www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

 

KHÍ-HUYẾT

 Khí Nạp Tam-tiêu, Huyết Quy Bào-Lạc

 


 

 (Đọc Bài số 1)

 

TƯ-NGỌ LƯU-CHÚ

 LƯU-CHÚ KHÁI-THUYẾT

 Nguyên-Lư Tư-Ngọ Lưu-Chú

 

     Tại nhân-thể, khí và thần-kinh phát-dụng lưu-hành, có rất nhiều loại tương-tự:

    Mạnh-tử nói: "Ôi! Chí là tướng-suư cuả khí, là sung-măn cuả thể vậy".

  Chí, hoặc xưng là tâm-chí, có thể giải-thích là làm ư-chí kiên-cường, có thể tác-dụng chỉ-huy được thần-kinh, phát-dụng lưu-hành cuả khí, loại cũng tương-tự.

   Khí, cũng là lực-lượng thần-kinh, kiện thân y-tịch thời Lục-triều, có tên là Dịch-cân-kinh, ư-chỉ tại lấy ư vận khí, vận-động lực-lượng thần-kinh, động-dụng sức cuả hoàng-cách-mạc, vận-hành khí-quan nội-tạng, tập-trung tư-tưởng vào hạ-phúc, tâm với thần cùng nhau, chú-ư vào khiến thần-kinh cuả hạ-bộ-phúc sung-huyết, lấy hiệu-dụng phát-huy lực-lượng tinh-thần.

          Lấy ư-chí vận-dụng lực-lượng tinh-thần ấy tập-trung tại một chỗ, nhập vào đốc-mạch cuả kỳ-kinh bát-mạch, loại vận-dụng lực-lượng tinh-thần ấy, tại mạch chính kinh long-thịnh, ắt tràn đầy nơi kỳ-kinh, trong kỳ-kinh, lấy đốc-mạch làm chủ dương cuả thân hậu; nhâm-mạch chủ âm cuả thân tiền, đốc-mạch tức hải cuả dương-mạch, nhâm-mạch là hải cuả âm-mạch, hai mạch nhâm-đốc là tư-ngọ-tuyến cuả nhân-thân, tức là đạo dương-hoả âm-phù cuả đan-gia, là quê-hương cuả khảm thuỷ, ly hoả tương-giao-cấu, tiên-gia gọi là quy-căn-huyệt. Đó chính là nơi nguyên-khí sinh ra.

          Sau đây là biểu tương-quan giữa kinh-mạch và tạng-phủ: 

Cung

Tạng-Phủ

Tên Việt

Kinh-Mạch

Đảm

Mật

Túc Thiếu-Dương Đảm-Kinh

Sửu

Can

Gan

Túc Dương-Minh Can-Kinh

Dần

Phế

Phổi

Thủ Thái-Âm Phế-Kinh

Măo

Đại-trường

Ruột Già

Thủ Dương-Minh Đại-Trường-Kinh

Th́n

Vị

Dạ Dầy

Túc Dương-Minh Vị-Kinh

Tỵ

Tỳ

Lá Lách

Túc Thái-Âm Vị Kinh

Ngọ

Tâm

Tim

Túc Thiếu-Âm Tâm-Kinh

Mùi

Tiểu-trường

Ruột Non

Túc Thái-Âm Tiểu-Trường-Kinh

Thân

Bàng-quang

Bong Bóng

Túc Thái-Dương Bàng-Quang-Kinh

Dậu

Thận

Cật

Túc Thiếu-Dương Thận-Kinh

Tuất

Bao-lạc

Vỏ Tim

Túc Dương-Minh Tâm-Bao-Kinh

Hợi

Tam-tiêu

Thượng-Tiêu

Trung-Tiêu

Hạ-Tiêu

Túc Thiếu-Dương Tam-Tiêu-Kinh

  

Vận-Hành Tư-Ngọ-Tuyến trong Nhân-Thân

         Tập nội-công là lấy ư sai-khiến thần-kinh hoạt-động dể ảnh-hưởng đến thân-thể, vận-hành cuả đường lối có bốn trọng-điểm sau đây:

1)    Tích-tủy: đó là trọng-điểm đốc-mạch thông-lộ vận-hành, là nhân-thân

huyết-Khí qua lại tuần-hoàn, phát-xuất tự-chủ thần-kinh quản-chế nội-tạng, để ư-chí khiến cho sức cuả tích-tủy truyền qua hậu-năo, đến đỉnh đầu chuyển qua tiền-năo, xuống dưới ngực-bụng, cho đến đan-điền rồi quay về năo-tủy.

