www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 94)

 

PHẢN-QUÁI

 

Phản-quái là một quẻ lật ngược lại sẽ thành quẻ kia trong cặp. Vd : Truân C lật ngược lại sẽ thành Mông D. Không nên nhầm với phản-đối (1’s complement), tức thị hào dương biến thành hào âm và ngược lại. Trong Toàn Kinh có cả thẩy (64 – 8)/2 = 28 cặp phản-quái. Nói một cách tổng quát, ta có thể phân các biệt-quái thành ba loại:

  1. Đối-quái ṛng (8) tức giao-quái và c̣n gọi là phản-phục bất suy (lật qua, lật lại vẫn không đổi): Kiền, Khôn, Di, Đại-quá, Khảm, Ly, Trung-phu, và Tiểu-quá ;
  2. Phản-quái (56) tức là các quẻ c̣n lại ;
  3. Quẻ hỗn-hợp gồm hai loại.  Loại đầu gọi là phản-phục kiêm lưỡng-tượng-dịch kiêm bàng-thông gồm bốn quẻ : Thái, Bĩ, Kư-tế, Vị-tế ; loại thứ nh́, mệnh-danh là phản-phục kiêm bàng-thông gồm bốn quẻ : Tùy, Cổ, Tiệm, Quy-muội.

Nói khác đi, phản-quái là cả 6 hào đều phản-chuyển. Kinh-quái lấy điều đó làm tŕnh-tự. Thập-dực cũng lấy nghiă đó làm Dịch-thuyết. Ngu-Phiên dùng nó để giải-dịch. Theo lời ông này, nơi Kinh-truyện có những chứng-cứ sau đây : 

Quái-từ quẻ Thái, Tập-giải dẫn Ngu-Phiên rằng: "Phản Bĩ vậy".

Quái-từ quẻ Bĩ, Tập-giải dẫn Ngu-Phiên rằng: "Phản Thái vậy".

Thoán-tuyện quẻ Quan, Tập-giải dẫn Ngu-Phiên rằng: "Quan, phản Lâm vậy".

Quái-từ quẻ Di, Tập-giải dẫn Ngu-Phiên rằng: "Phản-phục chẳng suy, đồng-nghiă với Kiền-Khôn, Khảm-Ly, Di-Đại-quá, Tiểu-quá-Trung-phu".

Quái-từ quẻ Minh-di, Tập-giải dẫn Ngu-Phiên rằng: "Phản Tấn vậy".

Quái-từ quẻ Tiệm, Tập-giải dẫn Ngu-Phiên rằng: "Phản thành Quy-muội".

Hạ-Hệ V/13 nói: "Nam nữ cấu tinh. Vạn-vật hoá sinh = Trái gái cấu-tinh th́ muôn vật hoá sinh ra". Tập-giải dẫn Ngu-Phiên nói: "Tổn phản thành Ích". Hạ-Hệ V/14 nói: "Quân-tử an kỳ thân nhi hậu động = Người quân-tử yên cái thân ḿnh mà sau mới hành-động". Tập-giải dẫn Ngu-Phiên nói: "Bảo là phản Tổn thành Ích".

Tự-quái-truyện nói: "Có con trai, con gái rồi sau mới có vợ chồng". Tập-giải dẫn Ngu-Phiên rằng: "Hàm phản thành Hằng".

Tạp-quái-truyện nói: "Bĩ-Thái, phản kỳ loại dă = Bĩ-Thái, th́ hai thứ đều trái ngược với nhau". Tập-giải dẫn Ngu-Phiên rằng: "Bĩ phản thành Thái, Thái phản thành Bĩ, cho nên hai thứ đều trái ngược với nhau". 

Tuy nhiên lấy tượng cuả phản-quái mà luận-bàn về hào cuả bản-quái, Kinh-truyện không có bằng-cớ nào cả.

