www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 89)

 

Dịch Vi-Ngôn Đại-Nghĩa

 
易微言大義

 

Trung : (279, tr. 585-587)

Giáp-tư quái-khí khởi Trung-phu, ở Thái-huyền chuẩn Dịch, khởi thủ Trung.

Đại Thuấn cầm giữ hai đầu, dùng chính giữa cho dân, Chu-Công thiết-quan, phân-chức lấy dân làm cực, cực là trung vậy. Ngu-Thuấn, Chu-Công đều ở thời Kư-tế, công tán hoá-dục giống nhau.

Thoán quẻ Phục nói: "Xem quẻ Phục th́ thấy ḷng cuả trời đất vậy". Án: Đông-chí Phục gia khảm, khảm là cức-tâm (ḷng nóng nẩy), cức cổ-văn là cực, là trung vậy.

Nhưng tâm cuả trời đất chính là trung cuả trời đất. Xuân Thu Phiền-lộ cuả Đổng-tử nói: "Dương khởi-sự đi từ chính giữa phương bắc. Đạo âm, đạo dương khác nhau, nhưng khi thịnh đều ngừng ở trung. Lúc bắt đầu cũng ở trung. Trung cuả trời đất là thái-cực. Nhị-chí cuả nhật-nguyệt đều lui về cả. Dài ngắn cuả thịnh không đươc quá giữa. Đó là thể-chế cuả trời đất. Theo Đổng-tử, Tâm cuả trời đất kiêm nhị-chí Đại-tượng quẻ Phục bảo: Cứ đến nhị-chí th́ đóng cửa quan, không ai đi buôn bán, vua chẳng đi xem xét các điạ-phương".

Hệ-Thượng I/8 nói: "Dị-giản nên biết được cái lẽ cuả thiên-hạ, biết được cái lẽ cuả thiên-hạ, mà lập thành điạ-vị trong trời đất". 

Tả-Truyện, Thành-Công năm thứ 13, Lưu-tử nói: "Thần nghe nói dân nhận được trung cuả trời đất để sinh ra mênh. Ấy là lấy quy-tắc có động-tác lễ-nghiă uy-nghi để định mệnh vậy"

Tŕnh-tử tức Tŕnh Minh-đạo nói: "Dân nhận được trung cuả trời đất để sinh thiên-mênh, gọi là tính". Tuân-Sảng Đối-sách nói: "Đời xưa, thánh-nhân dựng trung cuả trời đất mà chế lễ"

Trung-Dung nói: "Mệnh trời gọi là tính". Lại nói: "Mừng, giận, buồn, vui khi chưa phát, gọi là trung". Lại nói: "Trung là đại-bản cuả trời đất". Lại nói: "Dựng đại-bản cuả thiên-hạ"

Chu-Ngữ nói: "Nhà vua sắp đúc luật vô-dịch, bèn hỏi luật nơi Linh Châu-Cưu". Đáp rằng: "Sở dĩ luật lập quân-bằng xuất-độ vậy. Thời cổ, thần-nhạc-quan hợp thanh trung-hoà mà lượng-độ, ngơ hầu chế nhạc, độ luật, quân chung, bách-quan tuân theo phép-tắc mà nghi-kỷ bằng tam-tài thiên-điạ-nhân, b́nh-quân bằng sáu luật, lập thành bằng mười hai luật-lă (xin ôn lại Luật-lă nơi bài 59) là thiên-đạo vậy. Phàm sắc lục-trung nên mới có danh-xưng hoàng-chung. Tháng Môt là hoàng-chung ứng với Kiền sơ-cửu. Sở dĩ có 6, là v́ trong trời đất, trời có sáu khí giáng-sinh ngũ-vị, trời có 6 giáp (chi amod 6), đất có ngũ-tư (can amod 5), cộng chung là 11, cho nên có 6 luật, 6 lă, mà thành thiên-đạo. Hoàng-chung đứng đầu lục-luật, nên lấy 6 luật chính-sắc, nên đặt tên cho là hoàng-chung, là nghiă cuả trọng-nguyên chính-thủy vậy. Sở dĩ tuyên-dưỡng lục-khí, cửu-đức. Xin nhắc lại lục-khí là: âm, dương, phong, vũ, hối, minh. C̣n cửu-đức là: thủy, hoả, mộc, kim, thổ, cốc, chính-đức, lợi-dụng, hậu-sinh. Tháng Một dương phục bên dưới, vật nẩy mầm nơi ngũ-thinh, là thinh Cung (xin duyệt lại Bảng 5.23 nơi bài 59), hàm chứa trong nguyên-xứ, sở dĩ biến-dưỡng gốc cuả lục-khí. 

