www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 90)

 

Dịch Vi-Ngôn Đại-Nghĩa

 
易微言大義

 

 

Thần  : (279, tr. 571-576)

Hệ-Thượng IV/4 : "Thần vô-phương nhi Dịch vô-thể = Thần không có phương-sở mà đạo Dịch không có h́nh-thể" (Biến-hoá nên  vô-phương, từ vi đến hiển-trứ nên vô-thể). Hệ-Thượng V/9  nói: "Âm-dương bất-trắc chi vị thần = Âm dương chẳng lường được th́ gọi là thần" (Thần không có phương-sở nên chẳng lường trước được). Hệ-Thượng IX/9 nói: "Tri biến-hoá chi đạo giả, kỳ tri thần chi sở vi hồ = Ai biết đạo biến-hoá th́ biết việc làm cuả thần chăng ?". Ngu-Phiên chú rằng: "Tại dương xưng Khôn biến Kiền ngũ, tại âm xưng Kiền hoá Khôn nhị. Âm dương chẳng lường được th́ gọi là thần. Biết đạo biến-hoá nên biết việc làm cuả thần". Hệ-Thượng X/4 nói: "Dịch vô-tư dă, vô-vi dă = Đạo Dịch không nghĩ-ngợi ǵ cả, không làm ǵ cả". [Ngu-Phiên chú rằng:  "Thiên-hạ nghĩ ǵ, lo ǵ, thiên-hạ cùng về mà khác đường, một sự xẩy đến mà trăm điều nghĩ, nên không làm ǵ cả, bảo là đạo Kiền  lúc tĩnh th́ chuyên" (Hệ-Hạ III/1, Hệ-Thượng VI/2)]. Tịch nhiên bất-động = yên lặng chẳng động. [Ngu-Phiên chú rằng: Bảo là Khôn sơ ẩn-tàng, máy mới mấp máy nên chưa dám động]. Cảm nhi toại thông thiên-hạ chi cố = Cảm mà biết ngay nguyên-cớ cuả thiên-hạ. [Ngu-Phiên chú rằng: Cảm là động. Lấy dương biến âm thông nguyên-cớ cuả thiên-hạ. Bảo là phát-huy cương-nhu mà sinh hào]. Phi thiên-hạ chi chí-thần, kỳ thục năng dữ ư thử? = Nếu chẳng phải là cái thần tột bc trong thiên-hạ th́ đâu có làm được như vậy. [Ngu-Phiên chú rằng: Chí-thần là v́ Dịch ẩn sơ nhập vi tri-cơ mới thần-t́nh như vậy].  

Hệ-Thượng IX/6 nói: "Duy thần dă, cố bất tật nhi tốc, bất hành nhi chí = Chỉ có thần-diệu cho nên chẳng vội-vàng mà lại hoá ra nhanh chóng, chẳng cần đi mà lại tới đích. [Ngu-Phiên chú rằng: Thần ở đây là Dịch. Bảo là nhật-nguyệt-đẩu (tam-minh) ở trên trời, mặt trời chỉ đi có 10, mặt trăng đă đi được 130 , di-chuyển về hướng tây ở trên tri, cho nên chẳng vội-vàng mà lại hoá thành nhanh chóng, là yên-lặng chẳng động, men  theo trời, đi giáp vỏng về phiá phải, cảm mà biết ngay, cho nên chẳng cần đi mà lại tới đích]". 

Hệ-Thượng IX/6 nói: "Lợi-dụng xuất-nhập. Dân hoặc dụng chi vị chi thần = Lợi-dụng ra vào, muôn dân đều dùng được th́ gọi là thần]".  

Hệ-Thượng XII/2 nói: "Cổ chi, vơ chi dĩ tận thần = Cổ vơ điều ấy để khai thác triệt-để cái thần diệu". [Ngu-Phiên chú rằng: Thần ở đây là Dịch. Dương tức chấn là cổ (cái trống), âm tiêu tốn là vơ (cổ vơ), cho nên cổ-vơ điều ấy để tận dụng cái thần-diệu]. 

