www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 88)

 

Dịch Vi-Ngôn Đại-Nghĩa

 
易微言大義

 

Đạovà Cực : (279, tr. 565-568, 541)

Hệ-Thượng V/1 nói: "Nhất âm nhất dương chi vị đạo = Một âm và một dương gọi là đạo".

Việt-Nữu lục Phạm-tử nói: "Đạo sinh ra trước trời đất, không biết già. Uốn nắn nên muôn vật mà không có  danh-xảo. Nên gọi là đạo. Đạo sinh khí, khí sinh âm, âm sinh dương, dương sinh trời đất, trời đất lập nên rồi sau mới có rét-bức, khô-ẩm, nhật-nguyệt-tinh-thần, tứ-thời mà muôn vật bị-thuật do ư trời".

Hoài-Nam Thiên-văn nói: "Đạo quy-thủy nơi nhất. Nhất mà chẳng sinh nên phân thành âm-dương, âm-dương hoà-hợp mà muôn vật sinh ".

Hàn-phi-tử chú đạo rằng: "Đạo là mối đầu cuả muôn vật, là cương-kỷ cuả thị phi. Nên minh-quân thủ thủy để biết nguồn cuả muôn vật, trị-kỷ để biết đầu mối cuả thiện-bại. Nên hư-tĩnh để đợi lệnh, lệnh tên là tự-mệnh. Lệnh phụng-sự tự-định. Hư để biết thực t́nh, tĩnh để biết động là chính".

Giải-Lăo nói: "Đạo là t́nh-trạng tự nhiên cuả muôn vật".

Trịnh Trưởng-giả  nói: "Thể đạo vô-vi, vô-kiến vậy". Theo Hán-thư Nghệ-văn-chí Trịnh Trưởng-giả là một đạo-gia.

Quản-tử (307, 308) Tứ-thời nói: "Đạo sinh ra trời đất".

Quản-tử Bạch-tâm nói: "Đạo là cái mà một người không nghe thấy, dùng có thừa, là cái mà thiên-hạ đi mà không nghe thấy, không đủ". Nói khác đi. đạo là cái mà nhiều ít ǵ cũng đủ".

Chính-thiên nói: "Âm-dương đồng-độ là đạo".

Quản-tử  Nội-nghiệp nói: "Ôi! Đạo sở dĩ sung-h́nh mà con người không kiểm-soát nổi sự đi lại, không bỏ được mưu, bất kiến kỳ h́nh, bất văn kỳ thanh. Kỳ âm chết chăng ? Bèn tại tâm minh-minh chăng ? Kiến kỳ h́nh quá chừng chăng ? Cùng sinh với ḿnh, bất kiến kỳ h́nh, bất văn kỳ thanh mà thành có trật-tự, nên gọi là đạo".

Văn-tuyển chú dẫn Quản-tử nói: "Hư mà vô-h́nh gọi là đạo".

H́nh-thế-giải nói: "Đạo là phù-tŕ chúng vật, khiến chúng được sinh dục mà mỗi mỗi rút cuộc đều có tính-mệnh". Hàn-phi-tử, thiên Dương-quyền, nói: "Ôi! đạo là rộng lớn mà vô-h́nh. đức nghiệm xét lư mà phổ-cập đến chúng sinh cho họ châm-chước mà dùng".

Lại nói: "Đạo vô song, nên là nhất. Vậy nên minh-quân thích có dung-mạo độc-đạo".

Lại nói: "T́nh cuả đạo là hư-tĩnh, vô-vi. H́nh cuả sự việc là tham-ngũ hoá-vật. Tham để tỷ-vật, ngũ để hợp hư-hỉ. Đa sự hay sinh oán. Nên bỏ hỉ, bỏ ghét, hư-tâm để dọn chỗ ở cho đạo".