Hào-từ lục-nhị quẻ Quan, Tập-giải dẫn Ngu-Phiên rằng : "Lâm, đoài là thiếu-nữ … … Đoài thiếu-nữ phản thành tốn trưởng-nữ, tứ-ngũ đắc-chính, cho nên ‘lợi nữ trinh’ ".

Hào-từ thượng-lục quẻ Minh-di, Tập-giải dẫn Ngu-Phiên rằng : "Ly diệt dưới quẻ khôn, nên 'Bất minh hối = Chẳng sáng-suốt mà tối-tăm'. Thời Tấn ở trên tốt đẹp quẻ Kiền, nên 'trước th́ lên tận trời, chiếu tứ-quốc ; nay quay ngược xuống dưới, nên 'sau rớt tuốt xuống đất' bởi v́ sai nguyên-tắc". 

 

THĂNG-GIÁNG (Swap bits)

(274, tr. 116-9)

(Dịch-lệ, 312, tr. 593)

 

Thuyết Thăng-giáng do Tuân-Sảng khởi-xướng. Thuyết ấy như sau : phàm hào dương ở hạ-quái nên thượng-thăng ngũ ; hào âm ở thượng-quái, nên giáng xuống hạ-quái mà chiếm chỗ hào dương vừa bỏ trống. Cho nên mới có Kiền nhị nên thăng Khôn ngũ, Khôn ngũ nên giáng Kiền nhị như dưới đây:

Kiển cửu-nhị, Tượng-truyện, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói : "Điền là Khôn. Nhị nên thăng Khôn ngũ, nên nói là ‘Hiện long tại điền’ ". 

Kiền Văn-ngôn-truyện nói: "Thủy lưu thấp = Nước chẩy chỗ trũng". Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói : "Dương động đi sang Khôn mà thành khảm". Lại nói : "Hoả tựu táo = Lửa bốc lên chỗ khô". Tuân-Sảng nói: "Âm động đi sang Kiền để thành ly". 

Án : Kiền cửu-nhị thăng Khôn ngũ, ắt Khôn thượng-thể thành khảm. Khôn lục-ngũ giáng Kiền nhị, ắt kiền hạ-thể thành ly. 

Kiền Văn-ngôn-truyện nói : "Cái ǵ gốc ở trời th́ gần phiá trên cao". Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói : « Bảo Kiền cửu-nhị xuất từ Kiền, nên nói : gốc ở trời ; mà cư Khôn ngũ, nên nói là ‘thân thượng’. ". Lại nữa : "Cái ǵ gốc ở đất th́ gần phiá dưới thấp". Tuân-Sảng nói : " Bảo Khôn lục-ngũ xuất từ Khôn, nên nói : gốc ở đất ; giáng cư Kiền nhị, nên nói là ‘thân với dưới’. ". 

Tiểu-tượng-truyện Lâm cửu-nhị, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói : "Dương nên cư ngũ, âm nên thuận theo, nay c̣n ở nhị, nên nói : 'Chưa thuận mệnh vậy' ". 

Tiểu-tượng-truyện Thăng lục-ngũ, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói : "Âm chính cư trung làm bậc thang cho dương, khiến thăng cư ngũ, c̣n ḿnh giáng xuống nhị, tương-ứng với dương, nên lành và đắc-chí". 

Có trường-hợp bảo sơ dương nên thăng ngũ : 

Phục Thoán-truyện, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói: "Lợi đi cư ngũ, cương-đạo xâm-trưởng".

Án : Phục chỉ có mỗi sơ là hào dương, nên sơ có thể thăng cư ngũ". 

Có trường-hợp bảo tam dương nên thăng ngũ : 

Tiểu-tượng-truyện Khiêm cửu-tam, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói : "Dương nên cư ngũ, từ trong đám dưới thấp giáng cư hạ-quái, vua có ư xuống nước, chúng-âm đều muốn huy-động dương thượng cư ngũ-vị, quần-âm thuận dương, nên muôn dân tín-phục". 

