www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 92)

 

Dịch Vi-Ngôn Đại-Nghĩa

 
易微言大義

 

Thất Bát Cửu Lục七八九六 : (Dịch-lệ, 312, tr. 603-6) 

  1. Ư-nghiă Căn-bản

Lời Thoán quẻ Kiền nói: "Kiền, nguyên, hanh, lợi, trinh".

     Lời Thoán quẻ Khôn nói: "Khôn, nguyên, hanh, lợi tẫn-mă chi trinh".

     Đó là ư-nghiă sơ-khởi cuả dụng-cửu, dụng-lục.

     Văn-Ngôn quẻ Kiền 32 nói: "Tri tiến-thoái  tồn-vong nhi bất thất kỳ chính giả, kỳ duy thánh-nhân hồ = Biết tiến lui, c̣n mất, mà không trái với chính-nghiă, chỉ có đấng thánh-nhân được như vậy ôi".

     Đó là ư-nghiă trung-dung cuả dụng-cửu, dụng-lục. Sách Trung-Dung cũng nói: "Chỉ có đấng thánh-nhân mới làm được mà thôi".

     Dịch nói Kiền-Khôn, không nói riêng Kiền mà cũng không nói riêng Khôn, rơ-ràng là trước-dụng cửu-lục: Kiền dụng-cửu kiêm Khôn-Kiền làm đầu (thủ), Khôn 'tiên mê', cho nên nguyên-thủ cát; Khôn dụng lục, kiêm Kiền-Khôn làm cuối (chung). Kiền dương-đại, cho nên mới lấy 'đại-chung'.

Sử-Mặc, sau khi mai-cử hào-từ cuả sáu hào quẻ Kiền, rồi nói: "Quẻ Khôn, bầy

rồng hiện ra không đầu, tốt". Tục-nho bảo là Kiền biến ra Khôn, là sai rồi. Hào có cửu mà cũng có lục. Phàm xưng cửu-lục là âm-dương có biến. Dụng-cửu, dụng-lục, 64 quẻ đều như vậy, đều nói là biến. Cho nên, Kiền dụng-cửu, xưng 'thửa Khôn', ắt Khôn dụng-lục, đương nhiên xưng 'thửa Kiền'. 'Thửa Khôn', 'thửa Kiền' là nói sáu hào cuả Kiền, Khôn biến, chứ không phải là Kiền biến ra Khôn, Khôn biến ra Kiền đâu. Từ  đời Ngụy, đời Tấn đến nay, chư-nho chưa hiểu thấu điều này. Sáu mươi tư quẻ, ba trăm tám muơi tư hào, đều xưng cửu-lục, mà bất-biến quá-bán; nói cửu-lục mà bất-biến, có thể thấy rơ trong quái-từ, hào-từ. Từ đời Chu trở về trước, Dịch-thư bàn về tượng đều bói thất-bát. Đến đời Văn-Vương mới thấy dùng cửu-lục để biến. V́ bói mà đổi tên làm dịch vậy. Kiền-tạc-độ nói: "Dương lấy thất, âm lấy bát làm thoán. Dương biến thất thành cửu, âm biến bát thành lục". Trịnh-Huyền chú rằng: "Cửu-lục là hào biến-động". Hệ-Hạ III/3 nói: "Hào dă giả, hiệu thiên-hạ chi động giả dă = Hào là bắt chước (to simulate) sự hoạt-động cuả thiên-hạ vậy". Vậy th́, Liên-sơn, Quy-tàng chiếm tượng lấy gốc ở tính-chất; c̣n Chu-Dịch chiếm-biến lại căn-cứ vào tính lưu-động (mobility).   

  1. Phép Dụng-cửu, Dụng-lục cuả hai quẻ Kiền, Khôn

Hệ-Hạ IX/3 nói: "Nhược phù tạp vật soạn đức, biện thị dữ phi, tắc phi kỳ trung, hào bất bị = C̣n như việc dọn đặc-tính cuả tạp-vật, xét phải trái, không dùng trung (chính giữa), hào chẳng hoàn-bị được". Ngu-Phiên chú rằng: "Trong sáu hào quẻ Kiền, nhị-tứ-thượng (dương cư âm-vị) không chính; trong sáu hào quẻ Khôn sơ-tam-ngũ (âm cư dương-vị) không chính, cho nên là tạp-vật. Nhân chồng hai quẻ đơn lên nhau, trung mới được phục-hồi. Cho nên, nếu không có trung, ắt hào-từ không hoàn-bị. Đạo có biến-động nên gọi là hào".