Lại nói: "Đạo là sở nhiên cuả vạn-vật, sở-kê cuả vạn-lư, là văn-bản thành vật. Đạo là sở-thành cuả vạn-vật. Nên nói đạo-lư chúng. Vật có lư, không thể nào coi thường được. Cho nên lư kiềm-chế vật. Vạn-vật khác nhau, nên lư cuả chúng cũng khác nhau. Nhờ lư mà đạo tận-kê lư cuả vạn-vật. Nên không được không hoá, nên không thường-thao, để lấy sinh-tử, khí-bẩm chăng? Vạn-trí châm-chước chăng? Vạn-sự phế-hưng chăng? Trời được nó mà cao, đất được nó mà chôn giấu. Duy bắc-đẩu được nó mà uy-nghi, nhật nguyệt được nó mà có hằng-quang, ngũ-thường được nó mà thường-hằng, liệt-tinh được nó để giữ mối đầu, tứ-thời được nó để ngự-biến, khí hiên-viên được nó để chiếm-cứ bốn phương, xích-tùng được nó để cùng trời đất thống-trị, thánh-nhân được nó để thành văn-chương, duệ-trí cùng Nghiêu-Thuấn, điên cuồng cùng Tiếp-Dư, tiêu-diệt cùng Kiệt-Trụ, thịnh-vượng cùng Thang-Vơ. Cho là gần sao? Viễn-du nơi tứ-cực chăng? Thường ở bên ta mà ám-ảnh chăng? Sáng láng rực-rỡ chăng? Vật đó là minh-minh mà công thành thiên-điạ, hoà-quang lôi-đ́nh vũ-nội, vật dựa vào đó mà thành. Phàm đạo không chế, không h́nh, nhu-nhược, tùy thời tương-ứng với lư. Vận-vật được nó để chết, được nó để sống; vạn-vật được nó để bại, được nó để thành. Đạo giống như nước, kẻ chết đuối uống nhiều vào ắt chết, kẻ khát nước uống vừa đủ ắt sống. Đạo cũng giống như kiếm-kích, kẻ ngu hành-động theo nóng giận ắt mang hoạ vào thân, thánh-nhân trừ bạo ắt phúc thành. Cho nên được nó để chết, được nó để sống, được nó để bại, được nó để thành".

Trang-tử Thiên-điạ thiên nói: "Phu-tử nói: Ôi! Đạo che chở vạn-vật, hiên ngang to lớn vậy thay!".

Giả-tử (tức Giả-Nghị) Tân-thư Đạo-thuật nói: "Đạo là cái sở tùng tiếp-vật. Gốc cuả nó là hư-không, ngọn cuả nó gọi là thuật. Hư nói lên tinh-vi cuả nó, b́nh tô, vô-thiết-thi. Thuật là sở-tùng chế vật, số cuả động-tĩnh. Tất cả những cái nói trên đều là Đạo".

Đạo-đức-thuyết nói: "Đạo vây ngờ mà làm thần cuả đức, đội đức mà đức là ân-trạch cuả đạo. Đạo tuy thần nhưng phải đội đức".

Nguyễn-Tịch Thông Lăo-luận nói: "Đạo quản-trị tự nhiên mà hoá. Hầu-vương năng giữ-ǵn. Vạn-vật sẽ tự-hoá. Dịch gọi là Thái-cực. Xuân Thu gọi là Nguyên. Lăo-tử gọi là đạo"

Liệt-tử Hoàng-đế nói: "Máy tạo phát-xuất nơi gót chân". Chú: "Quách-Tượng nói rằng: thường khởi ngay từ trên cực".
 

Tích và Thượng-Tích尚積: (279, tr. 603-617)

Dịch và Trung-Dung đều đề-cập 'tích'. Tuân-tử cũng nói đến 'tích'. Trong thiên Học-Kư, đoạn nói về 'tỷ-niên nhập học' là tích-lũy kiến-thức khi học. Đoạn ghi về con kiến có thuật lại chuyện họ Trịnh cho thành-công là đống đất nhỏ kiến đùn: đó là hiệu-quà cuả 'tích' vậy.

Hào-từ sơ-cửu quẻ Kiền nói: "Tiềm long vật dụng = Rồng ẩn, chớ dùng". Văn-Ngôn 5 quẻ Kiền nói: "Nguyên giả, thiện chi trưởng dă = Nguyên là trùm mọi điều thiện".

