www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 91)

 

Dịch Vi-Ngôn Đại-Nghĩa

 
易微言大義

 

Thiện : (279, tr. 587-588)

Văn Ngôn quẻ Kiền I nói: "Nguyên giả thiện chi trưởng dă = Nguyên là trùm mọi điều thiện". Văn-Ngôn V quẻ Khôn nói: "Tích thiện chi gia tất hữu dư khương, tích bất-thiện chi gia, tất hữu dư ương. = Nhà nào chứa điều lành, ắt có thừa phúc, nhà nào chứa điều chẳng lành, ắt có thừa tai-vạ". Ngu-Phiên chú rằng: "Kiền sơ là tích thiện". 

Hệ-Thượng V/1, 2 nói: "Nhất âm, nhất dương chi vị đạo. Kế chi giả thiện dă. Thành chi giả tính dă = Một âm và một dương gọi là đạo. Nối-tiếp đạo là điều lành. Làm nên đạo là tính".   

Hệ-Hạ V/1, 2 bảo: "Đức Khổng-tử nói rằng: 'Người con nhà họ Nhan có lẽ gần đạo ư?

Có điều chẳng lành, chưa từng chẳng biết. Đă biết th́ chưa bao giờ phạm trở lại.' Kinh Dịch nói rằng: 'Bất viễn phục, vô chỉ hối, nguyên cát = Như thể chẳng xa ǵ mấy, mà đă trở lại, không đi đến chỗ hối tiếc, rất tốt' (Hào-từ sơ-cửu quẻ Phục)". Ngu-Phiên chú rằng: "Phục để tự biết".

Trung-Dung, Chương VIII, nói rằng: "Tử viết: 'Hồi chi vi nhân dă, trạch hồ Trung-Dung, đắc nhất thiện, tắc quyền-quyền phục ưng, nhi phất chi hỹ' = Đức Khổng-tử nói: 'Ngươi Hồi (tức Thầy Nhan-Hồi) mới chính là người biết chọn đạo Trung-Dung. Mỗi khi được một điều thiện, th́ Hồi ôm-ấp măi trong ḷng, chẳng bao giờ để mất' ".

[Một điều thiện tức Kiền sơ, tức Phục sơ. Phục sơ là trung-hành (cùng đi ở trong với chúng), nên nói là 'chọn đạo Trung-Dung, được một điều thiện'. Thành thử ra đoạn Trung-Dung này và Hệ-Hạ V/1, 2, cùng phát-minh một ư đó]. 

Đại-Đới Lễ Khuyến-học nói: "Tích thiện thành đức". Án: Phục X Sơ là thiện, Phục tam là thành đức. Cho nên, Văn-Ngôn quẻ Kiền 26 nói: "Quân-tử dĩ thành đức vi hạnh = Người quân-tử lấy việc trở nên có đức làm nết". Bia 'Hán Nghị-lang Nguyên-bửu' chép: "Tích-thiện là muốn nói đến hào cửu-tam quẻ Kiền. Dương thành nơi hào cửu-tam. Tích-thiện thành đức đến hào tam th́ hoàn-thành".


 : (279, tr. 622-6)

Chữ lư gồm c̣ hai nghiă. Tính con người vốn do trời phú-bẩm. Tính kiêm gồm hai nghiă: trên trời là âm với dương; dưới đất gồm nhu với cương; nơi con người là nhân với nghiă. Kiêm tam-tài mà nhân đôi. Cho nên nói rằng: lư cuả tính-mệnh vui nói là thiên-lư. Gọi là tốt, xấu. Tốt gần nhân, xấu gần nghiă. Tốt xấu đều được chính cả, th́ gọi là thiên-lư; tốt xấu đều thất-chính cả, th́ gọi là diệt thiên-lư. Đại-Học gọi là trái nhân-tính. Thiên-mệnh gọi là tính Tính có âm-dương, cương-nhu, nhân-nghiă, cho nên người đời sau muốn lấy thiên-nhân-lư làm đối-đăi, tạm-thời nói rằng: "Trời tức là lư". Điều này sai.