Nguyệt-pháp tứ-phân trong Tam-thống-lịch nói: "Lấy một chương-nguyệt làm trung-pháp, nếu sóc không được ở chính giữa lấy làm tháng nhuận, và bảo là âm-dương tuy giao, nhưng không được ở chính giữa, nên không sinh (cô dương bất sinh, độc-âm bất thành. Trời không sinh, trời là trung vậy. Tam-hợp rồi sau mới sinh. Nên mới nói: nhưng không được ở chính giữa, nên không sinh)". Luân-ngữ XX/1 nói: "Khi nhường ngôi cho Đế Thuấn, Đế Nghiêu nói: 'Hỡi ngươi Thuấn! Lịch-số cuả trời ở tại ḿnh ngươi! Hăy tin theo đạo Trung-Dung, nếu để nhân-dân trong bốn biển  khốn cùng, th́ lộc trời sẽ dứt hẳn.' Khi Đế Thuấn nhường ngôi cho Vua Vũ Nhà Hạ cũng dùng lời ấy để truyền-mênh"

Mạnh-tử nói: "Thang chấp-trung (Cầm đúng đạo Trung-Dung)". 

Độc và  Thục: (279, tr. 521-527)

Nhĩ-Nhă thích nghiă chữ sơn bảo rằng thục là cô-độc. Phương-ngôn nói:  nhất-thục, người Nam-Sở gọi là độc-quản. Đức Khổng-tử nói: "Chỉ ôm độc-quản không cần nói, miếu đường cũng được tu-bổ". Bán-nông-nhân nói: "Ôm thục tức là ôm nhất cuả Lăo-tử"

Dịch, hào  sơ-cửu quẻ Lư nói: "Tố Lư, văng, vô cữu = Trong trắng như bản-chất, mà đi th́ không lỗi". Lời Tiểu-tượng  rằng: "Tố lư chi văng, độc hành nguyện dă = Cái đi trong trắng như bản-chất, là chỉ một ḿnh ḿnh đi làm nguyện-vọng cuả ḿnh vậy".

Án: sơ vi-tế nên gọi là độc. Chấn là đi, khiến tứ biến để ứng sơ, nên 'độc hành nguyện'. Sớ nói: "Sơ là ẩn, là tế-vi, ẩn-vi nơi con người là độc".

Quan sơ-lục : "Đồng quan = Đứa trẻ con xem xét". Mă-Dung chú rằng: "Đồng là độc".

Phục lục-tứ nói: "Trung hành, độc phục = Cùng đi ở trong với chúng, mà một ḿnh biết trở lại". Ngu-Phiên chú rằng: "Trung là sơ, chấn là đi. Sơ là hào dương nên xưng là độc".

Đại-tượng quẻ Đại-quá nói: "Quân-tử dĩ độc-lập bất cụ = Người quân-tử đứng một ḿnh, không sợ-hăi". Ngu-Phiên chú rằng: "Quần-tử tứ là Kiền sơ dương phục tốn, trung-thể quẻ Phục, một hào dương mang đức 'rồng ẩn' nên nói là 'độc-lập bất cụ'  ".  

Sớ nói: "Sơ là độc".

Tấn sơ-lục nói: "Tấn như, tồi như, trinh cát = Tiến lên, bẻ gẫy, chính thời tốt". Tiểu-tượng nói: "Tấn như, tồi như, độc hành chính dă = Tiến lên, bẻ gẫy, chỉ một ḿnh ḿnh làm điều chính".  Ngu-Phiên chú rằng: "Thất-vị nên 'tồi như', 'độc đắc-vị' nên 'trinh cát', sơ động thành chấn là đi. Sơ nhất xưng độc". Phương-ngôn nói: "Nhất là độc (tiếng Nam-sở)". Quách chú rằng: "Thục nghiă là độc. Độc tức nhất. Nên nói: 'Sơ nhất xưng độc' ".  