2)    Ngực-bụng: lợi-dụng vận-động cuả hoàng-cách-mô, khiến cho thần-kinh và tiền-bộ cơ-nhục cuả đỗng-thể (tức thân người từ cổ đến bẹn, trừ hai tay ra) vận-động trở lại, khiến cho toàn-bộ khí-huyết cuả thần-kinh ấy  tăng-gia.

3)    Tay-chân: dương-cược (phiá dưới mắt cá  chân bên trái), khởi từ bàn chân, men theo bên trong chân mà đi lên hai bên trái-phải   Âm-cược (phiá dưới mắt cá  chân bên phải), men theo bên trong chân mà đi lên hai bên trái-phải.

4)    Đầu: hai mạch nhâm-đốc là nguồn cuả tạo-hoá, một mạch âm-cược trên thông nê-hoàn (năo-thất 7), dưới thấu huyệt dũng-tuyền, dhu-lưu toàn-thân, quán-thông trên dưói. Đan-kinh nói: "Giáp-tích song-quan đến đỉnh đầu, tu-hành lộ-kính là quư nhất". Tức chỉ thần-kinh các bộ-vị trên đỉnh đầu phát-sinh tác-dụng trên dưới, cùng là tác-dụng hoàng-cách-mô thăng-giáng. Những người chưa từng trải qua ư giữ đan-điền, khống-chế và vận-hành hoạt-động đặc-biết cuả thần-kinh, nên đương lúc ho hoặc suyễn, thửa sức hô-hấp đều thuộc hướng thượng; thửa khí quán nơi nghịch, đến lúc chất toan ăn loét dạ-dày, thường là người sức hô-hấp hướng hạ.
 

Khái-Biệt Thần-Kinh

          Trong nhân-thể, cơ-năng cuả động-lực vá áp-lực là thần-kinh, xin liệt-kê các loại-biệt:

1)    Đầu-bộ liên-quan đến tư-tưởng trí lực, bộ-0phận  kư-ức-lực.

2)    Năo và tích-tuỷ cai-quản bộ xương.

3)    Cảm-giác tiếp-thụ-khí cuả cảm-giác thần-kinh.

Đại-bộ-phận trung-khu thần-kinh được ư chí cai-quản, là xớ năo-tích-tuỷ tổ

thành, các dây thần-kinh, từ tích-tủy phân-bố ra khắp thân–thể, men  theo các tiểu-chi, đạt đến các bộ-phận trong toàn-thân, do thể-biểu truyền-đạt tiêu-tức đến năo, là đại-bộ-phận là cảm-giác, như lạnh, nóng, đau-đớn, xúc-giác v.v. gửi về năo, tên là cảm-giác thần-kinh hoặc truyền-nhập thần-kinh.

          Do năo truyền tiêu-tức đến, tổ thành thần-kinh, b́nh thường nghe mệnh-lệnh để vận-động bắp thịt, nên tên là vận-động thần-kinh hay truyền-xuất thần-kinh.

          Năo-thần-kinh gồm có 12 đôi: khứu-thần-kinh, thị-thần-kinh, động-nhăn thần-kinh, hoạt-xa thần-kinh, tam-thoa thần-kinh, ngoại-triển thần-kinh, diện thần-kinh, thính-thần-kinh, thoại-hầu thần-kinh, mê-tẩu thần-kinh, phó-thần-kinh và thiệt-hạ thần-kinh.

          Tích-tuỷ thần-kinh có 31 đôi là: 8 đôi đầu-thần-kinh, 12 đôi năo-thần-kinh, 5 đôi yêu-thần-kinh, 5 đôi đế-thần-kinh tức bối-hậu thần-kinh, một đôi vỹ-thần-kinh.

          Tự-chủ thần-kinh có hai tác-dụng:

1)    Phân-bố bất-kỳ nơi nào trong thân-thể có bắp thịt không sớ, không bị ư-

chí cai-quản, khống-chế nội-tạng với công-tác huyết-quản.