Hào-từ Minh-di lục-tứ, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói: "Tứ đắc-vị, tỷ tam, ứng nơi thuận-thủ, muốn thượng tam cư ngũ, để dương làm tâm-phúc. … … Nói là : tam nên xuất môn-đ́nh, thăng ngũ, quân-vị".  

Có trường-hợp bảo tứ dương nên thăng ngũ: 

Hào-từ Ly cửu-tứ, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói: "Dương thăng cư ngũ, quang-viêm tuyên-dương, cho nên như không thuận, đột-xuất vậy. Âm lùi cư tứ, tro tàn rớt xuống, cho nên 'như thể nó đến vậy' ". Lại như Hào-từ lục-ngũ quẻ Ly, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói : "Lục-ngũ âm-nhu, lui cư tứ, xuất ly làm khảm, nên 'như thể nước mắt giàn-giuạ chẩy xuống, để thuận âm-dương' ".

Hào-từ Tiểu-quá cửu-tứ, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói : " Tứ tiến đi qua ngũ thời nguy, ắt bị răn nơi tam, nên nói 'tiến đi thời nguy, ắt phải răn'. Chớ ở dài dài nơi tứ, nên động lên ngũ, nên dùng đến bền chính". 

Lại có trường-hợp nhân Kiền ở hạ-quái, ắt bảo hạ-quái nên thăng cư thượng ; Khôn ở thượng-quái, ắt bảo thượng-quái nên giáng-cư bên dưới. 

Hào-từ Nhu thượng-lục, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói : "Ba người ám-chỉ ba hào dương bên dưới. Đúng lúc nên thăng, không cần phải triệu mới đến, nên nói : 'người khách thư-thả đến'. Kiền thăng lân thượng-quái, quân-vị đă định ; khảm giáng xuống hạ-quái, nhậm chức hạ-thần. nên nói : 'Kính-trọng họ, sau được tốt lành' ". 

Hào-từ Thái cửu-nhị, Tập-giải dẫn Tuân-Sảng nói : "Sông xuất nơi Kiền, chẩy giữa mặt đất. Tính dương muốn thăng, tính âm muốn đi theo (thừa), 'Lội sông mà tiến lên', không dùng thuyền bè, từ mặt đất thăng-thiên, đạo tuy xa-vời, ba thể đều đi lên, nên mới nói: 'không bỏ sót kẻ ở xa xôi' ".

Suy ư Tuân-Sảng, ta nhận thấy rằng : 'Phàm dương nên thượng-thăng, phàm âm nên hạ-giáng, hào với quẻ, nghiă đều giống nhau. Chỉ tiếc một điều, nghiă cuả thăng-giáng, t́m ṃn con mắt mà tuyệt nhiên không thấy minh-trưng trong toàn-văn Kinh Dịch, mà lại c̣n mâu thuẫn với Thoán-truyện nữa.'    

Án : Họ Tuân thích Kiền cửu-nhị rằng : 'Rồng hiện nơi ruộng', bảo rằng 'ruộng là khôn', mà nên thăng ngũ, nên nói: 'Rồng hiện nơi ruộng', mà thích Kiền Văn-ngôn lại nói : 'Mây bay, mưa rơi', lại c̣n nói : Kiền thăng nơi Khôn là 'mây bay’. Cùng một sự việc, chỗ th́ bảo là 'ruộng', chỗ th́ bảo là ‘mây bay’, làm sao có phán-đoán vô-tư được ? Nhu, khảm trên, kiền dưới, ắt khảm là trung-hào, nên thượng-cư ngũ-vị, có thể làm vua. Tại sao vậy ? Mà nơi hào-từ Nhu thượng-lục lại bảo : kiền thăng lên trên, quân-vị đă định ; khảm giáng xuống dưới nên nhậm thần-chức. Tại sao vậy ? Khảm nên giáng xuống dưới, có phải là lúc trung-hào nên thăng lên không ? Mâu-thuẫn đầy rẫy, đại-loại như vậy.  