Thoán-truyện quẻ Khôn nói: "Hàm hoằng quang đại = To, rộng, sáng, lớn". Tuân-Sảng chú rằng: "Kiền nhị ở tại Khôn ngũ là hàm; Khôn ngũ trú tại Kiền nhị là hoằng. Khôn sơ ở tại Kiền tứ là quang, Kiền tứ trú tại Khôn sơ là đại".

Kiền cửu-nhị: "Hiện long tại điền, lợi kiến đại-nhân = Rồng hiện giữa ruộng, lợi ra mắt kẻ đại-nhân". Tuân-Sảng chú rằng: "Hiện là hiện nơi chỗ ở cuả nó, điền là Khôn, Kiền nhị đang thăng lên Khôn ngũ nên nói là 'Hiện long tại điền', đại-nhân chính là thiên-tử ".

    Kiền cửu-tứ:  "Hoặc dược tại uyên, vô cữu = Rồng nhẩy trên vực sâu, chẳng lỗi ǵ". Tuân-Sảng chú rằng: "Kiền là quẻ Vua (quân-quái). Tứ là ngôi âm. Cho nên thượng nhảy về ngũ là muốn xuống trú tại Khôn sơ, cầu dương chính. Điạ-hạ (hào sơ), xưng là vực".

    Kiền  thượng-cửu:  "Kháng long hữu hối = Rồng lên cao quá th́ có sự hối-hận".  Tuân Cửu-gia Dịch nói: "Kháng là cực, thất-vị. Đáng ra là phải đi khuất xuống Khôn tam mà làm chư-hầu. Cho nên mới hối-hận".  

   Khôn sơ-lục: "Lư sương kiên băng chí = Đi trên sương th́ biết băng dầy sắp đến". Tuân Cửu-gia Dịch nói: "Sương là mệnh cuả Kiền. Kiền đóng băng là âm-công đă thành. Bảo là Khôn sơ-lục đi sang Kiền tứ, đạp trên mệnh-lệnh cuả Kiền, mà thành băng dầy".

   Khôn lục-tam: "Hàm chương khả trinh = Ḷng ngậm chứa điều hay, th́ cứ giữ lấy cho bền". Dưới tam có phục dương, nên chứa điều hay, tam thất-vị, nên đi qua Kiền tam, cho nên cứ giữ lấy cho bền".

   Khôn lục-ngũ: "Hoàng thường, nguyên cát = Cái xiêm nhuộm mầu vàng th́ rất tốt". Khôn là xiêm, đồ phục-sức bên dưới. Mầu vàng là trung-sắc có độ dài sóng trung-b́nh trong các tia sáng thấy được. Ngũ nên đi qua Kiền nhị mà cư trung cuả hạ-quái, nên nói là 'Hoàng thường'.

  1. Ư-nghiă nới rộng

Thủ cuả Huyền là dương nên mang số 7, quẻ cuả Dịch là âm, nên mang số 8, hào là biến nên mang số 9 (hào dương) hoặc số 6 (hào âm).

     Trời đất chỉ có bốn số: 7, 8, 9, 6.

     Hợp-số cuả trời đất là 55, mà trời 5 là hư-số, là thổ ngũ. Thành-số là 5, hai 5 rơ 10, cho nên có điạ thập, ắt 5 là hư. Hư là dụng. Cho nên 1, 2, 3, 4, được 5 thành ra 6, 7, 8, 9 mà thủy hoả, mộc, kim đầy đủ, v́ có thổ ở bên trong. Cho nên Dịch chỉ có có bốn số 7, 8, 9, 6 mà số cuả trời đất đă hoàn-bị rồi.

Bốn số 7, 8, 9, 6 hợp thành 30 mà số cuả trời đất hoàn-tất.

Thuỷ, hoả, mộc, kim được thổ mà thành. Cho nên, 1, 2, 3, 4 được 5 mà thành 6. 7, 8, 9.

