Thổ

Bính

Hoả

Giáp

Mộc

Nhâm

Thủy

Canh

Kim

 

Tính

Quan

Xung

Lệ

Đoài

Thiếu

Trạch

Khiếu

Âm

Chí

Âm

Thương

Dương

Canh

Kim

Dịch

Môn

Nội

Đ́nh

Tiền

Cốc

Hiệp

Khê

Thông

Cốc

Nhị

Gian

Nhâm

Thủy

Trung

Chử

Hăm

Cốc

Hậu

Khê

Lâm

Khấp

Tốc

Cốc

Tam

Gian

Giáp

Mộc

Dương

Tŕ

Xung

Dương

Uyển

Cốt

Khưu

Khư

Kinh

Cốt

Hợp

Cốc

 

Chi

Cấu

Giải

Khê

Dương

Cốc

Dương

Phụ

Côn

Lôn

Dương

Khê

Bính

Hoả

Thiên

 

Tỉnh

Tam

 

Tiểu

 

Hải

Dương

Lăng

Tuyền

Uỷ

 

Trung

Khúc

 

Tŕ

Mậu

 

Thổ

 

 

      Tư-Ngọ Lưu-Chú Chu-Giáp Khai-Huyệt Đồ

            子午 流注 周        

  

4

               Đoài

Kim

Thủ Thiếu-âm Tâm

Thủ Dương-minh Đại-trường

9

Kiền

Kim

Đốc-mạch

2

Tốn

Mộc

Túc Thiếu-dương Đảm

Túc Quyết-âm Can

3

Ly

Hoả

Thủ Thiếu-âm Tâm

Thủ Thiếu-dương Tiểu-trường

 

7

Khảm

Thủy

Túc Thiếu-âm Thận

Túc Thái-dương Bàng-quang

8

Chấn

Tướng Hoả

Thủ Quyết-âm Tâm-bao-lạc

Thủ Thiếu-dương Tam-tiêu

 

1

Khôn

Thổ

Nhâm-mạch

 

6

                Cấn

Thổ

Túc Dương-minh Vị

Túc Thái-âm Tỳ

Nhân-thân Đốc-Nhâm Mạch Thủ-túc Kinh-Mạch ứng Lạc-thư Tiên-Thiên Bát-Quái Đồ

(014, tr. 306-310) 

 