Thiên Tư-tề trong Kinh Thi nói: "Không hiển cũng đến, không nhàm chán cũng bảo". Chu-tử nói: "Tuy ờ chỗ u-ẩn cũng thường như có quang-lâm, không chán, cũng thường thủ, thuần nhất không ngừng". 

Thiên Chưng Dân trong Kinh Thi nói: "Đức nhẹ như lông, dân ít khắc cử, ta nên mưu đồ đức, duy có Sơn Trọng-Phủ năng cử được đức ấy, mà thi-hành, nên đức thâm-viễn mà kín đáo, không ai giúp được ǵ, nên Sơn Trọng-Phủ chỉ thi đức một ḿnh". Án : Nói đức nhẹ tựa lông có nghiă là đức tế-vi ; 'dân ít khắc cử' có nghiă là ít người biết thận-độc. Chỉ có Sơn Trọng-Phủ là biết thận-độc. Cho nên khắc-cử nơi ẩn-vi, thần-minh độc-vận, c̣n con người không giúp được ǵ cả.

Tuân-tử nói: "Người năng tích-vi hẳn tốc thành, dẫn-chứng câu Kinh Thi nói trên". Lại nói: "Thao dượt ắt được, bỏ lủng ắt mất. Thao dượt mà được, ắt nhẹ nhàng độc-hành mà không bỏ, ắt cứu giúp". Án : Đức nhẹ như lông, thao dượt mà được, người khinh-ẩn không giúp đỡ được, nên mới nhẹ nhàng độc-hành mà không bỏ, ắt chí-thành. Nên mới nói : ắt cứu giúp.  

Lễ-khí nói: "Lễ lấy ít làm quư nơi nội-tâm (dụng tâm bên trong v́ đức ở bên trong). Đức sinh ra trí-mật, chí-tinh, chí-vi. Xem xét vật trong thiên-hạ, không vật nào có thể cho đức cuả ḿnh tốt đẹp đến thế, ắt lấy ít làm quư. Người quân-tử thận-độc (độc tượng trời)".

Trung-Dung nói: "Người quân-tử đề-cao cảnh-giác chỗ kín-đáo không ai thấy được, sợ hăi nơi không ai nghe được, nơi ẩn không hiển được, vi không hiển-trứ được, nên người quân-tử cẩn-thận khi ở một ḿnh. Kẻ tiểu-nhân, khi ăn không ngồi rồi, không chuyện bất-lương nào mà không làm, thấy người quân-tử th́ che dấu chuyện bất-thiện mà phô-trương chuyện thiện-lương ra. Người ngoài nh́n vào thấu tim đen, che dấu phỏng có ích ǵ ? Đó chính là cái ta gọi là thành ở bên trong, h́nh hiện ra bên ngoài vậy. Cho nên người quân-tử thận-trọng khi ở một ḿnh".   

Đại-Học nói: "Muốn chính-tâm, trước hết phải thành-ư. Cái gọi là thành-ư chính là cái không tự-khi. Như rất ghét điều xấu xa th́ gọi là tự-khiêm. Cho nên người quân-tử cẩn-thận khi ở một ḿnh". Thầy Tăng-tử nói: "Mười con mắt chú mục vào mày, mười bàn tay chỉ trỏ vào mày, chẳng cũng đáng sợ sao ? Có tiền có thể làm cho nhà khang-trang ; có đức có thể làm cho bản thân được nhuận-trạch. Trong ḷng thản nhiên, thân-thể thư-thái" (Đại-Học VI, Thích Thành-ư). Cho nên người quân-tử tất thành-ư. 