2)    Phân-bố nơi tim cùng tuyến-thể, tự-chủ thần–kinh không bị ư-chí cai-quản, nhưng không phải là một hệ-thống độc-lập, mà kỳ thực liên-hệ mật-thiết với cơ-cấu thần-kinh toàn-thân.

          Tự-chủ thần-kinh có thể chia thành hai loại:

1)    Hệ-thống phó-giao-cảm thần-kinh (cũng gọi là hệ-thống năo-đế), bao quát từ trung-năo diên-tuỷ với thần-kinh tiêm-duy cuả tích-tuỷ đế-bộ.

2)    Hệ-thống giao-cảm thần-kinh (hoặc gọi là Hệ-thống năo-yêu), bao quát tại trong đoạn trung-khu giao-cảm-tiết cùng là thửa tiêm-duy, giao-cảm-tùng cùng là thửa tiêm-duy.

Các tự-chủ thần-kinh tiêm-duy phân-bố nơi vách huyết-quản nội-tạng cùng vách hăn-tuyến-quản.

          Tác-dụng cuả phó-giao-cảm thần-kinh và giao-cảm thần-kinh thường có t́nh-trạng tương-phản, nhưng chú-trọng kích-thích một hệ-thống hoặc một tiểu-bộ-phận, cũng đồng thời khích-động một tiểu-bộ-phận cuả một hệ-thống khác, với hiệu-ứng là khiên-chế.
 

Tác-Dụng Sinh-Lư cuả Vi-Ti Huyết-Quản 

          Về tác-dụng sinh-lư cuả vi-ti huyết-quản, Thiên Âm-dương Ứng-tượng trong Hoàng-đế Nội-kinh có nói: "Tà-khí cuả trời khởi đầu làm tổn-thương b́-mao, do mao-b́ mà đến cơ-nhục, cân-mạch, do cân-mạch mà nhập tạng-phủ".

          Lại nói: "Ngựi trị giỏi, trị b́-mao, thứ đến trị cơ-phu".

     Lư-luận cuả châm-pháp bổ-tả chính là căn-cứ vào thứ nguyên-lư đó. 
 

Nguyên-Lư Châm-Pháp Bổ-Tả 

          Châm-pháp bổ-tả là lấy kim châm kích-thích dưới da, dẫn đến cho vi-huyết-quản khuyếch-trương, khiến cho huyết-khí thịnh-vượng, đem bài-tiết phế-vật cuả vi-huyết-quản, cung-cấp oxygen mới cùng thức ăn dinh-dưỡng.

          Căn-cứ vào nghiên-cứu cuả La-Phách th́ tế-bào không cần đ́nh-chỉ cung-dưỡng, nhân v́ về mặt học-lư đă từng xác-nhận và đồng thời khai-trương vi-huyết-quản, không được vượt quá 20 % vi-huyết-quản, tức bảo rằng thời-kỳ b́nh-thường 20 % vi-huyết-quản đă khai-trương. Chỗ đó đủ để thuyết-minh tư-ngọ lưu-chú, nghênh tùy các chỗ cao-minh cuả phương-pháp bổ-tả.

 

Yếu-Lĩnh Tư-Ngọ Lưu-Chú Khai-Huyệt

          Yếu-lĩnh tư-ngọ lưu-chú khai-huyệt có bốn phương-pháp:

1)    Phương-pháp thứ nhất: thập can chú nhật

2)    Phương-pháp thứ nh́: huyệt-du lưu-chú

3)    Phương-pháp thứ ba: can-chi định-thời

Phương-pháp thứ nh́ và phương-pháp thứ ba có thể tham-vận–dụng như sau: 

     Một ngày là 12 giờ, khởi từ giờ tư, kết-thúc giờ hợi, trùm đầu lấy 10 chữ thập-can.

      10 ngày vị chi là 120 giờ; thiên-can dùng 12 lần, điạ-chi dùng 10 lần.

      Ngày giáp-tư, đồng-khởi giáp-tư (đều bắt đầu bằng giờ giáp-tư), hai ngày ất-canh, đồng-khởi bính-tư (đều lấy bính-tư khởi), hai ngày bính-tân, khởi mậu-tư, hai ngày đinh-nhâm, khởi canh-tư, hai ngày mậu-quư, khởi nhâm-tư, chiếu theo thứ-tự ấy mà loại-suy.

       12 giờ ngày giáp, trùng-kiến giáp là giờ tuất.