Cách vật trí-tri, cùng sự-lư, chính-tâm, thành-ư, tận-tính. Tính tận, lư cùng, thiên-hạ bèn trở nên chí-thành. Cho nên chí nơi mệnh, trời che chở không tiếng, không mùi đến tột cùng. 

Hệ-Thượng I/8 nói: "Dị-giản nhi thiên-hạ chi lư đắc hỹ, thiên-hạ chi lư đắc nhi Dịch thành vị hồ kỳ trung hỹ. = Giản-dị mà biết được cái lẽ cuả thiên-hạ, biết được cái lẽ cuả thiên-hạ, mà Dịch lập thành điạ-vị cuả Dịch trong trời đất". Hệ-Thượng I/8 nói: "Ngưỡng dĩ quan ư thiên-văn, phủ dĩ sát ư điạ-lư. = Ngửng lên để xem thiên-văn, cúi xuống để xét điạ-lư". Cúi xuống để xét điạ-lư, nên Khôn thuộc lư. 

Thuyết-quái-truyện I/3 nói: "Cùng lư tận tính dĩ chí ư mệnh. = Xét lư đến cùng, bàn hết tính mà đạt tới mệnh". Ngu-Phiên chú rằng: "Lấy Kiền suy Khôn gọi là cùng lư". 

Án: Giản-dị mà biết được thiên-lư là thuật lại thiên-mệnh và trung-hoà. Xét lư đến cùng, bàn hết tính mà đạt tới mệnh, ấy là từ trung-hoà đi ngược về thiên-mệnh. 

Thuyết-quái-truyện II/1 nói: "Tích giả thánh-nhân chi tác Dịch dă, tương dĩ thuận tính-mệnh chi lư. Thị dĩ lập thiên chi đạo, viết âm dữ dương; lập điạ chi đạo viết nhu dữ cương; lập nhân chi đạo, viết nhân dữ nghiă. = Ngày xưa, đấng thánh-nhân làm Kinh Dịch, là để thuận cái lẽ về tính-mệnh. Cho nên dựng đạo trời là âm và dương; dựng đạo đất là nhu và cương; dựng đạo người là nhân với nghiă".

Án: Âm-dương, nhu-cương, nhân-nghiă, chính là cái ta gọi là lư vậy. 

Trung-Dung, Chương XXXI, nói: "Văn-lư mật-sát túc dĩ hữu biệt dă. = Văn-chương, điều-lư cẩn-mật, minh-sát đủ để phân-biệt sự-lư vậy". [Lư là có ư phân-biệt].

Georges Spencer-Brown nói: "A distinction is a distinction is a distinction"

Nhạc-Kư (tức Chương XIX sách Lễ-Kư) nói: "Âm-nhạc sinh ra nơi ḷng người. Âm-nhạc khai-thông luân-lư". Trịnh Khang-thành chú rằng: "Lư là phân".  

Lại nói: "Đởi người mà tĩnh là tính trời. Cảm nơi vật mà động là tính ham muốn. Vật chí tri, tri rồi sau mới yêu, ghét h́nh. Yêu ghét vô-tiết bên trong, tri-dụ bên ngoài, không năng phản-thân, th́ thiên-lư diệt. Ôi! Vật cảm người vô-cùng, mà người yêu ghét vô-tiết, là vật tới mà người cải-hoá vật vậy. Người cải-hoá vật là diệt thiên-lư và cùng cực nhân-dục vậy thay". 