                Nhân-thân là một trong tam-tài. Ngôi ở giữa trời đất, vốn giống trời đất. Ắt những cái gọi là Hà-đồ, Lạc-thư, Bát-quái, thửa lư tự-nhiên tương-thông với nhân-thân. Dịch bảo gần lấy nơi thân ḿnh, Kiền đầu, khôn bụng, chấn chân, tốn đùi vế, khảm tai, ly mắt, cấn tay, đoài miệng. Đó là thô-cử thửa đại-lược. Quẻ sở dĩ ứng nhân-thân, há chỉ lấy h́nh-thể thô-tích tỷ-nghĩ sao? Nhân-thân có đốc-mạch, theo chỗ giữa nhị-âm, đi qua vỹ-lư (coccyx), lần theo xương sống mà đi lên đến đỉnh đầu, đi xuống đến nhân-trung rồi ngừhg trên môi. Có nhâm-mạch lần theo tiền-âm, men theo bụng mà đi lên, đến dưới môi miệng. Hai mạch này tức kiền-khôn cuả nhân-thân, cũng tức là hai số biểu-lư cuả cửu-nhất, cửu nhị. Đốc thống-lĩnh duơng cuả thân, nhâm thống-lĩnh âm cuả thân. Không những chỉ nhân-thân có, điểu-thú trùng-ngư đều có, tức các loại hoa quả đều có. Nhân-thân trong có tạng-phủ, ắt trong cơ-nhục có 12 kinh-mạch, chạy nơi tay 6 cái, chạy nơi chân 6 cái. Tức ngoài kiền-khôn, có 6 quẻ con. Quẻ 9-1 có các số:  2-8-3-7-4 vậy.  4-6 là đoài kim cấn thổ, không phải tức là tương biểu-lư cuả thái-âm, dương-minh sao? Thủ thái-âm phế, từ tạng chạy đến tay. Thủ dương-minh đại-trường, từ tay chạy lên đầu. Phế và đại-trường làm  biểu-lư cho nhau vậy. Túc dương-minh vị, từ đầu chạy xuống chân. Túc thái-âm tỳ, từ chân chạy lên bụng. Tỳ với vị làm biểu-lư cho nhau vậy. 3-7 là ly hoả, khảm thủy, không phải tức là thiếu-âm, thái-dương làm biểu-lư cho nhau sao? Thủ thiếu-âm tâm từ tạng chạy sang tay, thủ thái-dương tiểu-trường, từ tay chạy lên đầu, tâm với tiểu-trường làm biểu-lư cho nhau vậy. Túc thái-dương bàng-quang, từ đầu chạy xuống chân, túc thiếu-âm thận, từ chân chạy lên bụng, thận với bàng-quang làm biểu-lư cho nhau vậy. 8-2 là chấn dương-mộc, tốn âm-mộc, mà dương-mộc tức là tướng-hoả. Chẳng phải tức là quyết-âm thiếu-dương làm biểu-lư cho nhau sao? Thủ quyết-âm  tâm-bao-lạc, từ tạng chạy sang tay, thủ thiếu-dương tam-tiêu từ tay chạy lên đầu, tâm-bao-lạc và tam-tiêu làm biểu-lư cho nhau vậy. Túc thiếu-dương đảm từ đầu chạy xuống chân, túc quyết-âm can từ chân chạy lên bụng, can với đảm làm biểu-lư cho nhau vậy. Do đó mà xem, hai mạch đốc-nhâm là trời đất định ngôi cuả nhân-thân vậy. Phế kim, tỳ thổ, đại-trường kim, vị thổ là núi đầm thông hơi cuả nhân-thân vậy. Tâm hoả, thận thủy, tiểu-trường hoả, bàng-quang thủy là thủy-hoả bất-tương-xạ (thủy hoả không nhàm chán nhau) cuả nhân-thân vậy. Tướng-hoả cuả tam-tiêu, tâm-bao-lạc, âm-mộc cuả can-đảm tức lôi-phong tương-bạc (sấm gió cùng xô xát nhau) cuả nhân-thân vậy. Tạo-hoá tương-phù như thế, mà ba quẻ dương-nghi đoài-ly-chấn, thửa mạch chạy nơi tay, các quẻ âm-nghi tốn-khảm-cấn, thửa mạch chạy nơi chân, lư tự-nhiên, thiên-cổ chưa từng trải qua nhân-đạo vậy.

          Mười số Hà-đồ, chính ứng thiên-can, cùng là phối tạng-phủ. Giáp đảm, ất can, bính tiểu-trường, đinh tâm, mậu tỳ, kỷ vị, canh đại-trường, tân phế, nhâm bàng-quang, quư thận. Ngũ-tạng, ngũ-phủ không năng giúp ích vậy. Nên phải vẽ ra bát-quái, ắt ngoài kiền-khôn c̣n có sáu quẻ con vậy. Hà-đồ biến ra lạc-thư, ắt ngoài 9-1 ra, c̣n có sáu ngôi 4-6, 3-7, 2-8 vậy. Ắt ngũ-tạng có lục-phủ để tam-tiêu là cô-phủ vậy. Lục-phủ có lục-tạng để tâm-bao-lạc làm phối vậy. Đó là biến-hoá âm-dương ngũ-hành thật ly-kỳ vậy, mà không biết thửa vô-kỳ vậy. Bát-quái, lục-thư sớm tŕnh thửa tượng. Nguời ta tự không quan-sát mà thôi. Ngũ-hành nên mỗi cái chuyên một thứ, mà hoả có hai thứ. Một là quân-hoả. Một là tướng hoả. Lấy quẻ phối đấy, quân hoả là ly vậy. Tướng hoả là chấn vậy. Chấn là dương mộc, cớ sao lấy làm tướng hoả? Hoả vô-thể, lấy mộc làm thể vậy. Tâm-bao-lạc, tam–tiêu đều là tạng-phủ cuả tướng hoả, nên thuộc ngôi cuả cuả chấn bát.

          Lấy chấn làm tướng hoả, đến nay nho-gia và y-gia đều chưa biết. Không xem Thuyết-quái-truyện sao? Chấn là hoả cuả lôi, cuả long, mà không biết tướng hoả tức quẻ chấn. Có thể gọi là mê-hoặc quá đáng vậy. Không những tâm-bao-lạc và tam–tiêu là quẻ chấn, tức hữu-xích, mệnh-môn cũng chính là quẻ chấn. Nguời ta tự không quan-sát mà thôi.