Trước khi đọc tiếp, xin quư-thức-giả ôn lại Ngũ-phúc, Lục-cực nơi  bài 76.

Lă-lăm Ngũ-nguyệt-kỷ nói: "Thái-nhất xuất (sinh) lưỡng-nghi (thiên-điạ), lưỡng-nghi xuất âm-dương, âm-dương biến-hoá. Một trên, một dưới, hợp mà thành chương (h́nh). Hỗn hỗn độn độn, ly ắt lại hợp, hợp ắt  lại ly (ly-tán, hội-hợp). Gọi là thiên-thường (Thường-đạo cuả trời)". 

Thượng-thư Đại-truyện nói: "Kinh Thư nói : 'Ba năm khảo-hạch, ba lần khảo truất trắc (thăng-giáng) u-minh. Huấn rằng : tích bất-thiện đến u-lục-cực để liệt vào loại giáng, cho nên truất ; tích thiện đến minh-ngũ-phúc, để liệt vào loại thăng. Cho nên cho lên chức' ".   

Dương-tử Thái-huyền nói : "Dương thúc đẩy ngũ-phúc để liệt vào loại thăng ; âm u lục-cực để liệt vào loại giáng. Thăng-giáng tương-quan, đại-trinh bèn thông".

Án : Dương thăng, âm giáng, âm-dương đắc-vị, tương-ứng đại-hanh, để chính thiên-đạo. Nên nói : đại-trinh bèn thông, tương-đương với : nguyên, hanh, lợi, trinh. Số đại-diễn  51 chương. Phục-Hy đặt ra bát-quái, hậu-nhân dùng để bói cỏ thi, là theo phép ấy (Khuyết đoạn chót). 

 

TÁI-LUẬN TAM-ĐẠI DỊCH

三代易之再論

(220, Tập VIII, tr. 257-8)

 

Chúng ta đă duyệt qua Tam-Đại-Dịch nơi bài kỳ 62, CHƯƠNG 06  DỊCH NỘI-TRÚC. Tam-Dịch tức Tam-đại-Dịch, một là Liên-sơn, hai là Quy-tàng, ba là Chu-Dịch. Các quẻ đều chầu phương bắc tư-sửu-dần. Kiền tam-tận-thống, tức thị Kiền hoàn nhật-nguyệt là Dịch ( + = ). Phục-Hi vẽ rồi chồng quẻ, tiên-thiên định ngôi, mà Tam-Dịch đều chầu ngôi bắc. Cho nên dần là thượng-hào cuả Kiền, quẻ Liên-sơn là cấn-dần hoả viêm thượng (hoả bốc lên trên), người đời nhà Hạ nhân Viêm-Đế-Dịch mà mệnh-danh là Liên-sơn. Trong quẻ khôn, một vạch dương cuả Kiền, khôn Quy-tàng là khảm sửu-thổ người đời Ân nhân Hoàng-Đế-Dịch là Quy-tàng, tư kiền sơ-nhất hoạch-quái, chu-phục-thủy, chấn tư chu tuế-tinh-mộc, 12 chu-thiên, nhật-nguyệt-Dịch, người đời Chu gọi là Chu-Dịch. Cho nên, tiên-thiên định-vị, Tam-Dịch chầu ngôi bắc, cấn tây-bắc, khôn-bắc, chấn-đông-bắc, người đời Hạ, dần là Hạ-chính, lấy hợp-dụng hợi-tây-bắc, cấn Dịch Liên-sơn, Ân-nhân, sửu Ân-chính, lấy hợp-dụng tư-bắc khôn, Ân Quy-tàng, Chu-nhân, tư Chu chính, để hợp-dụng sửu-đông-bắc, chấn tuế-tinh, tinh-kỷ, chu nhất tạp, Chu Chu-Dịch, là lấy Liên-sơn tiên-thiên ắt thiên tây-bắc cấn, cấn số 7, Liên-sơn-Dịch số 7, Quy-tàng tiên-thiên bắc khôn, khôn số 8, Quy-tàng-Dịch số 8, Chu-Dịch tiên-thiên, đông-bắc chấn, chấn số 9, Chu-Dịch, Dịch số 9. Cho nên tiên-thiên Kiền-Khôn, do kiền Quy-tàng, khôn hậu-thiên xuất chấn, mà sau Chu-Dịch đều chấn dụng-cửu, lấy đầu Kiền, kiền ba vạch, Tam-Dịch: Liên-sơn, Quy-tàng, Chu-Dịch, điều lấy Dịch Kiền chu-thiên, mà Liên-sơn, Quy-tàng-Dịch, tất cả  đều ở trong Chu-Dịch. Ấy là Chu-quan Thái-bốc, trước-nhân chưởng-quản Tam-Dịch, thửa kinh-quái đều có 8, thừa biệt-quái đều có 64. Có Chu-Dịch, nay có thể không c̣n đủ. Đó là bản-nguyên cuả Tam-Dịch. 