Nhạc do trời làm ra. Nhạc hội-thông luân-lư, cho nên gọi là thiên-lư. Lư là phân, là tiết-chế (contradistinctiveness). Hán-luật nghịch-tiết tuyệt-lư gọi cái đó là bất-đạo (trái đạo). Khang-thành Tử-Ung lấy thiên-lư làm thiên-tính, lư ấy chẳng thuộc đất mà cũng chẳng thuộc trời. Một đóng, một mở, một tĩnh, một động gọi là thiên-lư. Nói  rằng: "Đời người mà tĩnh là thiên-tính; cảm nơi vật mà động là dung-tính. Cái đó gọi là thiên-lư. 

Hàn-phi-tử nói: "Phàm vật có h́nh-thể. Là dễ xén, dễ cắt. Đă có h́nh, ắt có dài-ngắn, có dài-ngắn, ắt có nhỏ-lớn. có nhỏ-lớn, ắt có vuông-tṛn, có vuông-tṛn, ắt có cứng-gịn, ắt có nặng-nhẹ, có nặng nhẹ, ắt có trắng-đen. Dài-ngắn, lớn-nhỏ, vuông-tṛn, cứng-gịn, có cứng-gịn, ắt có nặng-nhẹ, có nặng-nhẹ, ắt có trắng-đen, đó là cái ta gọi là lư. Lư đă định, th́ vật dễ cắt. Cho nên muốn thành vuông-tṛn, cần tuỳ theo quy-củ (com-pa và ê-ke), ắt vạn-sự công-h́nh, mà vạn-vật không vật nào là chẳng có quy-củ. Thánh-nhân tận-tùy quy-củ cuả vạn-vật, ắt sự nào ra sự nấy, công nào ra công nấy". Điều này thích lư rất ư là phân-minh. 

Lại nói: "Đạo là sở-nhiên cuả vạn-vật, là sở-kê cuả vạn-lư. Lư là văn-chương thành vật. [Dịch âm-dương cương-nhu là lư cuả tính-mệnh, kiêm tam-tài mà nhân đôi, cho nên sáu ngôi cuả Dịch thành chương, chính là cái ta gọi là văn-chương thành vật]. Đạo là sở thành cuả vạn-vật. Vạn-vật khác nhau, mà lư cuả chúng cũng khác nhau. Nhờ đạo mà vạn-vật tận-kê lư. Cho nên không được bất-hoá, không được bất-hoá nên vô-thường-thao, là để sống chết với khí-bẩm. Vạn-trí châm-chước, vạn-sự phế-hưng. Duy bắc-đẩu được nó mà uy-nghi, nhật nguyệt được nó mà có hằng-quang, ngũ-thường được nó mà thường-hằng, liệt-tinh được nó để giữ mối đầu, tứ-thời được nó để ngự-biến, khí hiên-viên được nó để chiếm-cứ bốn phương, xích-tùng được nó để cùng trời đất thống-trị, thánh-nhân được nó để thành văn-chương. Phàm t́nh cuả đạo không tiết-chế th́ không thành h́nh, nhu-nhược tùy-thời, tương-ứng với lư". 

Lại nói: "Lư là để phân-biệt vuông-tṛn, dài-ngắn, thô-tế, cứng-gịn. Cho nên lư định, rồi sau đó vật mới có thể đắc-đạo được". 

Hai chữ đạo, lư đă bàn rồi. Người đời Tống cho rằng hai chữ này nghiă giống nhau, mà bảo đạo là con đường, e rằng phiến-diện.  

Quản-tử Quân-thần nói: "Biệt-giao chính-phân gọi là lư. Thuận-lư mà không thất-nghiă, th́ gọi là đạo. Chú-biệt giao-chính cuả trên dưới, là phân-biệt vua tôi". 

Tâm-thuật nói: "Đức là chỗ ở cuả đạo. Vật được nó để sinh, đức âm từa tựa đắc. Lấy vô-vi th́ gọi là đạo; trú nó th́ gọi là đức. Cho nên đạo với đức không gián-cách. Cho nên không phân-biệt hai tiếng ấy. C̣n về nghiă th́ tùy-nghi. Lễ nhân t́nh người, lư cuả duyên-nghiă mà làm tiết-văn. Cho nên lễ là bảo có lư. Lư phân-minh là có ư dụ-nghiă. Cho nên, lễ xuất-phát từ nghiă, nghiă xuất-phát từ lư, c̣n lư là tùy-nghi.".