  1. Nghiă Thâm Sâu cuả Cửu, Lục, Thất, Bát

Dịch Cổ-văn Thượng-Hạ Bản không có từ ghép sơ-cửu, sơ-lục cùng là dụng-cửu, dụng lục. Cho nên trong Tả-truyện, Chiêu-công năm thứ 29, Sái-Mặc thuật Chu-Dịch, nơi Kiền sơ-cửu ắt nói 'Kiền chi Cấu'. Nơi dụng-cửu ắt nói: 'thửa Khôn'. Trong Quy-quá, Lưu-Huyễn nói: "Ư cuả Sái-Mặc là trích Dịch-văn, không phải là bói cỏ thi mà cầu quẻ. Dịch-bản vẫn c̣n nói sơ-cửu, cửu-nhị, nhưng dùng hào-biến để thành quẻ, tức lấy quẻ nọ đặt tên cho hào kia. Ư là không lấy hào chi, như Đồng-nhân, Đại-hữu, mà vẫn c̣n dẫn Kinh Thi, như nói Chương Hai, Chương Ba". Thành thử ra rất có thể, sơ-cửu, sơ-lục đều do Hán-nhân thêm vào sau. Nhưng, trong Thập-dực cuả Phu-tử, nơi Khôn-truyện nói: "Lục-nhi động". Đại-hữu Truyện nói: "Đại-hữu sơ-cửu". Văn-ngôn nói: "Kiền nguyên dụng-cửu". Khôn Truyện nói: "Dụng lục lợi vĩnh trinh".  Ắt danh-từ sơ-cửu, sơ-lục, dụng cửu, dụng lục đă có từ thời Phu-tử, không phải đến thời Hán mới có. Nghiă cuả cửu-lục, đă có trong Lời Buộc (hệ-từ): "Số cuả trời đất là 55: trời 9, đất 6 [Cửu-gia Dịch nói: "Trời số 9, đất số 6"]. Sách cuả Kiền là 216, sách cuả khôn là 144, đều lấy 4 x 9, 4 x 6 mà nhân cho, ắt đều là bội-số cuả kiền 9 và khôn 6 cả. Mười hai luật-lă lấy gốc ở Dịch. Tháng Một hoàng-chung, là Kiền sơ-cửu. Hoàng-chung là luật thiên-thống, dài 9 tấc, 6 phân. Lâm-chung là Khôn sơ-lục. Lâm-chung là luật điạ-thống, dài 6 tấc. Cũng là Kiền 9, Khôn 6. Đó là nghiă cuả cửu-lục vậy. C̣n nghiă cuả 7 là thiếu-dương, 8 là thiếu-âm, 9 là lăo-dương, 6 là lăo-âm, thấy trong Dịch cuả Khổng Dĩnh-Đạt, Kiền Quái Chính-nghiă cùng là Chu-Lễ Thái-bốc Sớ cuả Giả Công Ngạn, Chu-Dịch Tân-nghiă cuả Thôi-Cảnh. Thuyết cuả họ Khổng, họ Giả, họ Thôi đều dựa vào Trần Ti-Cơ. Trong Dich Kiền-quái Chính-nghiă cuả Tham-quân Trương-Cơ có nói đến họ Trương tức là Ti-Cơ vậy. Thuyết cuả Cơ lại gốc từ Dịch-chú cuả Trịnh Khang-thành nay đă tán-vong, chỉ c̣n thấy trong Ngũ-kinh Chính-nghiă cùng là Chu-Lễ, Nghi-Lễ, Công-dương Sớ cũng như Tập-Chú cuả Vương Hậu-Tề (tập họ Trịnh 1 Q, đằng sau có phụ-lục Ngọc-Hải). Trịnh-Chú-Dịch có tứ-tượng nói rằng: bố-trí 6 ở phương bắc để tượng thủy, 8 ở phương đông để tượng mộc, 9 ở phương tây để tượng kim, 7 ở phương nam để tượng hoả". Lại chú : "Tinh-khí vi vật, du-hồn vi biến = Có tinh, có khí là vật, chỉ có hồn phảng-phất là biến" (Hệ-Thượng IV/2). Chú rằng: "Tinh-khí là 7-8, du-hồn là 9-6: 7-8 là số cuả mộc-hoả, 9-6 là số cuả kim-thủy. Mộc-hoả dụng–sự mà vật sinh, nên mới nói: tinh-khí vi vật. Kim-thủy dụng-sự mà vật biến, nên mới nói: du-hồn vi biến. Bảo là thần mộc-hoả sinh vật nơi đông-nam, quỷ kim-thủy kết-liễu vật nơi tây-bắc. Nếu như vậy th́, sinh vật gọi là thiếu, chung vật gọi là lăo". Đó là nghiă cuả lăo-thiếu. Kết-hợp các thuyết cuả Trịnh-Trương-Khổng-Giả-Thôi mà khảo-cứu, ta sẽ thấy rằng, trên thực-tế, 7-8-9-6 là toàn-số cuả trời đất. Hệ-Thương IX/1 nói: "Thiên nhất, điạ nhị, thiên tam, điạ tứ, thiên ngũ, điạ lục, thiên thất, điạ bát, thiên cửu, điạ thập". "Tử viết: Phù Dịch hà vi giả dă? = Ôi! Đạo Dịch làm nên việc ǵ vậy" (Hệ-Thượng XI/1). Ngu-Phiên chú rằng: "Hỏi Dịch làm nên việc ǵ, là lấy số cuả trời đất