Hào-từ sơ-lục quẻ Khôn nói: "Lư sương kiên băng chí = Đi trên sương th́ biết rằng: băng dầy sắp đến". Tiểu-tượng-truyện quẻ Khôn nói: "Đi trên sương th́ biết có băng, là khí âm mới ngưng động vậy, con đường sẽ đi tới, là băng dầy sẽ tới vậy". Văn-Ngôn 5 quẻ Khôn nói: "Tích thiện chi gia tất hữu dư khương, tích bất-thiện chi gia, tất hữu dư ương. Thần thí kỳ quân, tử thí kỳ phụ, phi nhất triêu, nhất tịch chi cố. Kỳ sở do lai tiệm hỹ. Do biện chi bất tảo biện dă. Dịch viết: lư sương kiên băng chí, cái ngôn thuận dă (Thời cổ chữ thuân và chữ thận dùng trao đổi lẫn nhau. Xét cho cùng, ở đây nên chọn chữ thận, là nói nên lo toan từ lúc c̣n manh-nha vậy). = Nhà nào chứa điều lành, ắt có thừa phúc (Ngu-Phiên chú rằng: hào sơ quẻ Kiền là tích-thiện; lấy khôn tẫn dương diệt, xuất phục-chấn là 'thừa phúc'; bảo là đông-bắc mất bạn ắt cuối cùng có thừa phúc vậy.), nhà nào chứa điều chẳng lành, ắt có thừa tai vạ (Khôn 'chứa điều chẳng lành', bởi v́ 'Bầy tôi giết vua': Kiền thông Khôn, cực Cấu sinh tốn là 'thừa tai vạ'). Bầy tôi giết vua, con giết cha (Khôn tiêu đến nhị cấn con, giết cha; tiêu đến tam thành Bĩ là Khôn bầy tôi giết vua), nguyên do không phải từ một buổi sớm hay một buổi chiều , nó từ một thời-gian dần-dà đă lâu. (hào cương là buổi sớm; hào nhu là buổi chiều). Tại kẻ lo toan không biết lo toan sớm vậy (Trịnh-Huyền nói: "Biện là phân-biệt". Quẻ phục nghiă là nhỏ, là tiểu-tâm. Thành thử ra, lo toan sự việc th́ phải lo toan sớm). Kinh Dịch nói rằng: Đi trên sương th́ biết băng dầy sắp đến, là nói về sự cẩn tắc vô áy náy vậy (Cốc-Lương, Tả-truyên, Hy-công năm thứ 17 nói rằng: Quân-tử, ố tật kỳ thủy = Người quân-tử ghét, ghen ghét lúc ban đầu)"

Hệ-Thượng VII/3 nói: "Minh hạc tại âm, kỳ tử hoạ chi = Con chim hạc kêu trong bóng mát, con nó hoạ theo". Về câu này, đức Khổng-tử nói rằng: "Quân-tử cư kỳ thất, xuất kỳ ngôn thiện, tắc thiên lư chi ngoại ứng chi, huống kỳ nhĩ giả hồ. Cư kỳ thất xuất kỳ ngôn bất thiện, tắc thiên lư chi ngoại vi chi, huống kỳ nhĩ giả hồ? Ngôn xuất hồ thân, gia hồ dân, hành-phát hồ nhĩ, hiện hồ viễn, ngôn hành quân-tử chi xu-cơ, xu-cơ chi phát vinh-nhục chi chủ dă, ngôn hành quân-tử chi sở động thiên-điạ dă, khả bất thận hồ. = Người quân-tử ở trong nhà, nói ra lời nói hay, th́ ngoài ngh́n dặm, người ta cũng hưởng-ứng theo, huống chi là ở gần; ở trong nhà nói ra lời nói chẳng hay, thời ngoài ngh́n dặm, người ta làm trái lại, huống chi là ở gần. Lời ḿnh nói ra thi lan truyền đến dân-chúng, nết làm ở gần, phát ra th́ thực-hiện ở xa, lời nói việc làm là cái then chốt đă phát-khởi ra, là cái gốc cuả điều vinh-nhục, lời nói việc làm là cái mà người quân-tử dùng để làm cảm-động đến trời đất, khá chẳng cẩn-thận vậy ôi".

 

Luận-Giả Án

 

Xin quư-độc-giả duyệt lại Quái-khí nơi bài kỳ 12, bài kỳ 30 và nhất là bài kỳ 60.