 

NỘI-TRÚC TỰ-QUÁI-TRUYỆN 

(Chu-Dịch Chiết Trung, 278, tr. 1469-1478)
 

Thượng-kinh chuyên về thiên-đạo, nên cái ǵ cũng chính: dương-quái, dương-hào đều thịnh cùng là âm-dương, trưởng-thiếu rất có trật-tự. Hạ-kinh là âm, chuyên về giao-tế nhân-sự: âm-quái, âm-hào đều thịnh, cùng là âm-dương giao-cảm tạp-loạn, trưởng-thiếu vô-trật-tự trước sau. 

Cho nên, lấy bát-quái mà luận, Kiền-Khôn là thuần cuả âm-dương, Khảm-Ly là trung cuả âm-dương, đều là chính cuả chính-trung, cho nên là dương. Chấn-Tốn, âm-dương thủy-giao, Cấn-Đoài âm-dương cực-giao, đều là giao cuả chính-trung, nên là âm. Cho nên, lấy giao cuả bát-quái mà luận, chỉ có Bĩ-Thái là chính-giao, nên là dương. Hàm-Hằng, Tổn-Ích, Kư-Vị-tế là lục-tử-giao, là trung-giao, nên là âm. Kiền giao dương-quái có sáu: Nhu-Tụng, Vô-vơng-Đại-súc, đều là dương thịnh, nhưng nếu luận thêm về hào, ắt Đại-tráng là dương quá-trung, Độn là âm xâm-trưởng, nên tuy là dương-quái, phải kể là âm. Khôn giao âm-quái, có sáu quẻ: Tấn-Minh-di, Tụy-Thăng đều là âm thịnh, Lâm ắt dương xâm-trưởng, Quan ắt âm quá-trung, nên tuy là âm mà phải cư dương. Kiền giao âm-quái, phàm sáu: Tiểu-súc-Lư, Đồng-nhân-Đại-hữu, Vô-vơng-Đại-súc, đều 5 dương 1 âm, dương thịnh, nhưng nếu tham-bác cả hào, ắt Quyết là âm đă quá cao, Cấu là âm mới vừa sinh, cho nên không được là dương mà phải kể là âm. Khôn giao dương-quái, có sáu: Sư-Tỷ, Khiêm-Dự, Bác-Phục, đều là 5 âm, 1 dương, phàm dương thường làm chủ âm, âm tuy đông, nhưng không thịnh, nên phải phục-dịch, dương tuy ít nhưng không suy, nên làm chủ. Cả sáu quẻ đều không là âm, mà phải là dương.  Lại dương-quái giao nhau, phàm sáu: Truân-Mông, Di, trưởng-thiếu, có tôn-ti trật-tự trước sau, nên là dương. Kiển-Giải, Tiểu-quá mất trật-tự, nên phải là âm. Lại âm-quái giao nhau, phàm sáu, chỉ một ḿnh Đại-quá là đối-quái cuả Di, lại có thứ-tự, nên cũng là dương. Gia-nhân-Khuê, Cách-Đỉnh, Trung-phu đều là âm, Cách-Đỉnh có thứ-tự, nên c̣n là dương trong âm. Lại các quẻ âm-dương giao nhau, phàm 12, 6 quẻ có thứ-tự là Tùy-Cổ, Phệ-hạp-Bí, là âm ở trong dương, Tỉnh-Khổn là dương ở trong âm, 6 quẻ mất thứ-tự là Tiệm-Quy-muội, Phong-Lữ, Hoán-Tiết, là âm trong âm. Phân chia hai thiên đă định, theo đuổi tiết, theo đuổi quẻ, ắt trước tiên lấy nghiă thứ-đệ trước sau, sau mới lấy nghiă âm-dương thịnh-suy, tiêu-trưởng phân–minh như hậu-luận: 