vậy". Hệ-Thượng XI/2 nói: "Thị cố thi chi đức viên nhi thần, quái chi đức phương dĩ trí, lục hào chi nghiă Dịch dĩ cống, thánh-nhân dĩ thử tẩy tâm, thoái tàng ư mật, cát hung dữ dân đồng hoạn, thần dĩ tri lai, trí dĩ tàng văng, kỳ thục năng dự ư thử tai, cổ chi thông-minh duệ-trí thần-vũ nhi bất sát giả phù. = Do đó đức cỏ thi tṛn mà thần-diệu, đức quẻ kép vuông để biết, nghĩa sáu hào, Dịch đă cống-hiến. Thánh-nhân dùng điều ấy để rửa ḷng, lui ẩn nơi kín đáo, lành dữ cùng dân lo, thần để biết việc sau, trí để nhớ việc trước, c̣n có ai khác dự vào điều ấy được? Người xưa thông-minh duệ-trí thần-vũ mà chẳng sát-phạt ru". 'Thi chi đức viên nhi thần' là số 7 (7 x 7 = 49 = 50 – 1 cọng cỏ thi); 'quái chi đức phương dĩ trí' là số 8 (8 x8 = 64: Chu-Lễ quan Thái-bốc nói rằng: kinh-quái (quẻ đơn) có 8, biệt-quái (quẻ kép) có 64. 'Lục hào chi nghiă Dịch dĩ cống' là 9-6. Hệ-Thượng III/1 nói: "Hào giả ngôn hồ biến giả dă= Hào là nói về biến". Hệ-Hạ III/3 nói: "Hào dă giả hiệu thiên-hạ chi động giả dă = Hào là bắt chước sự hoạt-động cuả thiên-hạ vậy". Hệ-Hạ X/2 nói: "Đạo hữu biến-động, cố viết hào = Đạo có biến-động, nên gọi là hào". Cho nên 384 hào cuả Dịch đều xưng là cửu-lục. Là trong các số cuả trời đất, ắt Dịch chỉ lấy có 7-8-9-6 để làm quái-đức cuả cỏ thi. Nghiă cuả 6 hào lúc dùng để bói bằng cỏ thi, gặp hào không biến, ắt không bảo là 7, mà bảo là 8. Hơn hết, 'thi viên nhi thần, thần dĩ tri lai, quái phương dĩ trí, trí dĩ tàng văng'.  'Tri lai' là quẻ chưa thành, 'tàng văng' là quẻ đă được, cho nên không bảo là 7, mà bảo là 8. Tả-truyện Tương-Công năm thứ 9 chép: "Mục-Khương bắt đầu dọn sang Đông-cung mà bói cỏ thi lại gặp quẻ 'Cấn chi bát' ". Tấn-Ngữ chép: "Trùng-Nhĩ trở về nước, Đổng-Nhân bói được 'Thái chi bát' ". Bát là số cuả quẻ. Cho nên thời Xuân-Thu, nội-ngoại lưỡng-truyện đều không có 7, bởi v́ 7 ứng với quẻ chưa thành. Căn-cứ vào lúc bói cỏ thi, th́ 7-8-9-6 đều ứng với quẻ chưa thành. Lúc quẻ đă thành th́ 7-8 là tượng, 9-6 là biến. Đến khi kể tên quẻ, chỉ xưng 8, không xưng 7: đó là phép cổ. Tất biết 7-8-9-6 là toàn-số cuả trời đất. Số cuả trời đất, 1 kêu là thủy,  2 kêu là hoả, 3 kêu là mộc, 4 kêu là kim, 5 kêu là thổ. 1-2-3-4 được 5 mà thành 6-7-8-9. Các hành thủy-hoả-mộc-kim, nơi bốn muà thêm 5 là thổ (xem Thái-Huyền, 2 x 5 = 10, là điạ thập), ở trung-ương, vượng bốn phương. Cho nên, số cuả trời đất chỉ có 7-8-9-6: 7 + 8 = 15 = 9 + 6; 2 X 15 = 30, là số ngày trong một tháng. 7-8 là xuân-hạ, 9-6 là thu-đông. Bốn muà lập thành, mà tṛn một năm. Thiên lục, điạ-ngũ: ngày có lục-giáp (tức giáp-tư, giáp-tuất, giáp-thân, giáp-ngọ, giáp-th́n và giáp-dần, giờ có ngũ-tư (tức giáp-tư, bính-tư, mậu-tư, canh-tư, và nhâm-tư). 5 x 6 = 30 mà số cuả trời đất hoàn-tất. Tam-thống-lịch nói: "5-6, mà đạo cuả trời đất hoàn-tất, bảo là 'chung nhi phục thủy', tức là 5-6 vậy". Hán-chí nói: "5-6 là thiên-điạ trung-hợp, cũng gọi là thiên-ngũ, điạ-lục". Dương-Kiệt Phú bảo là 'thiên-ngũ, điạ-lục' không phải là Hán-pháp. Thế mới biết 7-8-9-6 là toàn-số cuả trời đất mà cũng là sở-tồn và sở-dụng cuả Dịch: chi bằng 'Đem quách cả sở-tồn làm sở-dụng' như Cụ Thượng Trứ đă viết trong bài hát nói 'Kẻ Sĩ'.