Trên đây là hào-từ lục-nhị quẻ Trung-phu. Ta biết rằng Giáp-tư Quái-khí khởi Trung-phu, hỗ cấn là cư tốn, dương ẩn trong nhà nên mới nói là 'ở trong nhà'. Chấn là xuất, là thiện-ngôn (lời nói hay), bởi chưng hào sơ quẻ Phục, chấn-tốn (đối-quái) đồng-thanh tương-ứng, cho nên 'ngoài ngh́n dặm, người ta cũng hưởng-ứng theo'. C̣n bảo là Khôn là 'lời nói chẳng hay', bởi v́ Cấu-Phục 'sai một ly đi một dặm', cho nên 'ngoài ngh́n dặm, người ta làm trái lại'. Khôn là thân, là dân, là gần; chấn là đi; kiền là xa. Xu (then) chủ đóng mở, cơ (chốt) chủ phát-động. Kiền dương là vinh, Khôn âm là nhục, cho nên 'then chốt là cái cỗi rễ cuả điều vinh-nhục'. Trung-phu biến hào nhị thành quẻ Ích : tốn phong động thiên, chấn lôi động điạ, nên nói rằng 'lời nói việc làm là cái mà người quân-tử dùng để làm cảm-động đến trời đất'. Cấn là cẩn-thận, nên nói 'khá chẳng cẩn-thận vậy ôi'. 

Hệ-Hạ V/8 nói: "Thiện bất tích bất túc dĩ thành danh, ác bất tích bất túc dĩ diệt thân, tiểu-nhân dĩ tiểu-thiện vi vô-ích nhi phất vi dă,  dĩ tiểu-ác vi vô-thương nhi bất khả yểm, tội đại nhi bất khả giải. Dịch viết : hà giảo diệt nhĩ, hung = Điều lành chẳng chứa góp, chẳng đủ để nên danh (Ngu-Phiên chú rằng: Kiền là tích-thiện, dương là xưng danh), điều ác chẳng chứa góp, chẳng đủ để diệt thân (Khôn là tích-ác, là thân, lấy Kiền diệt Khôn, nên nói là diệt thân), kẻ tiểu-nhân cho rằng điều lành nhỏ là vô-ích mà chẳng làm (điều lành nhỏ là hào sơ quẻ Phục), cho rằng điều ác nhỏ là vô-hại mà chẳng bỏ (điều ác nhỏ là hào sơ quẻ Cấu), cho nên  điều ác chứa góp lại mà chẳng có thể che giấu được (bảo là âm tức Cấu đến Độn, con giết cha, nên ác chứa góp lại mà chẳng có thể che giấu được), tội lớn mà chẳng có thể gỡ được (âm tức Độn thành Bĩ, lấy tôi giết vua, nên tội lớn mà chẳng có thể gỡ được). Dịch nói : đội gông đứt tai, xấu là thế đấy (Lă-giám Biệt-loại nói : làm việc nghiă nhỏ, ắt có phúc nhỏ, làm việc nghiă lớn, ắt có phúc lớn. Với hoạ lại là chuyện khác hẳn. Có họa nhỏ chẳng giống bị tiêu-diệt. Cao chú rằng : hoạ tuy vi-tế, tiểu tích, tiểu thành đại, cho nên cầm chắc diệt vong)".

Dương-tử Thái-Huyền nói: "Người quân-tử tại Huyền ắt chính, tại phúc ắt xung, tại hoạ ắt phản ; tiểu-nhân tại Huyền ắt tà, tại phúc ắt kiêu, tại hoạ ắt cùng." Án : tại Huyền ắt chính là thận-độc, tại Dịch là Kiền sơ-cửu ; tại Huyền ắt tà, tiểu-nhân nhàn cư vi bất-thiện, tại Dịch là Khôn sơ-lục.   