Hệ-Hạ II/1 nói: "Ư thị thủy tác bát-quái dĩ thông thần-minh chi đức, dĩ loại vạn-vật chi t́nh. = Thế rồi mới làm ra tám quẻ để thông suốt cái đức cuả thần minh, để phân-loại các t́nh cuả muôn vật". Hán-thư tán rằng: "Dịch vốn ẩn để mà hiển". Trương-Tập nói rằng: "Làm ra tám quẻ để thông suốt cái đức cuả thần minh, là v́ vốn dĩ ẩn. Vừa có thiên-đạo, lại vừa có nhân-đạo, để phân-loại các t́nh cuả muôn vật, đó chính là hiển vậY". 

Hệ-Hạ V/3 nói: "Tinh-nghiă nhập thần, dĩ trí-dụng dă. = Tinh-anh nghiă-lư đi vào chỗ thần-diệu là để tận-dụng vậy".  [Diêu-Tín nói: "Dương xưng tinh, âm là nghiă. Nhập tại sơ, Âm dương tại sơ sâu xa khôn lường, nên gọi là thần. Biến thành Cấu-Phục nên bào là trí-dụng".]  

Thuyết-quái VI/1 nói: "Thần dă giả, diệu vạn-vật nhi vi ngôn giả dă = Gọi là thần v́ làm linh-diệu muôn vật mà nói". Thuyết-văn Giải-tự dưới chữ thần có chua: Thiên-thần dẫn-xuất vạn-vật. Diệu vạn-vật tức thị dẫn-xuất vạn-vật. 

Mạnh-tử nói: "Lớn mà hoá-dục muôn vật th́ gọi là thánh. Thánh mà không biết rơ được th́ gọi là thần". Trang-tử Ngoại-vật nói: "Điều mà thánh-nhân giới-hạn, thần-nhân cũng không làm hơn được, ngơ hầu chất-vấn". Họ Quách chú rằng: "Thần-nhân tức thánh-nhân. Thánh-nhân nói về bề ngoài, c̣n thần-nhân nói về bề trong". 

Lại nói: "Sở tồn giả thần = Cái tồn-trữ lại được là thần". 

Trong Đại-Đới Lễ, Ai-công hỏi Khổng-tử rằng: "Thánh-nhân là người thông suốt Đại-Đạo, ứng-biến mà năng trắc-lượng bất cùng tính-t́nh cuả muôn vật. Đại-đạo sở dĩ biến-hoá được mà ngưng thành muôn vật. Tính-t́nh sở dĩ lư-nhiên không thủ-xả (lấy, bỏ)". 

Lă-Lăm Quân-thủ nói: "Chí-thần tiêu-dao chốc lát mà chẳng thấy dung-mạo, chí-thánh biến-tập di-tục mà chẳng biết dựa theo ǵ". 

Tuân-tử Nho-hiệu nói: "Đạo xuất từ tại sao một là một. Đáp rằng: Chấp-thần củng-cố tại sao, gọi là thần. Đáp rằng: Tận thiện thấm khắp gọi là thần. Vạn vật không đủ sức để khuynh-đảo nó, gọi là cố, thần cố gọi là thánh-nhân". Lại Thiên-luân nói : "Mỗi vật trong muôn vật đều được cái hoà cuả nó để sinh ra., cái dưỡng cuả nó để thành, không thấy công việc cuả nó nhưng thấy công-tích cuả nó, cho nên gọi nó là thần ". 

Đại-Đới-Lễ Khuyến-học nói: "Thần không ǵ lớn bằng hoá-đạo". 