Đại-Học và Trung-Dung đều nói đến thận-độc. Tuân-tử nói: "Không thành th́ không 'độc' được ". Thành là thực. Trong 'độc' mà ngoài nhất-trí. Đại-Học nói: "Thành bên trong mà h́nh hiện bên ngoài". Trung-Dung nói: "Thành tức là h́nh". Nghiêu-Thuấn lôi cuốn thiên-hạ bằng đức nên nhân-dân theo về. Kiệt-Trụ đàn-áp nhân-dân bằng bạo-lực mà dân cũng theo cũng chỉ v́ hiệu-lực cuả 'độc'. Nên nói: "V́ linh-phản và ham thích mà dân chẳng theo".

Thiên Bất-cẩu trong sách Tuân-tử nói: "Quân-tử dưỡng tâm không ǵ tốt đẹp bằng thành (Tức : chính-tâm trước phải thành-ư). Trí-thành ắt chẳng c̣n vấn-đề ǵ nữa.  Duy chỉ c̣n thủ-nhân, làm việc nghiă. Thành tâm thủ nghiă, ắt thành h́nh, thành h́nh ắt thần, thần ắt năng hoá. Thành tâm hành nghiă ắt có lư, có lư ắt minh, minh ắt năng biến. Biến-hoá đại-hưng gọi là thiên-đức. Trời không nói, mà người giục cao. Đất không nói, mà người giục dầy. Bốn muà không nói mà trăm họ đúng hạn-kỳ. Ôi ! ấy là hữu-thường để chí-thành. Người quân-tử mặc-nhiên chí-đức, bảo rơ việc chưa thi-hành mà người thân không giận mà vẫn oai. Ấy là thuận thiên-mệnh để thận-độc. Ngưới giỏi hành-đạo, không thành ắt không độc (không thành th́ làm sao mà độc được ?). Không độc ắt không thành h́nh, không thành h́nh ắt tuy làm trong bụng, thấy trên sắc mặt, phát ra nơi lời nói, dân c̣n chưa theo lệnh. Dù có tuân theo vẫn c̣n ngờ vực. Trời đất lớn lao, không thành ắt không năng hoá muôn vật được. Thánh-nhân biết, không thành ắt không năng hoá muôn dân. Thành là cái người quân-tử thường giữ để làm cỗi rễ cho chính-sự".  

Hàn-phi-tử Dương-quyền nói: "Đạo vô-song nên là nhất. Thế mới biết quân-tử quư dung-mạo cuả độc-đạo".  

Hoài-nam-tử Mậu-xưng nói: "Vui thay ư độc-chuyên! Ngày ngày thao-thao để tự-canh-tân. Quên cái già đang kè-kè bên ḿnh. Bắt đầu nơi thúc-quư, trở về nơi bá-mạnh. Tất là cái tích từ thiếu đến trưởng đó. Không ẩn-thân, không ẩn nhân. Cho nên như thể một ḿnh đi trên cầu gỗ. Không làm vô-nhân. Không ganh đua dung-mạo. Cho nên khiến người khác tin ta dễ, mà mặc quần áo tự tin khó". 

Trang-tử Canh-tang nói: "Làm chuyện bất-thiện, bị người khác phát-giác mà trách-phạt ; làm chuyện bất-thiện giữa nơi tối-tăm, quỷ-thần biết được, bị trách-phát, là chuyện đă đành. Sau đó có thể độc-hành (nơi u-hiển mà không thẹn ắt độc-hành hiên ngang không sợ-sệt)". 

Thiên Tu-thân sách Pháp-ngôn nói: "Thiên-hạ có ba cửa: nhập vào cửa t́nh-dục là tự-cầm ; nhập cửa lễ-nghiă là nhân-môn ; nhập cửa độc-trí là thánh-môn". Tư-mă Quang nói: "Sống ở trên đời mà biết độc-vận, hiểu rơ trí-cực, đào sâu nghiên-cơ, là người phi-thường, người khác khó bề theo kịp. 

Thiên Vấn-thần nói: "Rồng cuộn khúc nơi bùn, rắn độc buông thả làm sao". Chú :"Rồng cuộn khúc nơi bùn, để ví với người quân-tử thoải mái mà vẫn thận độc ; c̣n rắn buông thả, không biết thận độc, để ví với kẻ tiểu-nhân, nhàn cư vi bất-thiện. Rắn ôi ! Rắn ôi ! Nh́n và ganh ghét chí tiềm-tàng cuả rồng".  