Giả-tử (tức Giả-Nghị) Tân-thư Tu-chính-ngữ nói: "Đế Chuyên-Húc nói : Công-trạng không ǵ đẹp bằng khử ác; tội không ǵ lớn bằng khử-thiện mà làm điều ác. Cho nên, thiện dù không phải là cuả ta, cũng làm cho ta trở thành thiện, thiện duyên thiện vậy; ác dù không phải là ác cuả ta, cũng làm cho ta trở thành ác, ác duyên ác vậy, Ngày nào cũng như ngày nào, ta nên thận-trọng điều ấy"

Đại-Đới-Lễ Bảo-truyền nói: "Làm cho gốc chính, vạn-vật có lư (Gốc là hào sơ. Truyện Phạm-Thăng nói : Làm cho gốc chính, vạn-vật có lư. Trong Thuyết-Uyển, Lưu-Hướng nói : dùng gốc mà vạn-vật có lư). Sai một ly (Sơ đang c̣n vi-tế, nên nói là ly. Kinh Thi nói : Đức nhẹ như lông), đi một dặm (chứa góp điều thiện th́ thừa phúc, chứa góp điều ác th́ thừa tai vạ, nên mới nói sai đi một dặm). Nên người quân-tử cẩn-trọng lúc bắt đầu (sớm lo toan có nghiă là : sớm tính toán kỹ có lợi là sai-số nhỏ hơn khí tính toán vội vàng)"

Lễ-Kư Kinh-Giải (Chương XXVI sách Lễ-kư) nói: "Giáo-hoá cuả Lễ là làm nhỏ tà vạy lại khi mới manh-nha, khiến cho người hành-thiện, tránh xa tội-lỗi mà không hay biết ǵ hết. Dịch nói : Thận-trọng lúc ban sơ, chính thật là sai một ly đi một dặm". Trịnh-Huyền chú rằng: "Lúc ban sơ có nghiă là lúc đang c̣n vi-tế". Chính-nghiă nói: ó là bản văn cuả Hệ-từ". Câu này đă thất-truyền nên không c̣n thấy được trong Bản hiện-tồn cuả Kinh Dịch. 

Sử-kư Thái-Sử-Công nói: "Tựa nói: Thời Xuân Thu giết vua 36 lần, mất nước 52 lần, xét kỹ nguyên-do đều do gốc cả (tức thị không để ư đến lúc khởi đầu). Dịch nói 'Sai một ly đi một dặm nên nói: 'Bầy tôi giết vua, con giết cha không phải do một sớm, một chiều, nó từ một thời-gian dần-dà đă lâu. Tại kẻ lo toan không biết lo toan sớm vậy'. Án : Chu-Dịch Thuật-sớ nói rằng : "Thái-sử-công có thấy toàn-văn Chu-Dịch Cổ-Văn mà Thái-Bảo-truyện trong Đại-Tiểu-Đới Lễ-Kư, Kinh-Giải cùng là Dịch-Vỹ Thông-Quái-Nghiệm đều có trích-dẫn. Hoặc giả nói là Vỹ-thư, e rằng sai mất"

Hàn-phi-tử (311) Ngoại-trừ-thuyết nói: "Hậu-hoạn có thể trừ, xuất-hiện trong Thuyết cuả Tử-hạ. Ông nói : Xuân Thu có ghi cả mười lần bầy tôi giết vua, con giết cha. Không phải chỉ tích trong một ngày, mà cứ dần-dà xẩy đến. Phàm kẻ gian thi-hành thủ-đoạn ǵ đều sửa-soạn từ lâu, tích dần, sức nhiều dần, sức nhiều mới giết được. Cho nên minh-chủ trừ tuyệt sớm tà vạy đó. Lại nói : Tử-hạ nói: "Người giỏi tŕ thế sớm tuyệt trừ mầm gian."

Quản-tử Quyền-tu nói: "Muốn dân ngay thẳng, ắt không thể không ngăn cấm vi-tà. Vi-tà là manh mối cuả đại-tà. Vi-tà không cấm mà mong rằng đại-tà không làm hại nước là chuyện mộng-tưởng"

Thượng-Thư Đại-truyện nói: "Kinh Thư nói: Ba năm khảo công-tích, sau ba lần khảo, có thể cách chức. Lời huấn u-minh rằng : Một đến ba, rồi đến chín năm, thiên-số tận cùng. Dương-đức hết. Tích bất-thiện đến u lục-cực để liệt vào loại giáng nên truất; tích-thiện đến minh ngũ-phúc để liệt vào loại thăng nên cất nhắc lên. Đều tụ-thủ, thánh vô dung-tâm cả". Dương-tử Thái-Huyền nói: "Dương suy ngũ-phúc để liệt vào loại thăng, âm u-ám nơi lục-cực để liệt vào loại giáng. Tương-quan đại-trinh bèn thông. Bởi vậy vẽ quẻ và diễn-trù đều dựa vào cùng một lư."