Sử-Kư Luật-thư nói: "Khí bắt đầu nơi đông-chí, đi ṿng quanh mà phục-sinh ; thần sinh từ vô-h́nh (v́ tinh-vi nên vô-h́nh). thành nơi hữu-h́nh (Chính-nghiă nói : Trời đất đă phân, nhị nghi đă thành vật-chất, vạn-vật đă thành h́nh khoảng giữa trời đất, thần ở bên trong). Rồi sau đó một số h́nh họp lại thành thinh (Chính-nghiă nói : Số là thiên-số, thinh là ngũ-thinh. Bảo là thiên-số thành h́nh ắt năng thành ngũ-thinh. Cho nên nói : thần điều-khiển khí, khí tụ thành h́nh, h́nh-lư chia loại, có cái là loại, có cái chẳng là loại mà cũng chẳng là h́nh, hoặc đồng-h́nh mà khác loại nhưng có thể phân-biệt được). Phân-loại mà hay được thánh-nhân biết trời đất, biết phân-biệt  từ hữu đến vị-hữu (Chính-nghiă nói : hữu là h́nh-chất cuả vạn-vật, vị-hữu là những cái vô-h́nh trong trời đất). Biết được cái nhỏ  li-ti như khí, cái tế-nhị như thinh (khí là khí cuả Đại-Dịch, thinh là ngũ-thinh). Như vậy thánh-nhân nhân thần mà tồn-trữ được (nhân thần mà tồn-trữ được mới là thần-t́nh chứ). Tuy vi-diệu, tất hữu-hiệu. Hoa-đạo cuả lơi t́nh sáng suả thay. Không phải là thánh-tâm lần theo thông-minh, ai mà có thể tồn-thần cuả trời đất để t́nh-cảm  thành h́nh được. Vật năng nhận được thần mà không biết, cùng là thần qua lại, nên thánh-nhân e sợ mà tồn-trữ thần. Duy muốn tồn-thần, thần cũng tự-tồn. Chẳng cũng quư vậy sao. 

Kinh Thi Phiếm-Lịch-Khu nói: "Măo-dậu là cách-chính, ngọ-hợi là cách-mệnh, thần ở thiên-môn, xuất-nhập hậu-đức". Tống-Quân  chú rằng: "Thần là dương-khí, là tượng Vua. Thiên-môn, khoảng tuất-hợi, là căn-cứ cuả Kiền". 

Mặc-tử Công-thâu nói: "Trị-thần chúng-nhân chẳng hay biết ǵ cả ; nhưng khi tranh công với sáng th́ chúng-nhân ai cũng hay". 

Pháp-ngôn Vấn-thần nói: "Hoặc có người hỏi thần là ǵ ?. Đáp : tâm thỉnh vấn thần. Không biết là thần ở tâm nên lại hỏi : Tiềm thiên mà thiên tiềm điạ, thiên-điạ thần minh mà tâm bất-trắc, là tâm tiềm vậy. Bởi chưng sẽ trắc tâm, huống nơi người sao ? Huống  nơi sự-luân sao ? Dám hỏi về tiềm-tâm cuả thánh-nhân. Đáp : Thuở xưa Đức Trọng-ni tiềm-tâm nơi Văn-Vương. Đạt-nhân Nhan-Uyên cũng tiềm-tâm nơi Trọng-ni. Đạt hay không tùy-thuộc vào mức-độ tiềm-tâm mà thôi. Thiên-thần, thiên-minh gieo tri-thức khắp bốn phương ; thiên-tinh, thiên-tuư, vạn-vật tác loại (nên nhớ : Kiền-nguyên  dụng cửu mà thiên-hạ trị). Nhân-tâm là thần. Thao luyện ắt c̣n, bỏ rơi ắt mất (Đạo Trung-Dung rất 'tới'. Người giữ được đạo lâu bền rất hiếm. Năng thao-luyện mà giữ được Đạo Trung-Dung dài lâu, chỉ có thánh-nhân mà thôi (Chí-thành vô-tức). Thánh-nhân tồn-thần sách-chí (bảo-tồn tinh-thần đến nơi đến chốn, thám-u, sách-vi triệt-để). Hoàn thành cái đại-thuận cuả thiên-hạ, trí-cực cái đại-lợi cuả thiên-hạ, hoà-đồng ranh giới giữa  trời và người, làm cho trời và người không gián-cách, thực-hiện triết-thuyết 'THIÊN-ĐIẠ NHÂN-VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ 天地人物同'".

Tiên-tri nói: "Nguyên-động-cơ tiên-tri nằm trong thần". Chú rằng: "Thần để điều-hoà những ǵ đến với ta; tiên-tri tiếp-cận với thần".  