          Y-gia bảo tướng-hoả cũng gởi nơi can-đảm. V́ sao vậy? 8 với 2 vốn dĩ là quyết-âm, thiếu-dương tương-thông. Tâm-bao-lạc và gan đều là quyết-âm, tam-tiêu với đảm đều là thiếu-dương. Vả chăng nhị vốn là hoả nam-phương cuả Hà-đồ, nên tướng hoả cũng gởi nơi can-đảm.

          Mười hai kinh-mạch khởi từ thủ thái-âm phế, kết-thúc nơi túc quyết-âm can, thửa thứ-tự ắt đoài và cấn. Ly nơi khảm, chấn nơi tốn, phù-hợp với thứ-tự cuả lục-tử chăng? Tuần-hoàn chu-lưu. Ban ngày hành 25 độ dương, ban đêm hành 25 độ âm, để ứng với số đại-diễn. Thánh-nhân viết nên Kinh Dịch, bất tất cầu hợp nơi nhân-thân, mà nhân-thân tự-nhiên tương phù-hợp như thế.

          Y-gia lại có Tư-ngọ Lưu-chú Kinh, bảo là cái huyết-khí nhân-thân chú ứng với 12 thời-thần. Nay suy ra, chính là ứng với Tiên-thiên Bát-quái Hoành-đồ.

 Hoành-Đồ Ứng Khí-Huyết Lưu-Chú Đồ

 

TH̀N

THÂN

HỢI

MÙI

MĂO

 

 

Vị

Bàng-

quang

Đảm

Tam-

Tiêu

Tiểu-

Trường

Đại-

Trường

 

Khôn

Cấn

Khảm

Tốn

Chấn

Ly

Đoài

Kiền

Nhâm-Mạch

Tỳ

Thận

Can

Tâm-

Bao

Tâm

Phế

Đốc-

Mạch

Chủ

TỴ

DẬU

SỬU

TUẤT

NGỌ

DẦN

Chủ

Nhất-Thân

 

 

 

 

 

 

Nhất-Thân

Chi

Âm

 

 

 

 

 

 

Chi

Duơng

 

Thứ-tự quẻ là thứ-tự tiên-thiên: Kiền, Đoài, Ly, Chấn; Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Bỏ Kiền-Khôn đuơng Đốc-Nhâm, ắt lục-tử là: Đoài, Cấn, Ly, Khảm, Chấn, Tốn. Tạng-phủ, Kinh-mạch, tiếp-tục như thế chu-lưu làm một ngày hành 50 chu-kỳ, mà khí-huyết lại có thời-thần để chú. Hai điều đi song song mà đồng-bộ vậy. Giờ dần, Phế triều bách-mạch, nên Phế  bắt đầu từ dần. Dương-nghi tiên tạng hậu phủ; âm-nghi iên phủ hậu tạng. Tạng cuả dưong-nghi là dần-ngọ-tuất. Phủ là măo-mùi-hợi. Phủ cuả âm-nghi là th́n-thân-tư, tạng là tỵ-dậu-sửu. Tâm là chủ cuả một thân, chính đuơng dương cuả giờ ngọ. Đảm đứng đầu giáp-mộc nên ứng với đầu giờ tư. Là v́ tư-ngọ lưu-chú y-gia biết là như thế, không biết tại sao lại ứng với Hoành-đồ Lục-tử như thế vậy.