Bản : (279, tr. 532-538) nói:

Thoán -truyện quẻ Đại-quá cuả Dịch nói: "Đống nạo bản mạt nhược dă = Cái xà nhà uốn cong là gốc và ngọn đều yếu vậy". Ngu-Phiên chú rằng: "Sơ thượng đều âm nhu có nghiă là gốc ngọn đều yếu. Cho nên là cái xà nhà uốn cong". 

Hệ-Hạ VII/2 nói: "Phục đức chi bản dă = Quẻ Phục là gốc cuả đức".  Ngu-Phiên chú rằng: "Phục sơ là nguyên cuả Kiền, cho nên là gốc cuả đức". 

Hệ-Hạ IX/2 nói: "Kỳ sơ nan tri, kỳ thượng dị tri, bản mạt dă. = Hào sơ khó biết, hào thượng dễ biết, đó là gốc ngọn vậy". Hầu-Quả chú rằng: "Gốc, ngọn là sơ, thượng". Trong Chu-Lễ, họ Sư lấy tam-đức mà dạy-dỗ quốc-tử, một là: lấy chí-đức làm gốc đạo. Trịnh-Huyền chú rằng: "Chí-đức là đức trung-hoà che chở, tŕ-chính, hàm-dung". Đức Khổng-tử nói: "Trung-dung ban đức chí-cực". 

Bài Giản Hề trong Kinh Thi nói: "Cầm dây cương ngựa như kết lông lại". Mao-truyện nói: "Tổ là xếp đặt. Chế-ngự chúng-nhân mà có văn-chương, nói năng trị chúng, động nơi gần, mà thành-công nơi xa". Chính-nghiă nói: "Ngự là cầm cương ngựa ngơ hầu khiến ngựa thẳng rong nơi này, tổ-chức là trau giồi nơi này, thành văn nơi nọ, đều là động nơi gần, thành nơi xa. [Lă-lăm Tiên Dĩ nói: "Cây tùng cao trăm nhận, bên dưới bị thương mà ngọn bên trên khô. Con buôn nhân khốn đó, mưu din trong ḷng. Kinh Thi nói: 'Chấp loan như tổ'. Đức Khổng-tử nói: 'Xét lời đó có thể cai-quản thiên-hạ'. Thầy Tử-cống nói:'Tính nóng nẩy thay!' Đức Khổng-tử nói: 'Không phải là bảo thửa tính nóng nẩy, mà là bảo làm việc nơi này mà thành văn nơi khác. Thánh-nhân sắp đặt tu-thân mà thành văn nơi thiên-hạ'. Cao-Dụ nói: 'Ḷng do trong mà cũng là do ngoài nữa'.] ". 

Đại-Đới Lễ Bảo Truyện nói: "Dịch nói: Làm chính cái gốc (gốc là hào sơ), tự khắc vạn-vật có lư". 