Dương-Hùng Giải-trào nói: "Vin vào thanh, vin vào tĩnh, lần ṃ vào cung-đ́nh cuả thần-trí". 

Ban-Cố Tân-hí nói: "Nhuệ-tư trong mũi nhọn, tiềm-thần mặc-kư, kiên-tŕ tháng năm". 

Quản-tử Tâm-thuật nói: "Trừ bỏ dục-vọng ắt thông, thông ắt tĩnh, tĩnh ắt tinh, tinh ắt độc-lập vậy. Độc ắt minh, minh ắt thần vậy. Thần là chí quư. Cho nên quán không trừ-tịch quư-nhân không đến ở. Cho nên phàm không tinh-khiết, thần không cư-trú ". 

Nội-nghiệp nói: "Một vật mà có thể hoá, được gọi là thần; một sự có thể biến, được gọi là trí. Hoá không đổi khí, biến không đổi trí". 

Tuân-tử Bất-cẩu nói: "Thành-tín sinh thần". Chú rằng: "Trung-Dung nói: Chí-thành như thần". 

Hoài-nam Thái-tộc nói: "Cho nên đại-nhân hợp-đức với trời đất, hợp-minh với nhật-nguyệt, hợp-linh với quỷ-thần, hợp-tín với bốn muà. Nên  chi thánh-nhân mang trong ḷng thiên-khí, ôm ấp thiên-tâm, chấp trung, hàm hoà bất hạ miếu-đường, mà mở rộng bốn biển, biến-tập, dịch-tục, dân-hoá, mà thiên-thiện như tính nơi ḿnh ngơ hầu thần-hoá". Trong Hậu-Hán-Thư, Lư-Cố thượng sớ rằng: "Thần nghe nói: Cái thanh cuả khí là thần, cái thanh cuả người là hiền".
 

Thành : (279, tr. 579-585)

Văn-ngôn Quẻ Kiền 5 nói: "Nhàn tà, tồn kỳ thành = Ngăn cấm tà bậy để giữ ḷng thành". Văn-ngôn Quẻ Kiền 6 nói: "Tu từ lập kỳ thành = Sửa lời nói, dựng ḷng thành". Ngu-Phiên chú rằng: "Kiền là thành".  

Đại-Học nói: "Muốn chính-tâm trước phải thành-ư". Lại  nói: "Cái gọi là thành-ư chính là cái không tự-khi. Như rất ghét điều xấu xa bằng sức với khi rất hiếu-sắc, th́ gọi là tự-khiêm. Cho nên người quân-tử cẩn-thận khi ở một ḿnh. Kẻ tiểu-nhân, khi ăn không, ngồi rồi, không chuyện bất-lương nào mà không làm, thấy người quân-tử th́ che dấu chuyện bất-thiện mà phô-trương chuyện thiện-lương ra. Người ngoài nh́n vào thấy rơ sự thật, che dấu phỏng có ích ǵ ? Đó chính là cái ta gọi là thành ở bên trong, h́nh hiện ra bên ngoài vậy. Cho nên người quân-tử thận-trọng khi ở một ḿnh". 

Trung-Dung, Chương thứ XVI, nói: "Tử viết: 'Quỷ-thần chi vi đức, kỳ thịnh hỹ hồ! Thị chi nhi phất kiến, thính chi nhi phất văn, thể vật nhi bất khả di. Sử thiên-hạ chi nhân, trai minh thịnh phục, dĩ thừa tế-tự, dương-dương hồ như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả-hữu!' = Đức Khổng-tử nói: 'Đức cuả quỷ-thần thiêng-liêng to lớn lắm thay! Người ta trông mà không thấy, nghe mà không được. Nhưng ở đâu cũng có, quỷ-thần thể-sát hết mọi vật mà không bỏ sót vật nào. Nếu mọi người trong thiên-hạ đều chay kính, ăn mặc trang-nghiêm, chỉnh-tề, để tế-tự quỷ-thần, th́ lồng-lộng thay như quỷ-thần đang ở bên trên, như đang ở bên tà và như bên hữu chúng ta'  ".