Hoài-Nam Mậu-Xưng (006 , tr. 463-510) nói: "Vật không thể bóc hết, nên trao cho quẻ Phục. Tích-lũy mỏng th́ được dầy, tích-lũy thấp để làm cao. Người quân-tử ngày ngày, luôn luôn làm cho rạng-rỡ; kẻ tiểu-nhân ngày ngày mau-mắn đem nhục vào thân. Đó là tiêu-tức vậy. Ly đỏ chẳng thấy được (Tiêu-tức vi-tế nên Ly đỏ chẳng thấy được)"

Từ Cán Trung Luận Tu-Bản nói: "Tiên-dân có nói rằng: sáng xuất-phát từ u-tối, hiển-trứ xuất-phát từ tế-vi. Cho nên sương cuả Tống-tỉnh chận rét cuả thăng-chính; mầm cuả cây lau vàng báo hiệu bức cuả đại-trung. Sự việc cũng như vậy. Cho nên người quân-tử tu đức kể từ khi cài trâm trên mũ, kết tóc kết-thúc trên lưng con cá hà-dồn, khai sáng với di-nguyên, thành với đỉnh núi cao. Dịch nói : Thăng nguyên hanh dụng kiến đại-nhân, vật tuất, nam chinh, cát = Đi lên, rất hanh-thông, dùng để ra mắt người đại-nhân, đừng lo, đi về phương nam th́ tốt (Thăng Thoán)"

Hàn-phi-tử Dụ-Lăo nói: "Biển-Thước bệ-kiến Sái Hoàn-Công, Đứng một chặp, Biển-Thước nói: Nhà vua nhiễm bệnh tại thớ da, không trị e rằng bệnh nặng thêm. Cần phải tranh thủ lúc bệnh c̣n vi-tế. Ôi ! Hoạ phúc cuả sự việc cũng có thớ da. Nên nói: thánh-nhân theo dơi sự việc rất sớm"

Hán-thư Trọng-Thư Đối-sách nói: "Sách nói: Trên vui v́ Đường-Nghiêu, dưới sợ-hăi v́ Kiệt-Trụ. Đạo dần tế-vi, dần tiêu-diệt, dần sáng-láng, dần phồn-thịnh, hư-tâm để cải. Thần nghe đám đông thiểu-thành đa tích-tiểu, đưa đến lớn-lao. Nên thánh-nhân chẳng bao giờ ám trí-minh để tế-vi đưa đến hiển-trứ. Ấy là Đế Nghiêu phát nơi chư-hầu, Đế Thuấn chấn hưng nơi núi sâu, không ngày nào là không vinh-hiển. Bởi chưng có dần-dà hành-động mới đưa đến kết-quả được. Lời phát ra từ chính ńnh, không thể để cho bế-tắc được. Hành phát-động nơi thân không thể che dấu được. Ngôn-hành để trị-sự lớn thay. Sở dĩ người quân-tử cảm-động được trời đất. Chỉ có Văn-Vương để tâm kính-trọng. Cho nên Đế Nhgiêu lo-sợ thi-hành đạo, mà Đế Thuấn ngày ngày triệt-để thi-hành chữ hiếu, tích-lũy mà hiển-danh, đức rực-rỡ mà thân được tôn-kính. Ấy là thực-hiện đạo dần dần sáng suả, dần dần hưng-thịnh. Tích-thiện tại thân suốt một ngày dài cho nhiều thêm, mà mọi người đâu có hay. Tích ác tại thân như lửa đốt tâm-bào-lạc, mà mọi người đâu có hay". Lại nói: i! Bạo-nghịch bất nhân chỉ một ngày là tiêu-vong, cùng là xẩy đến chậm. Cho nên Kiệt-Trụ đánh mất đạo nhưng c̣n được hưởng nước hơn mười năm. Đó chính là dần dần tế-vi, dần dần diệt-vong vậy"