Sách Đại-Học nói: "Vật có gốc, có ngọn, sự viêc có đầu đuôi. Biết được việc nào phải làm trước, việc nào phải làm sau, ắt đă gần đạo rồi. Vương-hầu xưa muốn cho mọi người đều làm chương-minh đức sáng của ḿnh, trước tiên phải cai-trị giỏi nước ḿnh (Thiên Nghiêu-điển trong Ngu Hạ Thư nói: "Làm sáng khắp bốn phương, tỏ rơ được đức lớn, thân với người trong chín họ, tức thị từ đời cao-tổ đến đời huyền-tôn. Người trong chin họ đă thuận-mục rồi, mới chương-minh trăm họ. Bách-tính đă chiêu-minh rồi, mới hiệp-hoà muôn nước. Dân đen thẩy đều biến-đổi, đời dân yên vui. Nên từ gốc rễ mà đạt ngọn, nguyên thủy cập chung, áp-dụng triệt-để đạo 'nhất dĩ quán chi' (lấy đạo duy nhất mà quán-thông vạn-sự)"). Muốn cai-trị giỏi nước ḿnh, trước nhất phải khu-xử thuận thảo gia-đ́nh ḿnh. Muốn khu-xử thuận thảo gia-đ́nh ḿnh, trước hết phải tu thân. Muốn tu-thân, trước nhất phải làm cho tâm ḿnh b́nh-chính. Muốn làm cho tâm ḿnh b́nh-chính, trước hết phải làm cho ư-tưởng ḿnh đoan-chính (Tuân-tử nói: dưỡng-tâm không ǵ tốt đẹp bằng chân-thành). Muốn làm cho ư-tưởng ḿnh đoan-chính, trước tiên phải khai-triển triệt để tri-thức ḿnh (Trịnh-Huyền chú rằng: "Tri là biết chung thủy cuả thiện-ác, cát hung"). Con người khai-triển triệt để trí-tuệ ḿnh bằng cách xét vật, cùng-lư (Thương-Hiệt nói rằng: "Cách là luợng-độ", tức là bảo cái ǵ phải làm trước). Xét vật cùng-lư rồi sau mới biết đến nơi đến chốn. Biết đến nơi đến chốn, rồi sau tâm-ư mới chân thành. Tâm ư chân thành, rồi sau tính t́nh mới đoan-chính. Tính t́nh đoán chính rồi, bản thân mới tu-trị. Bản thân tu-trị rồi, gia-đ́nh mới chỉnh chu. Gia-đ́nh chỉnh chu rồi, quốc-gia mới thuận-trị. Quốc-gia thuận-trị rồi, thiên-hạ mới b́nh-trị (Bảo là cái ǵ phải làm sau). Từ thiên-tử cho chí thứ-dân, tất cả đều phải lấy việc tu thân làm cỗi rễ (Chu-tử nói: "Từ chính-tâm trở lên, là để tu-thân".). Như quả bản thân mà chưa tu-trị nổi, mà đă muốn quốc-gia, thiên-hạ b́nh-trị là sai vậy rồi. Ân-trạch phải nặng mà lại coi nhẹ, ân-trạch phải nhẹ mà lại xem nặng, là chuyện phi-lư, chưa từng xẩy ra bao giờ".

Mạnh-tử nói: "Con người có hằng-tâm đều coi việc thiên-hạ như viêc nước, việc nước như việc nhà, việc nhà như việc bản thân". 

Lại nói: "Từ-tử nói: 'Trọng-ni gấp xưng nơi thủy nói: thủy ôi! thủy ôi! lấy ǵ ở thủy?' Mạnh-tử nói: 'Suối nguồn cuồn cuộn chẩy, ngày đêm không ngừng. Vũng đầy tiến ra bốn bể, có cỗi rễ như vậy. Ví phỏng không gốc gác, tháng bẩy, tháng tám ta, nước mưa tụ hết nơi lạch, rănh, các chỗ khác khô cạn, có thể nào đứng yên mà chờ đợi không? Cho nên nghe lời quá tính, người quân-tử lấy làm xấu-hổ ' ". Lại nói: ''Có đại-nhân kiểu-chính ta, mà vật tự khắc chính vậy". 

Đổng Trọng-Thư Đối-sách nói: "Thần cẩn án: Xuân Thu gợi ư một nguyên là vạn-vật theo dấu lúc bắt đầu. Nguyên nghiă là lớn. Bảo nhất là nguyên, là coi đại-thủy mà muốn chính-bản. Xuân Thu thám bản mà ngược lại tự-quư là thủy. Nên nhân-quân là chính-tâm để chính triều-đ́nh, chính triều-đ́nh để chính bách-quan, chính bách-quan để chính vạn-dân, chính vạn-dân để chính tứ-phương, tứ-phương xa gần chẳng dám bất-nhất nơi chính mà quên hết tà-khí, gian ngoan". 