" 'Thi viết: Thần chi cách ti, bất khả đạc ti; thẩn khả dịch ti = Kinh Thi nói: Quỷ-thần soi-xét, người ta biết đâu mà lường. Chớ nên thờ-ơ xem thường' . " 'Phù vi chi hiển, thành chi bất khả yểm như thử phù! = 'Ôi! Quỷ-thần mà hiểu rơ, thử hỏi cái thành-thật ở trong con người ta làm sao mà che-giấu được!' " 

Lại  nói: "Thành giả thiên chi đạo dă, thành chi giả nhân chi đạo dă. Thành giả bất miễn nhi trúng, bất tư nhi đắc, thung-dung trung-đạo: Thánh-nhân dă. Thành chi giả, trạch thiện nhi cố-chấp chi giả dă = Thành-thực là đạo cuả trời (tức là đạo cuả tự-nhỉên), mà làm cho thành-thực là đạo cuả người (tức là đạo cuả xă-hội loài người). Đối với đạo thành-thực tức thiên-đạo, người ta không phải khó-nhọc mà làm trúng, không phải nghĩ-ngợi mà làm được. C̣n như cứ thung-dung, tự-nhiên mà làm trúng đạo, th́ đó là thánh-nhân vậy. Làm cho thành-thực được tức là chọn được điều thiện, cần phải giữ-ǵn măi măi." (Trung-Dung, Chương XX). 

Lại  nói: "Tự thành-minh vị chi tính; tự minh-thành vị chi giáo. Thành tắc minh hỹ. Minh tắc thành hỹ. = Bởi ḷng thành-thực mà sáng-tỏ được, gọi là tính. Bởi sáng-tỏ mà trở nên thành-thực, gọi là giáo. Có ḷng thành-thực mới sáng-tỏ. Có sáng-tỏ mới thành-thực." (Trung-Dung, Chương XXI). 

Lại  nói: "Duy thiên-hạ chí-thành vi năng tận kỳ tính. Năng tận kỳ tính, tắc năng tận nhân chi tính. Năng tận nhân chi tính, tắc năng tận vật chi tính. Năng tận vật chi tính, tắc khả dĩ tán thiên-điạ chi hoá-dục. Khả dĩ tán thiên-điạ chi hoá-dục, tắc khả dĩ dữ thiên-điạ tham hỹ. = Trong thiên-hạ, chỉ có bậc chí-thành mới hiểu biết tường-tận thiên-tính. Có hiểu biết tường-tận thiên-tính mới hiểu biết hết nhân-tính. Đă hiểu biết thấu đáo nhân-tính th́ mới hiểu biết thấu-đáo vật-tính. Đă hiểu biết kỹ-lưỡng vật-tính th́ có thể giúp trời đất trong việc biến-hoá sinh-dục. Đă thể giúp trời đất trong việc biến-hoá sinh-dục th́ có thể sánh cùng trời đất." (Trung-Dung, Chương XXII). 

Lại  nói: "Cố chí thành vô-tức. Bất tức tắc cửu, cửu tắc trưng, trưng tắc du viễn, du viễn tắc bác hậu, bác hậu tắc cao-minh. = Cho nên người chí-thành không  bao giờ gián-đoạn. Đă không gián-đoạn th́ thêm vững bền măi, càng vững bền măi th́ càng có nhiều hiệu-nghiệm, nhiều hiệu-nghiệm th́ phát-triển càng xa, đă phát-triển càng xa, th́ lại càng rộng, càng dầy, càng rộng, càng dầy, th́ lại càng cao, càng sáng." (Trung-Dung, Chương XXVI).   

Lại  nói: "Duy thiên-hạ chí-thành, vi năng kinh-luân thiên-hạ chi đại-kinh, lập thiên-hạ chi đại-bản, tri thiên-hạ chi hoá-dục. Phù yên hữu sở ỷ? Truân-truân kỳ nhân, uyên-uyên kỳ uyên, hạo-hạo kỳ thiên = Trong thiên-hạ, chỉ có bậc chí-thành mới có thể sửa-sang được đại-kinh (tức ngũ-luân) cho thiên-hạ, mới xây-dựng được đại-bản (tức ngũ-thường) cho thiên-hạ, mới biết rơ được những luật sinh-hoá tự-nhiên cuả trời đất. Bậc chí-thành chỉ cậy vào sức ḿnh, nào có dựa vào ai đâu? Ḷng nhân cuả bậc chí-thành thật là khẩn-thiết và bao la thay! Sâu thăm-thẳm như vực, cao lồng-lộng như trời." (Trung-Dung, Chương XXXII). 