                Ngũ-hành biến mà là lục-khí. Phân-minh tương-phối với lục-tử. Phong là quyết-âm phong mộc, là tốn vậy. Hàn là thái-dương hàn-thủy, là khảm vậy. Thử là thiếu-âm quân hoả, là ly vậy. Thấp là thái-âm thấp-thổ, là cấn vậy. Táo là dương-minh táo kim, là đoài vậy. Hoả là thiếu-dương tướng hoả, là chấn vậy. Cho đến nay Nho-gia, Y-gia chưa có nói đến lục-khí tức lục-tử. Tại sao vậy? Nho-gia hẳn biết có bát-quái, mà không biết kiền-khôn tổng-lĩnh âm-dương. Thửa lúc dụng chỉ c̣n sáu quẻ. Đó là một lẽ. Nhưng mà biết đoài là đầm, cấn là núi, chấn là sấm, mà không biết đoài tức thị táo kim, núi tức thị thấp-thổ, sấm tức thị tướng hoả. Đó là hai lẽ. Y-gia cũng biết có ngũ-hành, có lục-khí, mà không biết lục-khí bản-nguyên ở lục-quái. Dương-mộc tức thị tướng hoả. Đó là một lẽ. Cũng biết tướng hoả gốc ở mệnh-môn, mà không biết mệnh-môn tức thị quẻ chấn. Đó là hai lẽ. Cũng biết thứ-tự cuả chủ-khí, in như ngũ-hành tướng hoả đứng sau quân-hoả. Thứ-tự cuả khách-khí, in như tam-âm, tam-dương, thấp thổ đứng trước tướng hoả, mà không biết lục-quái lưu-hành ra làm sao! Đó là ba lẽ. Nay muốn hiểu rơ lục-tử tức lục-quái, trước tiên nên giải-thích thứ-tự khách-khí lưu-hành. Khí tam-âm (quyết-âm phong mộc, thiếu-âm quân hoả, thái-âm  thấp-thổ), âm-khí hữu-triền, cách một quẻ mà lưu-hành. Do tốn rồi ly, rồi cấn, âm nghi được hai quẻ, dương-nghi được một quẻ vậy. Khí tam-dương (thiếu-dương tướng hoả, dương-minh táo kim, thái-dương hàn thủy), dương-khí tả-triền, cũng cách một quẻ mà lưu-hành, do chấn, rồi đoài, rồi khảm, dương-nghi được hai quẻ, âm-nghi được một quẻ vậy. Âm-khí bắt đầu bằng tốn, dương-khí bắt đầu bằng chấn có nghiă là ngôi cuà 2-8. Trưởng-nữ, trưởng-nam giao nhau. Tướng hoả nhập hợp. Gốc cuả tạo-hoá phát-sinh. Chủ-khí ắt nhị-hoả tương-tùy tiên chấn, hậu cấn mà thôi. Lấy chủ-khí thuận-tự làm thường hằng, lấy khách-khí gia-lâm làm biến, hai cái ấy dật-vận bất cùng, gốc đều từ quái-hoạch mà ra, cớ sao nho-gia, y-gia đều không hiểu nguồn gốc.

          Cái mà Tả-truyện nói về y và lục-khí: âm-dương, phong-vũ, hối-minh, lại bất-đồng với y-gia. Tại sao? Đáp: Cũng là đồng vậy. Nhưng nói ra lại khác, là v́ lời nói khác đi mà thôi. Âm-dâm hàn-tật là thái-dương hàn-thủy vậy. Dương-dâm nhiệt-tật là thiếu-dương tướng-hoả vậy. Phong-dâm mạt-tật là quyết-âm phong-mộc vậy. Vũ-dâm phúc-tật là thái-âm thấp-thổ vậy. Hối-dâm hoặc-tật là thiếu-âm quân-hoả vậy. Minh-dâm tâm-tật là dương-minh táo-kim vậy. Hoặc-tật cố-nhiên là bệnh tâm-thần, cổ-hoặc. Minh-dâm cớ sao lại là tâm-tật? Bảo là tâm–hoả khắc phế-kim, mà phế nhiệt thửa tật là do tâm vậy. Lấy lục-mạch mà hợp, âm-dương là tả-xích thận, hữu-xích mệnh-môn vậy. Phong-vũ là tả-quan can, hữu-quan tỳ vậy. Hối-minh là tả-thốn tâm, hữu-thốn phế vậy. Bất-đồng với Tố-vấn lục-khí là y-gia mỗi nhà được truyền-thụ khác nhau vậy. Lấy mệnh-môn làm dương-dâm nhiệt-tật như tiêu-khát-tật vậy. Long-hoả thướng viêm, há chẳng phải quẻ chấn tướng hoả sao?

          Lục-khí phân âm-dương, ắt phong-mộc là quyết-âm, quân-hoả là thiếu-âm, thấp-thổ là thái-âm, tốn-cấn tại âm-nghi là âm, mà ly tại dương-nghi cũng là âm, trong dương có âm vậy. Tướng-hoả là thiếu-dương, táop-kim là dương-minh, hàn-thủy là thái-dương. Chấn-đoài tại dương-nghi là dương, mà khảm tại âm-nghi cũng là dương, trong âm có dương vậy. Tam-âm chủ nơi tạng, là can, tâm, tỳ, tam-dương chủ nơi phủ, là tam-tiêu, đại-trường, bàng-quang, mà âm-dương mỗi đằng làm biểu-lư cho nhau, ắt chấn-tốn đối, mà thiếu-dương với quyết-âm làm biểu-lư. Khảm-ly đối, mà thái-dương với thiếu-âm. Đoài-cấn đối, mà dương-minh với thái-âm làm  biểu-lư. Lúc đó một tạng phối-hợp với một phủ, mà quyết-âm can với tiểu-trường đảm làm phối; thiếu-âm tâm, với tiểu-trường, đại-trường làm phối, thái-âm tỳ, với dương-minh vị làm phối, thiếu-dương tam-tiêu với quyết-âm tâm-bao-lạc làm phối. Dương-minh đại-trường với thái-âm phế làm phối. Thái-dương bàng-quang với thiếu-âm thận làm phôi vậy. Kim-thổ đối-hoá, mà táo-thấp tương-thắng.Thủy-hoả đối-hoá, mà hàn-thử tương-địch. Mộc-hoả đối-hoá, mà phong-hoả tương-tùy vậy. Trời có lục-khí, người có lục-tạng, lục-phủ, quái-vị tiên-định đấy vậy.