Diệu : (279, tr. 577-9)

Vi-lư gọi là diệu. Diệu nghiă giống diểu là tinh-vi. Kể từ khi Quảng-Nhă cuả Trương-Ấp cắt nghiă diệu là tốt nên diệu mới trở nên tối-nghiă. 

Hệ-Hạ V/12 nói: " Tử viết: 'Nhan-thị chi tử, kỳ đăi thứ cơ hồ ?' = Đức Khổng-tử nói  rằng: 'người con họ Nhan, có lẽ gần đạo ư ?' ". Ngu-Phiên chú rằng: "Cơ là thần-diệu. Nhan-tử tri-cơ nên đăi thứ cơ". Án: diệu, cổ-văn là diểu nghiă là nhỏ nhoi, là vi. Tuân-Duyệt Thân-giám nói: "Lư vi gọi là diệu". Trong Hậu-Hán-Thư, Chương-Hoài huấn diệu là mỹ, đó là tục-huấn. 

Thuyết-quái-truyện VI/1 nói: "Thần dă giả, diệu vạn-vật nhi vi ngôn giả dă = Gọi là thần là v́ làm đẹp muôn vật mà nói". Đổng-Ngộ đổi diệu thành diểu, nghiă là nhỏ. 

Hệ-Thượng X/4 nói: "Phi thiên-hạ chi chí thần, kỷ thục năng dự ư thử. = Nếu không phải là cái thần tột bực trong thiên-hạ th́ đâu có dự được vào điều ấy". 

Hệ-Hạ V/11 nói: "Tri cơ kỳ thần hồ = Biết được cái điềm trước là thần ru?". Ngu-Phiên chú rằng: "Chí-thần bảo là Dịch ẩn sơ nhập vi". Lại nói: "Dương tại hào sơ quẻ Phục xưng là cơ. Ẩn sơ nhập vi, âm-dương khôn lường gọi là thần. Cho nên gọi là thần là v́ làm đẹp muôn vật mà nói". Trong Hán-thư Chiêu-đế Kỷ, Sư Cổ chú: "Diểu là vi".  

Trung-Dung, Chương XII, nói: "Cố quân-tử ngữ đại, thiên-hạ mạc năng tải yên; ngữ tiểu, thiên-hạ mạc năng phá yên = Cho nên cái đạo cuả người quân-tử, nếu nói rộng lớn ra, th́ trong thiên-hạ không có cái ǵ chở nổi; nếu nói thu-hẹp lại, th́ trong thiên-hạ không có ai khám-phá nổi". Chu-tử chú rằng: "Thửa rộng lớn không có bề ngoài; thửa thu-hẹp không có bề trong". Án: Hoài-nam Tinh-thần nói: "Vô-ngoại chi ngoại là rất lớn; vô-nội chi nội là rất quư". Cao-Dụ chú rằng: "Nói là trời vô bờ mà c̣n cho là có bề ngoài, tỷ-dụ cực-đại. Vô-nội là bảo rằng nhỏ, nhỏ không có bên trong, mà c̣n cho có bên trong. Đạo c̣n vi-diệu hơn thế nữa. Cho nên nói là rất quư". Lại nói: "Có thể biết đại-quư. Đi đâu cũng toại-nguyện". Cao-Dụ chú rằng: "Đại-quư là vô-nội chi nội: bảo rằng đạo chí-vi, có thể ra vào như vô-gián-cách". 

Lăo-tử Đạo-đức-kinh nói: "Thường vô-dục để xem-xét thửa diệu". Chú rằng: "Diệu là thiết-yếu. Con người vô-dục, ắt có thể quan-sát được thiết-yếu cuả đạo tức là quan-sát được nhất".  