Tuân-tử nói: "Dưỡng-tâm không ǵ tốt đẹp bằng thành". Lại  nói: "Bất thành, ắt bất-độc". Đại-Học bảo thành tức là độc. Dịch Kiền-tạc-độ luận nghiă cuả Dịch nói rằng: "Di vật trí-diệu, chí-thành, chuyên-mật". Trịnh Khang-thành chú rằng: "Di là động. Thiên xác chí-thành. Nên vật được để tự-động tịch-nhiên chuyên-mật. Nên vật được tự-diệu. Như vậy, ắt tồn-thành như thận-độc. Độc tức chí-thành vậy" . 

Kiền-tạc-độ nói: "Khổng-tử nói: Dịch là biến đổi, là biến-dịch, là bất-dịch. Dịch là để nói về đức cuả nó: hư-vô, cảm-động, thanh-tịnh, di vật trí-diệu, chí-thành chuyên-mật". 

Hán-thư, Khổng-Quang Truyện, Quang đối sách rằng: "Trời đă phó-mệnh chính-đức. Bảo là nói chính-đức để thuận trời". Lại  nói: "Trời giúp lời chí-thành. Bảo là có đạo thành ắt trời giúp cho. Hiểu rơ thừa thuận đạo trời ở tại chỗ sùng-đức, bác-thí, thêm tinh, trí-thành măi măi mà thôi". 

Mạnh-tử (Ly Lâu Chương Cú Thượng, Chương XII) nói: "Người ở cấp dưới, nếu không được tín-nhiệm cuả trưởng-quan th́ làm sao cai-trị dân được. Cần được tín-nhiệm cuả trưởng-quan mới có biện-pháp cai-trị; không được bạn-bè tín-nhiệm, th́ không làm sao được tín-nhiệm cuả trưởng-quan. Phải được bạn-bè tín-nhiệm, mới có biện-pháp cai-trị: như phụng-dưỡng cha mẹ, mà không làm vui ḷng cha mẹ, th́ không làm sao được tín-nhiệm cuả bạn-bè. Cần phải làm vui ḷng cha mẹ, th́ mới có phương-cách: như phản-thân tu-tỉnh làm điều thiện mà không thành-thực, th́ không thể nào vui ḷng cha mẹ được. Như khiến cho bản-thân làm điều thiện với tấm ḷng thành th́ mới mong có biện-pháp: như mỹ-thiện cuả thiên-lư mà chưa hiểu rơ, th́ không làm sao bản-thân làm điều thiện với tấm ḷng thành được. Sở dĩ thành-thực vô-ngụy, nguyên là do đạo-lư bản-nhiên cuả thượng-thiên; muốn  làm cho ḿnh trở nên thành-thực vô-ngụy, cần phải có một đạo-lư thực-tiễn. Thảng hoặc một cá-nhân thành-thực vô-ngụy đến cùng tột mà không cảm-hoá được người khác, là một chuyện xưa nay chưa từng xẩy ra; quả không năng đối-đăi thành-thực được với người khác, tuyệt nhiên không thể cảm-hoá được người khác".  

Hàn-thi Ngoại-truyện nói: "Phép cuả Đường-Nghiêu, Ngu-Thuấn có thể học được ngơ hầu khảo-sát. Chiêu-dụ nhân-tâm cuả hai Ngài, th́ khó ḷng bằt kịp". Kinh Thi nói: "Trời cao chở không tiếng, không mùi. Chẳng ai theo kịp nổi".  