          Đồ cuả Trương Cảnh-Nhạc trong Loại-Kinh là lục-khí vậy. Lấy nhiệt làm quân-hoả, thử làm tướng-hoả. Như vậy, thử tự là đối hàn, những chỗ khác nói về lục-khí đều nói: hàn-thử-táo-thấp-phong-hoả, ắt không đuợc lấy thử làm táo-hoả vậy. Lấy chủ-khí mà nói, từ tháng hai xuân-phân, đến tháng tư lập-hạ, tuy không đương là sau tiểu-thử, đại-thử, mà khí đă từ từ hướng nắng ấm, ắt cũng khả dĩ gọi là thử, Nội-kinh nói: thần tại trời là hoả, tại đất là nhiệt, điều ấy hợp với quân-hoả, tướng-hoả. Nếu phân làm hai, ắt đều lấy thử làm quân-hoả, nhiệt làm tướng-hoả. Tổng chi, hàn-thủy đối quân hoả, phong-mộc đối tướng-hoả, điều ấy có điạ-vị nhất-định. Nói thử, nói nhiệt, có thể nhiệt là hoả, nhiệm-nhân nói ra đều khả dĩ. Nay đồ chừng lấy thử là quân-hoả, hoả là tướng-hoả.

          Họ trương nói: Đạo trời đất lấy 6 làm tiết, tam-tài mà nhân đôi, thành ra là sáu hào, sáu cơ, sáu văn, cả thẩy thành ra 12. Biết điều ấy, ắt chu-lưu cuả doanh-vệ, biểu-lư cuả kinh-lạc, tượng ở tại bên trong vậy. Án: bát-quái, thoạt tiên có ba vạch, rồi sau mới chồng lên thành sáu hào, ắt sáu hào có nghiă riêng biệt. Nếu kinh-lạc biểu-lư căn-cứ vào lục-khí, mà lục-khí ứng lục-tử, rất ư là đích-đáng. Họ Trương không biết cầu lục-phủ, lục-tạng nơi tiên-thiên quái-vị, mà lấy lục-hào làm lẻ chẵn, chính là tỷ-phụ, sơ-suất vậy. 

   Chủ-khí Lưu-hành Ứng Tiết-khí Quái-mạch Đồ

 

Hàn

Phong

Thử

Hoả

Thấp

Táo

Thái-dương

Hàn-thủy

Quyết-âm

Phong-mộc

Thiếu-âm

Quân-hoả

Thiếu-dương

Tướng-hoả

Thái-âm

Thấp-thổ

Dương-minh

Táo-kim

Tiểu-tuyết

Đại-hàn

Xuân-phân

Tiểu-măn

Đại-thử

Thu-phân

Đại-tuyết

Lập-xuân

Thanh-minh

Mang-chủng

Lập-thu

Hàn-lộ

Đông-chí

Vũ-thủy

Cốc-vũ

Hạ-chí

Xử-thử

Sương-giáng

Tiểu-hàn

Kinh-trập

Lập-hạ

Tiểu-thử

Bạch-lộ

Lập-đông

Khảm

Tốn

Ly

Chấn

Cấn

Đoài

Tả-xích

Tả-quan

Tả-thốn

Hữu-xích

Hữu-quan

Hữu-thốn

Năm giáp-kỷ: thổ-vận; năm ất-canh: kim-vận; năm bính-tân: thủy-vận; năm đinh-nhâm: mộc-vận; năm mậu-quư: hoả-vận. 