Nhóm + gồm 10 quẻ: Kiền-Khôn, Truân-Mông, Nhu-Tụng, Sư-Tỷ, Tiểu-súc-Lư;

Nhóm + gồm 6 quẻ: Thái-Bĩ, Đồng-nhân-Đại-hữu, Khiêm-Dự;

Nhóm + gồm 8 quẻ: Tùy-Cổ, Lâm-Quan, Phệ-hạp-Bí, Bác-Phục;

Nhóm + gồm 6 quẻ: Vô-vơng-Đại-súc, Di-Đại-quá, Khảm-Ly;

Nhóm - gồm 10 quẻ: Hàm-Hằng, Độn-Đại-tráng, Tấn-Minh-di, Gia-nhân-Khuê, Kiển-Giải; 

Nhóm -  gồm 6 quẻ: Tổn-Ích, Quyết-Cấu, Tụy-Thăng;

Nhóm - gồm 12 quẻ: Khốn-Tỉnh, Cách-Đỉnh, Chấn-Cấn, Tiệm-Quy-muội, Phong-Lữ, Tốn-Đoái ;

Nhóm - gồm 6 quẻ: Hoán-Tiết, Trung-phu-Tiểu-quá, Kư-tế-Vị-tế. 

Nhóm +

Kiền-Khôn là tông cuả chúng-quái, nên dẫn đầu Thượng-Kinh. Tiên-nho bảo quẻ Kiền cầm đầu Chu-Dịch, ắt do Văn-Vương định, không thể thay đổi được. Ngoài kiền, khôn ra, ba nam-quái (chấn-khảm-cấn) là tôn-quư, nên Truân-Mông đều có trưởng-thiếu trước sau rất có thứ-tự, được chính dương-đạo, nên đứng sau Kiền-Khôn. Nhu-Tụng, trên dưới đều là dương-quái, nhị-ngũ đều là hào dương, là dương thịnh, nên theo sau Truân-Mông. Sư-Tỷ, đều lấy một hào dương thống-lĩnh 5 hào âm, mà cư nhi-ngũ trung-vị, cũng là dương thịnh,  nên theo sau Nhu-Tụng. Tiểu-súc-Lư, 5 dương 1 âm, dương cực nhiều, mà hai hào âm lại lui về tam-tứ, đều là quẻ dương thịnh, nên theo bén gót Sư-Tỷ. 

Nhóm +

Thái-Bĩ là hợp-thể cuả Kiền-Khôn, nghiă giống Kiền-Khôn. Nhân Kiền-Khôn giao, nên dưới Kiền-Khôn một bậc. Đồng-nhân-Đại-hữu phản nghiă với Sư-Tỷ, nhưng nhờ dương nhiều, cực thịnh, nên cùng Tiểu-súc-Lư, dưới bậc Sư-Tỷ. Khiêm-Dự phản-nghiă Tiểu-súc-Lư, mà dương làm chủ quẻ, nên cùng Sư-Tỷ đứng sau Tiểu-súc-Lư. Sáu quẻ này đều theo thứ-đệ dương thịnh. 