Hán-thư Mai Thừa Thư nói: "Phúc sinh có bế-tắc, hoạ sinh có thai-tàng. Bế-tắc tuyệt-diệt thai-tàng. Hoạ từ đâu tới? Thần Trọng-lựu cuả Thái-sơn xuyên đá đơn-cực cuả xà nhà. "

Pháp-Ngôn Tu-thân nói: "Quân-tử vi-thận thửa đức. Hối lẫn chẳng đến, làm sao phạm đại-ác được"

Giả-Nghị Tân-thư Thẩm-vi nói: "Thiện không thể bảo nhỏ là vô-ích, bất-thiện không thể bảo nhỏ là vô-hại. Chẳng cho một chút thiện không làm lợi cho thiên-hạ; chẳng cho một chút ác không làm hại cho quốc-gia. Đương lúc xem thường lúc bắt đầu, ngạo-mạn vi-tế, có thể dẫn đến đại-loạn. Cho nên phải kính-cẩn con dân. Ôi! Sự có đuổi gian-thế, có chiêu hoạ. Lăo-Đam nói: "Làm lúc chưa hiện-hữu, trị lúc chưa loạn". Quản-Trọng nói: "Pḥng hoạn lúc chưa thành h́nh là thượng chước vậy. "

Lăo-tử Đạo-đức-kinh nói: "Làm khi chưa xẩy ra, trị khi chưa loạn, cây mấy người ôm sinh từ gốc mọn. Đài chín tầng sinh từ một đống đất. Đi ngh́n dặm bắt đầu từ bắp chuối"

Tuân-tử Đại-lược nói: "Ôi! Làm hết nhỏ thành ra lớn, tích-lũy vi-tế thành ra hiển-trứ, trí-đức là đức nhuận thân. Thi-hành hết cả ắt tiếng tăm đi xa. Tiểu-nhân chẳng cầu tâm thành bên trong mà chỉ cầu tâm thành bên ngoài mà thôi (đạo-đức giả)"

Văn-tử nói: "Tích đạo-dức là trời phú cho, đất giúp cho"

Trương-Hành Đông-kinh Phú nói: "Băng dầy phát-xuất từ đi trên sương; t́m cây bắt đầu từ cây c̣n nhỏ". Tiết-Tổng chú rằng: "Sự việc bao giờ cũng từ tế-vi đến hiển-trứ, không thể không thận-trọng lúc ban đầu. Cho nên xem cây phải xem từ lúc cây mới mọc mầm, từ lúc cây mới đâm chồi; sóng lớn phát-xuất từ ḍng suối nhỏ"

Lă Đông-Lai (tức Lă Tổ-Khiêm) (312) nói: "Kiền sơ-cửu nói: 'Tiềm long vật dụng = Rồng ẩn, chớ dùng'. Khôn sơ-lục nói: 'Lư sương kiên băng chí = Đi trên sương, biết băng dầy sắp tới'. Kiền dương là loài thiện, Khôn âm là loài ác. Mối thiện sơ-phát ta nên hàm-dưỡng; ác-niệm mới sinh ra, ta nên tiễu-trừ".

 

Thiên-Điạ Thượng-Tích天地尚積:

Kinh-Pḥng Dịch-Truyện nói: "Tích dương làm trời, tích âm làm đất"