Lă-Lăm Hiếu-Hạnh nói: "Phàm v́ thiên-hạ trị quốc-gia tất chuyên lo việc gốc, rồi sau mới lo đến ngọn [Chiêm Hà nói: thân trị mà nước chẳng trị, là chuyện chưa từng xẩy ra. Cho nên nói rằng: tất chuyên lo việc gốc]. Cái gọi là gốc không phải là cầy bừa, trồng-trọt, mà là phục-vụ con người (phục-vụ là cung-cấp). Chăm lo cho người, chẳng nghèo mà giầu, có ít thêm nhiều. Chăm lo gốc vậy. Chăm lo gốc, không ǵ quư bằng hiếu [Hiếu là gốc cuả hạnh, nên thánh-nhân quư hiếu]. Ôi! Gốc cuả hiếu với tam-hoàng, ngũ-đế, chuyên lo quán vạn-sự. Ôi! Cầm giữ một thuật mà trăm thiện đến, trăm ác đi, thiên-hạ theo về chỉ v́ một chữ hiếu. Cho nên luận về người, ắt xét từ thân đến sơ [trước là gốc, sau là ngọn; trước là gần, sau là xa]. Tất lo từ trọng đến khinh [trọng là cha mẹ ḿnh; khinh là cha mẹ người khác]. Bây giờ có người áp-dụng nết ấy cho cả thân lẫn sơ, là đă lo tṛn hiếu-đạo. Đó là phương-cách tiên-vương dùng để trị thiên-hạ vậy. Cho nên kính yêu cha mẹ ḿnh là không dám ác với người khác, không dám khinh-mạn người khác. Kính yêu hoàn toàn nơi phụng-sự cha mẹ, quang-diệu lan sang trăm họ. Suy rộng cho bốn biển, đó là chữ hiếu cuả thiên-tử. Chẳng thế mà Hiếu-kinh đă nói: con người không những phài hiếu với ông bà, cha mẹ, mà con phải hiếu với tổ-quốc và vũ-trụ nữa". Các điiều kể trên được trích-dẫn từ Hiếu-kinh Nghiă-sớ. Chương Thánh-trị nói: "Thánh-nhân nhân nghiêm mà dạy kính, nhân thân mà dạy ái. Thánh-giáo không nghiêm nhặt mà thành-công, là nhờ lấy hiếu làm gốc". 

Lă-Lăm Chấp-nhất nói: "Sở-vương hỏi ẩn-sĩ Chiêm-Hà về việc trị nước. Chiêm-tử đáp rằng: Hà chỉ nghe trị thân, chưa nghe trị nước. Sở-vương nói: Chiêm-tử há không biết trị nước sao? Cho rằng trị nước gốc ở trị thân. Trị thân rồi mới tề-gia, trị-quốc, b́nh thiên-hạ được. Bốn việc đó tuy khác ngôi, nhưng cùng gốc. Cho nên công việc cuả thánh-nhân rộng lớn lắm, cực vũ-trụ, cùng nhật-nguyệt, thu hẹp lại ắt không vượt khỏi bản thân". 

Lăo-tử Đạo-đức-kinh (Chương LIV) nói: "Khéo dựng Đức th́ không nhổ đi được". Tiểu-tượng-truyện quẻ Kiền nói: "Rơ ràng là ư-định không thể nhổ đi được". Hào-từ Truân sơ-cửu nói: "Lợi dựng tước hầu". Ngu-Phiên dẫn lời Lăo-tử kể trên để Làm chứng. Đạo-đức-kinh (Chương LIV) nói: "Sửa Đạo nơi ḿnh, Đức sẽ rất tinh-thành". 

Hoài-nam-tử Đạo-ứng nói: "Vua Sở hỏi Chiêm-Hà rằng: 'Trị-quốc ra làm sao?' Hà đáp rằng: 'Hà chỉ hiểu phép trị thân, mà chưa biết phép trị-quốc'. Vua Sở nói: 'Quả-nhân được lập tông-miếu, xă-tắc, nên muốn học phép giữ nước'. Đáp rằng: 'Thần chưa từng nghe thân trị mà nước loạn, chưa từng nghe thân loạn mà nước trị. Cho nên gốc nhậm nơi thân, không dám lấy ngọn'. Vua Sở nói: "Tốt". Cho nên Lăo-tử nói: "Khéo dựng Đức th́ không nhổ đi được". 

Pháp-ngôn Ngô-tử nói: "Xin hỏi về gốc". Đáp rằng : "Hoàng-chung lấy trung-chính cuả sinh để làm cho bằng phẳng. Chính xác thay. Trịnh, Vệ không xâm-nhập được". Lấy nhạc để hiểu dụ gốc, kiên-thụ ngay từ đầu, chuẩn-xác thay. 