Nhóm +  

Trong hai tiết (nhóm) trên, trừ Truân-Mông ra, c̣n lại 3 nam-thuần-quái. Ngoại giả, ắt có Kiền, Khôn làm chủ. Vị-thường có nam-nữ giao nhau, nên nói là dương thịnh. Đến Tùy-Cổ, Phệ-hạp-Bí, nam-nữ mới giao nhau, là âm bắt đầu sinh và trưởng-thiếu trước sau mới không mất trật-tự. Cho nên do v́ là âm trong dương, sau Tùy-Cổ là Lâm-Quan, Phệ-hạp-Bí kế-tiếp, rồi đến phiên Bác-Phục, ắt dương thịnh lại vậy.   

Nhóm +

Vô-vơng-Đại-súc, kiền với dương-quái hợp-thể, nghiă giống Nhu-Tụng. Song le, nhi-ngũ cả hai không cùng là dương-hào, nên đứng sau Nhu-Tụng. Di-Đại-quá thuộc loại nam-nữ, phân trưởng-thiếu tiên-hậu, nghiă giống Truân-Mông, mà hai quẻ không cùng là dương-quái, nên đứng sau Truân-Mông. Khảm-Ly được trung-khí cuả trời đất, nghiă giống Kiền-Khôn, mà là quẻ lục-tử, nên lại đứng sau Kiền-Khôn. Sáu quẻ này điên-đảo, tương-đối với 6 quẻ đầu thiên, đều là quẻ dương lại thịnh. 

Nhóm -

Hạ-thiên chủ nhân-sự giao-tế, cho nên bắt đầu bằng đạo vợ chồng. Trai, gái hợp, trẻ ắt t́nh chuyên, già ắt nghị-đốc. Nên Hàm dẫn đầu, Hằng theo sau. Độn-Đại-tráng, âm trưởng dương quá, âm thịnh vậy, nên theo sau Hàm-Hằng. Tấn-Minh-di, thượng-hạ đều là âm-quái, nhị-ngũ đều là âm-hào, nghiă phản-dương với Nhu-Tụng. Gia-nhân-Khuê, là quẻ tam-âm, mà trưởng-thiếu lại thất-tự, là đạo âm, nghiă phản-dương với Truân-Mông, nên  bốn quẻ phải đứng sau Độn-Đại-tráng. Kiển-Giải, vốn dĩ là quẻ tam-dương, mà cũng là trưởng-thứ thất-tự, nghiă phản Truân-Mông, nên theo sau Gia-nhân-Khuê.    

Nhóm -

Tổn-Ích, hai thiếu giao nhau, hai trưởng giao nhau, nghiă giống Hàm-Hằng ; Quyết-Cấu, dương cực âm sinh ; Kiền giao với dương-quái, nghiă giống Độn-Đại-tráng ; Tụy-Thăng, Khôn giao với âm-quái, nghiă giống với Tấn-Minh-di, nên sáu quẻ nối-tiếp với tư-cách thứ-âm-thịnh vậy.  

Nhóm -  

Khốn-Tỉnh, nam-nữ giao mà có thứ-tự, nghiă giống quẻ dương Tùy-Cổ, Phệ-hạp-Bí, dương trong âm. Cách-Đỉnh, quẻ tam-âm, giống Gia-nhân-Khuê, nhưng trưởng-thiếu có thứ-tự, nên theo sau Khốn-Tỉnh, như Đại-quá theo sau Di vậy. Chấn-Cấn, tuy là chủ Hạ-Kinh, nhưng vốn dĩ là quẻ dương, nên 6 quẻ này là dương trong âm. Tiệm-Quy-muội, Phong-Lữ giao nhau mà thất-tự, phản lại với Khốn-Tỉnh, Cách-Đỉnh. Tốn-Đoái là quẻ âm phản với Chấn-Cấn. Sáu quẻ này từ dương mà hướng về âm vậy. 