Thiên Lăo-chí nói: "Thế nào gọi là ngụy? Có mặt người khác th́ giả vờ hành-động, không có ai th́ ngưng làm việc". Chú rằng: "Ta không thể dời đạo dù trong giây lát. Cho nên người quân-tử phải thận-độc".  

Hàn-phi-tử Dương-quyền nói: "Đạo vô-song nên bảo là nhất. Cho nên quân-tử quư dung-mạo cuả độc-đạo. Nói khác đi, đạo lấy độc làm dung-mạo". Án : Dung-mạo cuả độc-đạo tức độc. Đại-Đới-Lễ nói : "Vũ-Vương lên ngôi đeo nó". Bài Minh nói : hoả diệt tu-dung. Lưu-tử Tân-luận chép: "Nhan-Hồi không tắm gội ban đêm. Đó là cái người ta gọi là dung-mạo cuả độc-đạo". 

Dương-tử Thái-Huyền nói: "Âm không cực, ắt dương chẳng sinh. Loạn không cực th́ đức chẳng thành h́nh. Người quân-tử tu-đức để chờ thời: không khởi trước lúc, không hành-động sau lúc, mà làm đúng lúc, theo đúng phép, chỉ có người quân-tử mới làm được như thế mà thôi".  Chú rằng: "Quân-tử là hào dương. Tu đức nơi hoàng-tuyến tiết-hậu xuân mà dấy lên". Án : Tu đức nơi hoàng-tuyền tức là 'độc' vậy. Người quân-tử thận-độc, có ẩn-đức tất dương báo, cho nên chẳng thấy nơi ẩn, chẳng hiển nơi vi.  

Lăo-tử Đạo-đức-kinh, Chương XXV, nói: "Hữu vật hỗn thành, tiên thiên điạ sinh, tịch hề liêu hề, độc-lập bất cải, chu hành nhi bất đăi, khả dĩ vi thiên-hạ mẫu, ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết đạo, cưỡng chi vi danh viết đại; đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản. Cố đạo đại, thiên đại, điạ đại, vương diệc đại. Vực trung hữu tứ-đại nhi vương cư kỳ nhất yên. Nhân pháp điạ, điạ pháp thiên, thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự-nhiên = Có vật (thiên-nhiên) lẫn-lộn, pha trộn mà nên, sinh ra trước trời đất, yên lặng chừ, trống không chừ, đứng một ḿnh mà không thay đổi, đi khắp mọi nơi mà không trễ nải mỏi mệt, có thể lấy làm Mẹ cuả thiên-hạ, ta không biết tên là ǵ, đặt tên chữ cho Nó là Đạo, gượng ép v́ Nó, gọi tên là Lớn. Lớn là đi, đi là xa, xa là trở lại. Cho nên trời lớn, đất lớn, Vua cũng lớn. Trong cơi có bốn thứ lớn mà Vua là một. Người bắt chước đât, đất bắt trước trời, trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Thiên-nhiên". 

Hoài-nam-tử Nguyên-đạo nói: "Cái mà ta gọi vô-h́nh chính là nhất vậy. Cái mà ta gọi là nhất chính là cái đơn lẻ, không sánh đôi mà hợp nơi thiên-hạ. Đứng cao độc-lập, một khối độc-xử, trên thông với cửu-thiên (chin tầng trời hoặc chín vùng trời: trung-ương, tứ chính và tứ-ngung), dưới thông với cửu-dă (nơi hoang-dă cuả cửu-châu, đă đề-cập trong các bài 25 và 85. Tỷ-dụ như Cửu-châu cuả Nhà Hạ (Vơ-cống Cửu-châu) là: Kư-châu, Duyện-châu, Thanh-châu, Từ-châu, Dương-châu, Kinh-châu, Dự-châu, Lương-châu và Ung-châu.)".

 

  

 

 

Xem Kỳ 91

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com