          Cho nên khai-đảm (giáp-mộc), tỉnh (mộc) khiếu-âm huyệt, giáp là dương-mộc, đảm-phủ cũng thuộc dương-mộc vậy.

          12 giờ ngày quư, trùng-kiến quư là giờ hợi (giờ quư-hợi), nên khai-thận (quư thủy) tỉnh dũng-tuyền huyệt, quư là âm-thủy, thận-tạng cũng thuộc âm-thủy vậy.

          Thuyết-minh: ngày quư khuyết 10 giờ, thận không khai giờ sửu, mà di-khai giờ hợi cho hợp lư, bởi chưng thận là chủ thủy, là rễ lập-mệnh cuả nhân-thân, chú-trọng sinh mộc, như bất năng chuyển-chú nơi ngày giáp, ắt lưu ,mà không chú, không hợp với đạo âm-dương tương-sinh vậy, lệ đó khả dĩ loại-suy.

          Ngày ất, giờ ất-dậu, khai can-tỉnh đại-đôn huyệt, ất là âm-mộc, can cũng là âm-tạng thuộc vậy.

    Ngày bính giờ bính-thân, dương hoả, ắt khai tiểu-trường tỉnh thiếu-trạch.

          Ngày mậu giờ mậu-ngọ, dương-thổ, ắt khai vị-tỉnh lệ đoài.

          Ngày kỷ giờ kỷ-tỵ, âm-thổ, ắt khai tỳ-tỉnh ẩn-bạch.

          Ngày canh giờ canh-th́n, khai thương-dương, đại-trường dương-kim, phế-tạng âm-kim vậy.

          Ngày tân giờ tân-măo, khai thiếu-thuơng.

          Ngày nhâm là dương-thủy, giờ nhâm-dần khai chí-âm tỉnh-huyệt cuả bàng-quang thủy-phủ.

          Chuyển-chú nơi:

          Ngày quư, giờ nhâm-tư, nhâm trùng-kiến nhâm.

          Thành là '10 ngày một đại-chu'.

          Bây giờ giải-thích ư-nghiă cuả 'lưu' và 'chú':

          Lưu: dương-nhật khai dương-thời, dương-huyệt, y theo thứ-tự tương-sinh, nhưng lưu-chú tại dương-nhật, dương-thời.

          Chú: dương-nhật, dương-thời thủ huyệt không đủ, ắt chuyển-chú mà thủ dương-thời cuả âm-nhật.

          Ngược lại, âm-nhật, âm-thời thủ huyệt không đủ, ắt chuyển-chú mà thủ âm-thời cuả dương-nhật, đều gọi là chú.

          Lưu và chú không giống nhau, chú với quá không giống nhau.

        Cuối ngày dương, khí nạp tam-tiêu, cuối ngày âm, huyết quy bao-lạc.

          Thủ sinh ngă giả và ngă sinh giả cũng khác nhau.

          Bây giờ thí-cử một ngày giáp mà phân-tích:

          Ngày giáp giờ tuất, ắt đảm tỉnh khiếu âm, nó tại trước giờ tuất, năm giờ âm dậu (trung-xung), mùi (xích-trạch), tỵ (thương-khâu), măo (thần-môn), sửu (hành gian), sở liệt trung-xung, xích-trạch, thương-khâu, thần môn, mỗi mỗi tàng âm-huyệt, đều do tiến-quư âm-nhật, y theo thứ-tự tương-sinh mộc-hoả-thổ-kim-thủy, chuyển-chú mà lại. Ngày giáp trùng kiến giáp, đến giờ tuất chỉ khai một huyệt khiếu-âm. Giáp là ngày dương khai giờ dương, hợi là giờ âm không thủ, chuyển-chú đến ngày ất  giờ bính-tư dương, khai tiểu-trường vinh-huyệt tiền-cốc bởi chưng giáp đảm thuộc mộc, bính tiểu-trường thuộc hoả, đảm khai đệ-nhất-huyệt, mà chuyển-lưu nơi đệ-nhị-huyệt cuả tiểu-trường, mộc sinh hoả vậy, dương-tỉnh khiếu-âm thuộc kim, dương-vinh tiền-cốc thuộc thủy, lại là nghiă cuả kim-mộc tương-sinh, tái-chú đến ngày ất giờ mậu-dần, ắt khai du-huyệt cuả dạ dầy gọi là hăm-cốc, tiểu-trường thuộc hoả, vị thuộc thổ, hoả sinh thổ vậy. Gồm quá khâu khư, một huyệt ất nhật mậu-dần (nguyên-huyệt), nhân lục-phủ, lục du, mỗi cái thêm một nguyên-huyệt, siêu ra ngoài ngũ-hành tương-sinh nên gồm quá nơi du-vị, phản cầu thửa gốc, tương-thừa với một mạch khiếu-âm, quá như thế, liệt vào ngôi dưới v́ không cho là chính-kinh ngũ-hành tương-sinh vậy.