Trang-tử Nam-hoa-kinh, Thiên Canh-tang, nói: "Toàn-h́nh sinh ra cốt để con người tàng-thân. Không nhàm chán sâu sắc mà thôi". 

Hoài-nam-tử Thời-tắc nói: "Tháng trọng-hạ (tháng 5 ta) ngày dài đến lúc dương tranh sống chết". Cao-Dụ nói: "Chí cực. Dương tận giữa ngọ, mà vi-âm diệu, trùng-uyên vậy. Đó là vùng xôi đậu tranh-biện giữa âm-dương". 

Hán-thư, Truyện Trương-Xưởng, Thượng Phong Sự nói: "Ôi! Tinh-vi cuả tâm, miệng không nói ra được. Tinh-vi xa vời cuả lời nói, bút không thể viết ra được".  

Dương-Hùng Giải-nạn nói: "Kháng-từ u-tối, thuyết rộng răi, ư vi-diệu". 

Lại nói: "Thanh-âm cao-xa không thể thuận tai chúng nhân được". 

Hoài-Nam Tề-tục nói: "Nghiệp vỹ-đại ở h́nh-trạng, đạo cao-xa không có độ-lượng". 

Thiên Cẩn-thính trong Lă-thị Xuân-Thu nói: "Đạo cuả hiền-giả to lớn thay. mà không rơ được, vi-diệu mà không thấy được". Cao-Dụ nói: "Đạo cuả hiền-giả lỗi-lạc bất-phàm. Duy nhân-nghiă sở-tại kẻ bất-tiếu làm sao theo kịp được, cho nên rơ được. Thửa nhân-ái sở-tại, kẻ bất-tiếu làm sao theo kịp được, cho nên thấy được". 

Lă-lăm Dụng-binh nói: "Có lớn, có vi-tế". Cao-Dụ nói: "Thô-đại, lược-vi nên diệu-kiến, chưa manh-nha đă ló ṃi rồi". 


 : (279, tr. 517-9)

Ngu-thư Cao-Dao Mô nói: "Đau đáu, nơm nớp. ngày một, ngày hai, vạn-cơ". Chú rằng: "Cơ là vi. Bảo là đang răn đe, e sợ vi-tế cuả muôn sự".  

Lại nói: "Tại sao ngươi lại dừng ở duy-cơ, duy-khang?". Chú rằng: "Niệm lo cơ-vi để duy-tŕ thửa an". 

Lại nói: "Đế Dung làm bài ca rằng: 'Răn bảo mệnh trời, duy thời, duy-cơ' ". Chú rằng: "Phụng-chính mệnh trời để gặp dân, duy tại thuận-thời, duy tại thận-vi".  

Trong Thiên Cố-mệnh trong Ngu-thư Kinh Thư, Vua nói: "Các vua Văn-Vương, Vũ-Vương chồng-chất ánh sáng rực rỡ; định chỗ nương tựa, bầy lời dạy th́ quen tập chẳng sai. Cho nên đạt được dân-chúng, gây được mệnh lớn. Dụ người xa, phục kẻ gần, vỗ về yên-ổn, khuyên dạy các nước lớn, nhỏ. Nghĩ rằng người ta cốt tự-trị, được uy-nghi mà thôi. Chớ cho Thái-tử Chiêu tiến bừa vào cơ trái". Cơ là thấy lành (cát) trước; phi cơ là xấu.  

Hệ-Thượng X/5 nói: "Phù Dịch, thánh-nhân sở dĩ cực thâm nhi nghiên cơ dă. = Ôi đạo Dịch, thánh-nhân nhờ đó mà biết rất sâu xa và xét rất tinh-vi vậy". Trịnh-Huyền chú rằng: "Cơ nên viết là cơ, là cơ vi". Bao-Hàm chú : "Luận-ngữ nói: Cơ là vi". Thuyết-văn cũng cùng một ư. 