Nhóm -

Sáu quẻ Tiệm-Quy-muội, Phong-Lữ, Hoán-Tiết, nam-nữ giao mà thất-tự, là tương-loại vậy. Song le, hai quẻ Tiệm-Quy-muội, trưởng-nam, trưởng-nữ đều hiện-diện, Phong-Lữ chỉ có trưởng-nam có mặt, Hoán-Tiết chỉ có trưởng-nữ hiện-diện, nơi Hoán-Tiết biến-cùng, là cùng-cực cuả đạo âm. Trung-phu-Tiểu-quá tương-đối với Di-Đại-quá cuả Thượng-Kinh, Đại-quá tuy là quẻ âm, v́ có thứ-tự nên theo Di ; tương-tự, Tiểu-quá tuy là quẻ dương, nhưng v́ thất-tự, nên theo sau Trung-phu, thửa nghiă giống như Kiển-Giải theo sau Gia-nhân-Khuê, cùng là quẻ âm phục-thịnh. Kư-tế-Vị-tế khép hàng Toàn-Kinh, quan-trọng nơi quẻ Vị-tế. Bởi chưng, ba hào dương đều thất-vị, là đường cùng cuả người con trai (Tạp-quái-truyện). Âm cực-thịnh, vật không thể cùng hoài, nên lấy quẻ Vi-tế mà chung-thiên. 

 

H́nh 7.23 Tự-Quái Viên-Đồ

Hệ-Hạ VII/1 nói: "Cho nên quẻ Lư là nền móng cuả đức-nghiệp, quẻ Khiêm là cái cán cuả đức-độ, què Phục là cỗi-rễ cuả đức-tính, quẻ Hằng là cái bền vững cuả đạo-đức, quẻ Tổn là sự trau-giồi cuả đức-dục, quẻ Ích là cái phát-triển khoan-thai cuả đức-dung, quẻ Khốn là sự xét nét cuả đức-hạnh, quẻ Tỉnh là đất dụng vơ cuả đức-hoá,  quẻ Tốn là chế-nghi cuả đức-tháo ".

Tiên-nho lấy chúng-quái suy-phối Thượng-Hạ-Kinh. Bởi chưng, Kiền đối với Hàm-Hằng, Lư đối với Tổn-Ích, Khiêm đối với Khốn-Tỉnh, Phục đối với Tốn-Đoái, mỗi bận, lấy một quẻ cuả Thượng-Kinh đối với hai quẻ cuả Hạ-Kinh, phàm 12 quẻ, nhờ đó mà số quẻ cuả hai Thiên được thích-tề : Thượng-Kinh có 30 quẻ, Hạ-Kinh có 34 quẻ, tức là chênh lệch 4 quẻ, nay lấy một quẻ cuả Thượng-Kinh đối với 2 quẻ cuả Hạ-Linh bốn lần, là đă lời lại được 4 quẻ  mà lập lại quân-bằng. Song le, trong 12 quẻ chỉ chọn 9 quẻ, Kiền-Hàm  khởi đầu hai thiên nên không kể, Đoài kết-thúc Hạ-Thiên cũng vậy. Lược bớt đầu đuôi, mà chỉ lấy khúc giữa các quẻ, để làm sáng tỏ từ từ âm-dương tiêu-tức thịnh-suy. Cho nên dừng ở 9 quẻ. Bốn tiết kể trên  suy thứ-đệ âm-dương tiêu-tức thịnh-suy, quả nhiên mật-hợp với H́nh 7.23.

 

 

 

Xem Kỳ 96

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com