Cách Tính: giáp = 1, ất = 2, bính = 3, đinh = 4, mậu = 5, kỷ = 6, canh = 7, tân = 8, nhâm 9, quư = 10.  Tư = 1 (thủy), sửu = 2 (thổ), dần = 3 (mộc), măo = 4 (mộc), th́n = 5 (thổ), tỵ = 6 (hoả), ngọ = 7(hoả), mùi = 8 (thổ), thân = 9 (kim), dậu = 10 (kim), tuất = 11 (thổ), hợi = 12 (thủy). Gọi c là can cuả năm, chi cuả vận sẽ là: 

C = 2 x c + 3 (Amod 5) (kiểm!). Vd1: năm giáp-kỷ, c = 1, C = 2 x 1 + 3 = 5 (mậu) thổ. Hành cuả vận là hành cuả can C vừa tính được. Vd2: c = 2, C = 2 x 2 + 3 = 7 (canh) ---> Kim. Vd3: c = 3, C = 2 x 3 + 3 = 9 (nhâm)  thủy.

 

 Khách-khí Gia-lâm Tư-thiên Tại-tuyền Định-cục Đồ
 

Năm

Khí

Lục-khí

Cục

Năm

Khí

Lục-khí

Cục

Tí-ngọ

Thái-âm

Phong-thủy

 

Sửu-mùi

Quyết-âm

Phong-mộc

 

 

Nhị

Quyết-âm

Phong-mộc

 

 

Nhị

Thiếu-âm

Quân-hoả

 

 

Tam

Thiếu-âm

Quân-hoả

Tư-thiên

 

Tam

Thái-âm

Thấp-thổ

Tư-thiên

 

Tứ

Thái-âm

Thấp-thổ

 

 

Tứ

Thiếu-dương

Tướng-Hoả

 

 

Ngũ

Thiếu-dương

Tướng-Hoả

 

 

Ngũ

Dương-minh

Táo-kim

 

 

Lục

Dương-minh

Táo-kim

Tại-tuyền

 

Lục

Thái-dương

Hàn-thủy

Tại-tuyền

Dần-thân

Thiếu-âm

Quân-hoả

 

Măo-dậu

Thái-âm

Thấp-thổ

 

 

Nhị

Thái-âm

Thấp-thổ

 

 

Nhị

Thiếu-dương

Tướng-Hoả

 

 

Tam

Thiếu-dương

Tướng-Hoả

Tư-thiên

 

Tam

Dương-minh

Táo-kim

Tư-thiên

 

Tứ

Dương-minh

Táo-kim

 

 

Tứ

Thái-dương

Hàn-thủy

 

 

Ngũ

Thái-dương

Hàn-thủy

 

 

Ngũ

Quyết-âm

Phong-mộc

 

 

Lục

Quyết-âm

Phong-mộc

Tại-tuyền

 

Lục

Thiếu-âm

Quân-hoả

Tại-tuyền

Th́n-tuất

Thiếu-dương

Tướng-Hoả

 

Tỵ-hợi

Dương-minh

Táo-kim

 

 

Nhị

Dương-minh

Táo-kim

 

 

Nhị

Thái-dương

Hàn-thủy

 

 

Tam

Thái-dương

Hàn-thủy

Tư-thiên

 

Tam

Quyết-âm

Phong-mộc

Tư-thiên

 

Tứ

Quyết-âm

Phong-mộc

 

 

Tứ

Thiếu-âm

Quân-hoả

 

 

Ngũ

Thiếu-âm

Quân-hoả

 

 

Ngũ

Thái-âm

Thấp-thổ

 

 

Lục

Thái-âm

Thấp-thổ

Tại-tuyền

 

Lục

Thiếu-dương

Tướng-Hoả

Tại-tuyền

 

Cước-chú:

Khách-khí gia-lâm, trước tiên định năm tư-ngọ là thiếu-âm quân-hoả để tư-thiên. Mỗi năm chuyển một vị. Tư-thiên là tam-khí, chủ thượng-bán-niên, tại-tuyền là lục-khí, chủ hạ-bán-niên. Phàm sơ-khí khởi đại-hàn, nhị-khí khởi xuân-phân, tam-khí khởi tiểu-măn, tứ-khí khởi đại-thử, ngũ-khí khởi thu-phân, lục-khí khởi tiểu-tuyết. Dương-niên thái-quá đến trước, âm-niên bất-cập-khí đến sau. Xem hai chủ-khí và khách-khí có hoà hay không, mà tật-bệnh cuả con người ứng vào. Lục-khí với tạng-phủ tương-thông vậy. Muốn am-tường thuyết này, xin xem Tố-vấn.

 

 

 

 

Xem Bài số 4

 

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hữu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com