Hệ-Hạ V/11 nói: "Tri cơ kỳ thần hồ? Quân-tử thượng giao bất siểm, hạ-giao bất độc, kỳ tri cơ hồ, cơ giả động chi vi, cát chi tiên hiện giả dă, quân-tử kiến cơ nhi tác, bất sĩ chung nhật. = Biết cái điềm trước chẳng cũng thần-t́nh ru? Người quân-tử giao-tiếp với bề trên th́ chẳng nịnh, giao-tiếp với kẻ dưới th́ chẳng khinh-nhờn, là biết cái điềm trước ru? Điềm trước là cái kín-đáo trong sự hoạt-động, là cái tốt đă hiện ra trước vậy; người quận-tử thấy điềm trước là làm, chẳng đợi suốt ngày". Ngu-Phiên chú rằng: "Cơ tức là dương. Dương ở hào sơ quẻ Phục, xưng là cơ".  Vương-Bật nói rằng: "Cơ là khứ vô nhập hữu (dời vô nhập hữu)". Dịch Chính-nghiă nói: "Cơ là khứ vô nhập hữu, là khi có lư mà chưa có h́nh".  

Văn Ngôn quẻ Kiền cửu-tam nói: "Tri chí chí chi, khả dữ cơ dă. = Biết có thể đi tới được th́ đi tới, là có thể cùng tiến".  

Ngu-thư Cao-Dao Mô nói: "Chố dạy, dạy kẻ có nước mà hay buông thà ḷng muốn ! Đau đáu, nơm nớp, ngày một, ngày hai, vạn-cơ ngụy". Khổng Dĩnh-Đạt chú rằng: "Cơ là vi, bảo là đang răn đe, e dè vi-tế cuả muôn sự". Tuân-tử nói rằng: "Thiện-nhật là vua". Lại nói: "Vua là kính-nhật". Vua, nghiă tương-đồng với Kinh Thư.  

Thượng-Thư Đại-truyện nói: "Gọi tuyền-cơ, ngọc-hành (tức sao bắc-đẩu) để tề thất-chính (từc thất-diệu). Vậy th́ tuyền-cơ là ǵ?". Truyện nói: "Tuyền là trở lại, cơ là vi-tế. Biến cuả nó tế-vi, mà động cuả nó to tát, nên  gọi là tuyền-cơ.  Cho nên tuyền-cơ gọi là bắc-cực". 

Thuyết-văn nói: "Cơ là vi, là nguy. Gồm hai chữ yêu. Gồm nhung nghiă là binh-thú. Đă nhỏ nhoỉ lại c̣n binh-thú nữa, ắt nguy". 'Nhân-tâm chi nguy' cuả Tuân-tử đồng-nghiă với cơ. 

Thiệu-tử Kích-nhuỡng-tập có bài thơ rằng:

 

何者謂之機。     Hà giả vị chi ky,                 Cái ǵ gọi là ky?

天根理極微。     Thiên-căn lư cực vi.             Gốc trời lư cực vi.

今年初盡處。     Kim-niên sơ tận xứ,            Năm nay sơ tận xứ,

明日起頭時。     Minh-nhật khởi đầu th́.        Ngày mai khởi đầu th́.

 

Hiếu-kinh Câu-mệnh-quyết nói: "Cái ǵ hợp đạo-cơ th́ xưng là hoàng-đế". 

Tuân-tử Giải-tế Thiên nói: " Đạo-kinh nói: 'Cái nguy cuả ḷng người, cái vi-tế cuả đạo-tâm, chỉ có người quân-tử minh-mẫn, về sau mới biết được.' ". Chú rằng: " là manh-triệu, tức điềm trước vi-tế. Đồng-nghiă với cơ là máy".
 

 

Xem Kỳ 93

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com