Pháp-ngôn Tiên-tri nói: "Hoặc nói: Nước Tề được Quản Di-Ngô mà dựng nên nghiệp bá". Đức Trọng-ni nói: "Tiểu-khí mời mọc đại-khí". Cũng nói: "Đại-khí là do quy-củ chuẩn-thằng ru? Trưóc tự-trị, rồi sau mới trị-nhân, chính là cái ta gọi là đại-khí vậy". Ngô-Bí chú rằng: "Quy-củ thoạt tiên tự làm cho vuông tṛn, chuẩn-thằng tự làm cho thẳng, ngay rồi sau mới làm thành đại-khí được. Xuất từ đó là đại-khí. Quản-tử không biết lễ, th́ làm sao mà chính-quốc được".

Trang-tử Nam-hoa-kinh Thiên-điạ nói: "Lấy gốc làm tinh, lấy vật làm thô" (Đó là cái học cuả Quan-Doăn, Lăo-Đam).

A Đức (Độc Dịch Hội-thông, 311, tr. 495-6)

Tượng-truyện quẻ Quyết nói: "Trạch thướng ư thiên: Quyết. Quân-tử dĩ thí lộc cập hạ, cư đức tắc kỵ. = Hơi đầm bốc lên trời, tượng-trưng cho rơi đổ (mưa), người quân-tử, ban  lộc cho kẻ dưới, ở ĺ tại đức ắt kỵ". Đa-số các thuyết cắt nghiă 'cư đức tắc kỵ' đều không thông. Vương-Bật cắt nghiă chữ 'tắc' là phép, huấn chữ kỵ là cấm-kỵ, nên bảo rằng: phép minh, phán-đoán nghiêm, cư đức là minh-cấm, dễ dầu cho 'tắc kỵ' là 'minh-kỵ'. Hạng B́nh-Phụ nói: " 'Cư' huấn là 'tích', giống như 'hoá cư' cuả Kinh Thư, hay 'cư nghiệp' cuả Kinh Dịch. Người đời Hán c̣n nói: cư tích". Dương Quy-Sơn nói: "Cậy đức dầy mà ở lỳ tại chỗ, ắt kỵ". Trương Tử-Nham nói: " 'cư đức tắc kỵ' biểu-lộ tư-t́nh cậy công, hẳn thiên-hạ quần-khởi tấn-công". Huệ-Đống nói: "Người quân-tử xem tượng quẻ Quyết, thi-thố ban lôc trạch cho vạn-vật, mà riêng ḿnh không có, cho rằng đức không phải là đức, cũng là có đức vậy. Cho nên người quân-tử ban lộc cho kẻ dưới, giữ khư khư lấy lộc th́ không nên". Án: Chư-nho thường bắt chước Lăo-tử, công thành, không ở nán lại: so với cựu-thuyết th́ minh-bạch hơn. Ngoài ra, 'Trạch thướng ư thiên', Lục Công-Kỷ bảo là: "Hơi nước bốc lên trời rồi rơi xuống thành mưa, nên nói là 'đổ xuống' ". Ngu-Phiên nói: "Kiền là thi, lộc là đức". Ngô Vi-Lư nói: "Hoặc lộc là tượng đoài, đức là tượng Kiền. Thế th́ đoài là trạch-lộc, Kiền cũng là lộc. Kiền vừa là trời, vừa là lộc. Ấy là hào nhị dương cuả đoài cũng như hào tam dương cuả Kiền đều có thể tượng lộc. Kiền là kiện-đức, đoài duyệt cũng là đức. Ấy là hào nhị dương cuả đoài cũng như hào tam dương cuả Kiền đều có thể tượng đức vậy". Cuối mà không kém, Đại-sư Thích Trí-Húc (315) có nói: "Lộc nên ban, đức nên ở. Lộc không ban th́ ân-huệ khô-khan, đức không ở th́ mất gốc. Lại thêm, ban lộc cho kẻ dưới, có thể hoá-nhân được, c̣n nếu cư-đức là tự-măn, là điều người đời thường kỵ".

B Sinh An Chi Học 生安之學: (279, tr. 526)

Hậu-nhân khi bàn về Khổng-học chỉ nói về cái học khổn-miễn mà tuyệt nhiên không đề-cập thuyết an-sinh Lục-kinh cuả cái học An-sinh thượng-thừa. Vị thường không thâm-thiết t́m ṭi thú-vị trong Huấn-hỗ cuả Lục-kinh. Nhẫn từ thất-thập-tử mất đi đại-nghiă Lục-kinh đă sai-lạc rồi, đó không phải là do lỗi cuả hậu-nhân.

 

 

Xem Kỳ 94

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com