          Lại như:

          Ngày ất, giờ canh-th́n, chú đại-trường dương-khê huyệt, giờ nhâm-ngọ, chú bàng-quang ủy-trung-huyệt, nói thửa phủ, ắt đại-trường thuộc kim, bàng-quang thuôỵc thủy, kim-thủy tương-sinh, nói thửa huyệt, ắt âm kinh hoả,dương tiền thổ, hoả sinh thổ vậy.

          Cuối giờ giáp-thân, phục-liệt tam-tiêu vinh-huyệt dịch-môn, bởi chưng tam-tiêu là cô-phủ, lục-du không chỗ gửi, nên phân-liệt nơi tối-mạt cuả các phủ khai-huyệt, độc-thủ một vinh-huyệt, dương-vinh là thủy-huyệt, đảm là mộc-phủ, thủy năng sinh mộc vậy.

          Tháng giáp bắt đầu nơi giờ tuất, kết-thúc nơi ngày ất, giờ thân, phàm 11 giờ, sáu phủ, mỗi phủ khai một huyệt, đảm cư chủ-vị, đa quá một 'nguyên'-huyệt, phàm 7 huyệt, đó là lẽ giáp-nhật lưu-chú tế-phân vậy. 

Tí-Ngọ Lưu-Chú Trục-Nhật Khai-Huyệt Đồ 

Dương

Can

Dương

Kinh

Tỉnh

(Kim)

Vinh

(Thủy)

Du

(Mộc)

Nguyên

Kinh

(Hoả)

Hợp

(Thổ)

Giáp

Đảm

Khiếu-Âm

(Giáp-tuất)

 

 

Khâu-

Khư

(Mậu-

Dần)

 

 

Bính

Tiểu-

Trường

 

Tiền-Cốc

(Bính-tư)

 

 

 

 

Mậu

Vị

 

 

Hăm-cốc

(Mậu-dần)

 

 

 

Canh

Đại-

Trường

 

 

 

 

Dương-

khê

 

Nhâm

Bàng-

Quang

 

 

 

 

 

Uỷ-

Trung

(Nhâm-

Ngọ)

 

Tam-

tiêu

 

Dịch-môn

(Giáp-thân)

 

 

 

 

 

Âm

Can

Âm-kinh

Tỉnh

(Mộc)

Vinh

(Hoả)

Du

(Thổ)

 Nguyên

Kinh

(Kim )

Hợp

(Thủy)

Ất

Can

 

Hành-

Gian

(Ất-

sửu)

 

 

 

 

Đinh

Tâm

 

 

Thần-

Môn

(Đinh-

Măo)

 

 

 

Kỷ

Tỳ

 

 

 

 

Thương-

Khâu

(Kỷ-

tỵ)

 

Tân

Phế

 

 

 

 

 

Xích-

Trạch

(Tân-

mùi)

 Nhâm

Thận

Dũng-

tuyền

(Quư-

hợi)

 

 

Thái-

khê

(Đinh-

măo)

 

 

 

Tâm-

bao

Thủ-

Xung

(Quư-

dậu)

 

 

 

 

 

 

Tí-Ngọ Lưu-Chú Khai-Huyệt Nguyên-lư Đồ

Âm-

kinh

Ngũ-

hành

Nhật-

can

Tỉnh

(Mộc)

Vinh

(hoả)

Du

(Thổ)

Kinh

(Kim)

Hợp

(Thủy)

Thận

 

Can

 

Tâm

 

Tỳ

 

Phế

 

Bao-

Lạc

Thủy

 

Mộc

 

Hoả

 

Thổ

 

Kim

 

Tướng

Quư-nhật

 

Ất-nhật

 

Đinh-nhật

 