Lại  nói: "Dũng-sĩ hô một tiếng, ba quân đều né tránh. Đó là nhờ tâm thành. Năm xưa, ngươi Hùng-Cừ nước Sở, giữa đêm d-hành, ngồi nghỉ trên phiến đá, tưởng bị cọp vồ, nên giương cung bắn, mất tên, nh́n kỹ hoá ra là tảng đá, nứt đôi. Khổng-tử nói: Thửa thân chính, chẳng cần ra lệnh mà cũng được thi-hành. Thửa thân bất-chính, tuy có ra lệnh, không ai nghe theo. Tiên-vương chắp tay vái chào mà  chỉ-huy, bốn biển theo về, nhờ thành-đức chí-cực. Sắc lấy h́nh từ nơi ngoài". 

Lă-Lăm Tinh-thông nói: "Người ta bảo tơ oan vô-căn, mà tơ oan lại có căn-cứ, mới chết chứ. Căn-cứ cuả nó không liền. Phục-linh là đá nam-châm hút sắt. Đá nam-châm là mẹ cuả sắt. Đă có đá nam-châm rồi, ắt năng hút sắt. Đá mà không có từ-tính, th́ không thể hút sắt được". 

Trang-tử Ngư-phụ nói: "Khổng-tử siù mặt mà hỏi Ông câu rằng: 'Xin hỏi thế nào là chân-khách?' Đáp: 'Chân-khách là người tinh-thành rất mực. Bất-chân, bất-thành, làm sao cảm-động được người khác. Khóc rống tuy buồn đấy nhưng không bi-ai. Cáu giận tuy nghiêm, nhưng không oai. Giả vở thân-thiện tuy có cười đấy nhưng không hoà vui. Chân-bi không phát ra tiếng mà buồn rười rượi. Chân-nộ chưa phát ra, mả đă oai rồi. Thân-thiện chân-thành, chưa cười đă hoà-giai rồi. Chân ở bên trong, thần động bên ngoài. Sở dĩ quư chân vậy. Chân sở dĩ do trời phú-bẩm [Chân tức thành là đạo trời. Chân do trời ban cho]. Tự nhiên như thế, không thể thay đổi được ' ". 

Hoài-nam Thái-tộc nói: "Ôi! Giao-long nằm nghỉ nơi vực mà trứng vọt lên g̣, đằng-xà, con đực rít nơi đầu gió, con cái rít nơi cuối gió, mà hoá thành h́nh-tinh rất mực. Cho nên thánh-nhân dưỡng-tâm không ǵ tốt đẹp bằng thành chí-thành mà năng động-hoá". Lại  nói: "Thánh-chủ nơi thượng-vị, vô-h́nh một cách trống không, vô-thanh một cách lặng thinh, quan-phủ dường như vô-sự, triều-đ́nh dường như không người, không người ẩn, không dân thất-lạc, không lao-dịch, không oan-h́nh, dân trong bốn biển không một ai là chẳng ngưỡng-mộ đức cuả bề trên, biểu-tượng cho chỉ-đạo cuả nước di-địch. Suy-vi thửa thành-tâm thi-hành cho thiên-hạ mà thôi. Đó là ơn-huệ Trung-quốc vỗ-về bốn phương, bên trong thuận-thảo, bên ngoài an-ninh".

Ban-Cố U-thông Phú nói: "Tinh thông linh mà cảm vật chừ, thần động-khí mà nhập-vi". Tào đại-gia chú rằng: "Bảo là người có tham-bác với trời đất, được tối-thần-linh cuả đời sống. Thành năng trí-cực tinh-thành, ắt thông thần-linh, cảm vật, động-khí mà nhập-vi". "Dưỡng-Lưu ghé mắt nh́n, vượn kêu chừ, Lư-Hổ (Dưỡng Do Cơ Lư-Quảng) phát mũi tên mà tảng đá vỡ. Không phải tinh-thành th́ làm sao mà thông được. Nếu không thành-thực th́ ai mà thèm tin, thao-luyện mạt-kỹ là chuyện tất nhiên, huống hồ ham mê nơi đạo chân". Sư Cổ nói  rằng: "Bắn cung là vi-kỹ mà c̣n  năng tinh-thành, cảm-động được viên-thạch, huống hồ là lập thân, chứng đức, ham mê đại-đạo mà không biết mệt".

 

  

 

 

Xem Kỳ 92

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com