Kỷ-nhật

 

Tân-nhật

 

Hoả

Dũng-tuyền

 

Đại-đôn

 

Thiếu-xung

 

Ẩn-bạch

 

Thiếu-thương

 

Trung-xung

Nhiên-cốc

 

Hành-gian

 

Thiếu-phủ

 

Đại-đô

 

Ngư-tế

 

Lao-

cung

Thái-khê

 

Thái-xung

 

Thần-môn

 

Thái-

Bạch

Thái-uyên

 

Đại-

lăng

Phục-lưu

 

Trung-

Phong

Linh-

Đạo

Thương-

Khâu

Kinh-

Cừ

Gian-

Xứ

Âm-

Cốc

Khúc-

Tuyền

Thiếu-

Hải

Âm-

Lăng

Tuyền

Xích-

Trạch

Khúc-

Trạch

 

Dương-

kinh

Ngũ-

hành

Nhật-

Can

Tỉnh

(Kim)

Vinh

(Thủy)

Du

(Mộc)

Kinh

(Hoả)

Hợp

(Thổ)

Đảm

 

 

Tiểu-

trường

Vị

 

Đại-

trường

Bàng-

quang

Tam-

tiêu

Mộc

 

 

Hoả

 

Thổ

 

Kim

 

Thủy

 

Tướng

 

Giáp-nhật

 

 

Bính-nhật

 

Mậu-nhật

 

Canh-nhật

 

Nhâm-nhật

 

Hoả

 

Khiếu-

âm

 

Thiếu-

trạch

Lệ-

đoài

Thương-

dương

Chí-

âm

Quan-

xung

Hiệp-

khê

 

Tiền-

cốc

Nội-

đ́nh

Nhị-

gian

Thông-

cốc

Dịch-

môn

Lâm-khấp

 

 

Hậu-cốc

 

Hăm-cốc

 

Tam-gian

 

Tốc-cốc

 

Trung-chử

Dương-phụ

 

 

Dương-cốc

 

Giải-khê

 

Dương-khê

 

Côn-lôn

 

Chi-câu

Dương-

lăng-

tuyền

Tiểu-hải

 

Túc-

tam-lư

Khúc-tŕ

 

Uỷ-trung

 

Thiên-tỉnh


 Tí-Ngọ Lưu-Chú Chu-Giáp Khai-Huyệt Đồ

Khai/

Nhật

Thời/

Huyệt

Giáp

Nhật

Kỷ

Nhật

 

 

 

Ất

Nhật

Canh

Nhật

 

Bính

Nhật

 

Giáp

-tư

 

Dương

Phụ

Bính-

Tiền-

cốc

 

Mậu-

 

Ất-

Sửu

Hành-

gian

 

Đinh-

sửu

 

 

Thiếu-

hải

Kỷ-

sửu

Thái-

bạch

Thái-

xung

Bính-

Dần

 

Tiểu-

Hải

Mậu-

dần

Hăm-

cốc

Khưu-

khư

 

Canh-

dần

 

 

Đinh-

măo

Thần-

môn

Thái-

khê

Thái-

lăng

 

Kỷ-

măo

 

Gian-

sứ

 

Tân-

măo

Kinh-

cừ

Mậu-

Th́n

 

Chi

Cấu

Canh-

th́n

Dương-

khê

Thương-

dương

Nhâm-

th́n

 

Kỷ-

Tỵ

Thương-

khâu

Ẩn

Bạch

Tân-

tỵ

 

 

Quư-

tỵ

Âm-

cốc

Canh-

Ngọ

 

 

Nhâm-

ngọ

Uỷ-

trung

Thông-

cốc

Giáp-

ngọ

 

vTân-

mùi

Xích-

trạch

Ngư

tế

Quư-

mùi

 

 

Ất-

mùi

Lao-

cung

Nhâm-

thân

 

 

Giáp-

thân

Dịch-

môn

Lâm-

khấp

Hợp-

cốc

Bính-

thân

Thiếu-

Trạch

Quư-

dậu

Trung

xung

Thái-

khê

Thái-

bạch

Ất-

dậu

Đại-

đôn

 

Đinh-

dậu

 

Giáp-

tuất

Khiếu

âm

 

Bính-

tuất

 

Dương-

cốc

Mậu-

tuất

Nội-

đ́nh

Ất-

Hợi

 

Trung-

phong

Đinh-

hợi

Thiếu-

Phủ

 

Kỷ-

hợi

 

 

Khai/

Nhật

Thời/

Huyệt

 

Đinh

Nhật

Nhâm

Nhật

 

Mậu

Nhật

Quư

Nhật

Giáp

-tư

Canh-

Tam-

gian

Uyển-

cốt

 

Nhâm-

 

 

Quan-

xung

Ất-

sửu

Tân-

sửu

 

Khúc-

trạch

Quư-

sửu

Phục-

lưu

 

Bính-

dần

Nhâm-

dần

Côn-

lôn

Chí-

âm

Giáp-

dần

 

 

Đinh-

măo

Quư-

măo

 

 

Ất-

măo

Khúc-

tuyền

 

Mậu-

th́n

Giáp-

th́n

Dương-

lăng-

tuyền

Hiệp-

khê

Bính-

th́n

 

 

Kỷ-

tỵ

Ất-

tỵ

 

 

Đinh-

tỵ

Đại-

lăng

 

Canh-

ngọ

Bính-

ngọ

Trung-

chử

Hậu-

khê

Kinh-

cốt

Dương-

tŕ

Mậu-

ngọ

 

 

Tân-

mùi

Đinh-

mùi

Thiếu-

xung

 

Kỷ-

mùi

Lệ-

Đoài

 

Nhâm-

thân

Mậu-

thân

 

Giải-

khê

 

Canh-

thân

 

 

Quư-

dậu

Kỷ-

dậu

Đại-

đô

 

Tân-

dậu

Nhị-

gian

 

Giáp-

tuất

Canh-

Tuất

 

Khúc-

tŕ

Nhâm-

tuất

 

 

Ất-

hợi

Tân-

hợi

Thái-

uyên

Thần-

môn

 

Quư-

hợi

Thúc-

cốt

Xung-

Dương

 

 

Dũng-

tuyền


        
Kỳ dư 9 ngày lưu-chú triển-chuyển mà thủ đấy, phủ quá một 'nguyên' huyệt, tạng lấy 'du'  thay thế 'nguyên' mà 'quá' đấy. Mỗi huyệt cuối, ngày dương khí nạp tam-tiêu, thủ 'cái sinh ta', ngày âm huyết quy bao-lạc, thủ 'cái ta sinh', đều có thể tham-duyệt các đồ trên, là hiểu rơ-ràng.

        4) Phương-pháp thứ tư: Đồng-tông Thác-lạc (Xem Chu-giáp Khai-huyệt Đồ)

        10 can, 12 chi, 1 ngày 12 giờ, 5 ngày 60 giờ, 10 ngày 120  giờ.

          Điạ-chi 12 cái, mỗi ngày dùng một lần, 5 ngày dùng 5 lần, 10 ngày dùng 10 lần, với 10 cái thiên-can, dùng nó phối-hợp với thiên-can, 5 ngày 60 giờ, điạ-chi dùng 5 lần, thiên–can đuơng dụng 6 lần.

          Tiểu-chu giáp-tí, 5 ngày 1 hậu, 6 ngày khởi giáp-tư một lần nữa, giống như một tiểu-chu.

          Bên  trên,  trong Hà-đồ, cái gọi là 'nhất-lục đồng-tông', là ư-nghiă cuả ' giáp-kỷ đồng-tông'.

          Ngày giáp, ngày kỷ, một lẻ. một chẵn, một âm, một dương, nhật-can âm-dương tuy bất-đồng, thời can chi toàn đồng, nên ngày giáp lưu-chú chư huyệt, lúc giao-lạc liệt nơi mé dưới kỷ-nhật, ngày kỷ lưu-chú chư huyệt, lúc giao-lạc liệt nơi mé dưới can-chi.

          Lấy thượng-lệ suy-toán:

          Nhị-thất là ất-canh, tam-bát là bính-tân, 4-9 là đinh-nhâm, 5-10 là mậu-quư. Đều thuộc đồng-tông cuả một âm, một dương, nên lưu-chú các huyệt, ngoại trừ các quá-huyệt bất-giao-lạc, kỳ dư đều hỗ-tương giao-thác lạc liệt nơi hạ-hoàn, y thời mà thủ, rất ư là kiến-hiệu.

 

 

 

Xem Bài số 3

 

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hữu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com