Trung-Dung, Chương XXVI, nói: "Đạo trời đất có thể tóm tắt trong một lời nói mà thôi: V́ trời đất tạo ra muôn vật nên không có hai tính, th́ sinh ra muôn vật khôn lường. Đạo trời đất thật là rộng, dầy, cao, sáng, sâu-xa và lâu-bền vậy. Ôi! trời chỉ là một khoảng trống-không, sáng-láng mà thôi, nhưng nói tới chỗ bao-la vô-cùng-tận th́ mặt trời, măt trăng và các v́ tinh-tú đều liên-hê vào đấy, và muôn vật đều được che trùm vậy. Này như đất, chỉ là một nắm đất mà thôi, nhưng nó dầy và rộng vô-cùng, chở bao nhiêu núi non mà không nặng, chứa đựng biết bao nhiêu sông bể mà không đầy tràn, lại c̣n chở muôn vật nữa. Này như núi, chẳng qua chỉ góp nhiều nắm đá mà thôi, nhưng thật ra th́ nó rộng lớn siết bao, cỏ mọc, chim muông sống trên đó, lại c̣n cất giấu biết bao nhiêu cuả cải quư báu nữa là khác. Này như nước, chẳng qua cũng chỉ tích nhiều chén nước lại, nhưng lúc khôn lường th́ vô-số những loài cá sấu, cá mập, thuồng-luồng, cá mú, ba-ba … sinh-sôi nẩy-nở ở đó. Lại c̣n chứa biết bao nhiêu cuả cải quư báu nữa. Kinh Thi có nói: Chỉ có mênh trời là sâu-xa lắm thay! Bởi v́ trời có như thế mới là trời vậy. Than ôi! Đức thuần-nhất cuả Văn-Vương há chẳng sáng tỏ lắm thay! Ư nói Văn-Vương có như thế mới là văn, v́ có đức thuần-nhất và vô-cùng vậy". Trịnh-Huyền chú rằng: "Trời có như thế mới là trời, Văn-Vương có như thế mới là văn, đều nhờ thi-hành không thôi, làm không ngừng, in hệt trời đất sông núi vậy". Đại-tượng quẻ Thăng nói: "Người quân-tử coi đó thuận theo đức, chất cáí nhỏ thành cái lớn, cái cao". Chính-nghiă nói: "Tiết này vạch rơ nếu 'chí thành không ngừng', ắt có thể đi từ vi-tế đến hiển-trứ, đi từ cái nhỏ đến cái lớn "
 

Thánh-Học Thượng-Tích聖學尚積:

Thiên Kính Chi trong Kinh Thi nói: "Ngày ngày thành việc, tháng tháng đem tới, tiếp nối học-hành, sáng-láng nơi quang-minh". Trịnh tiên nói rằng: "Nhật tựu nguyệt hành có nghiă là đang học-hành để tích-lũy dần dần"

Học-Kư nói: "Dạy học thời cổ, so tuổi mà cho nhập học, trung-niên khảo-hạch, một năm sau cho dời kinh biện chí, ba năm xét kính-nghiệp lạc-quần, năm năm xét bác tập thân-sư, bẩy năm xét luận-học thủ-hữu, gọi là tiểu-thành. Chín năm tri-loại thông-đạt, cường lập mà không phản, gọi là đại-thành. Sau đó mới đủ sức để hoá-dân cải-tục. Người ở gần th́ duyệt-phục, kẻ ở xa th́ ghi nhớ trong ḷng. Đó là đạo đại-học vậy. Kư nói: "Con ngài thời-thuật nói lên điều đó vậy"

Lại nói: "Tam-vương tế sông, trước tế sông, sau tế biển, hoặc tế nguồn. Hoặc giả ủy-thác. Ấy là chuyên lo việc gốc. Trịnh-Huyền chú rằng: Nguồn là chỗ suối phát-xuất, chỗ ủy-lưu tụ lại. Trước chẩy ra một muôi, rốt cuộc thành ra lớn khôn lường". Chính-nghiă  nói: "Học-hành lúc đầu từ từ tích-lũy kiến-thức, sau thành thánh-hiền cả"

Đại-Đới Khuyến-học nói: "Tích đất thành núi, mưa gió dấy lên. Tích nước thành vực sâu, thuồng-luồng sinh ra. Tích thiện thành đức (trong Dịch Kiền sơ là thiện, Kiền tam là thành đức), mà thần minh tự khắc được, thánh-tâm tuần-tự ru, cho nên không tích-lũy bước đi, không làm sao vượt ngh́n dặm được, không tích-lũy ḍng nước nhỏ, không làm sao thành sông lớn được. Ngựa kỳ, ngựa kư nhẩy một cái. không làm ngựa hèn, đi mười bước làm nên công"

Tuân-tử Nho-hiệu nói: "Con người nếu không có phép-tắc cuả thầy th́ không long-trọng, mà phép tắc cuả thầy phải được tích-lũy dần dần. Không học được tính cuả thầy, th́ không thể hành-sự một ḿnh được. Ta không thể làm như thế được, nhưng có thể giáo hoá và tích-lũy được. Phải tinh-nhất, phải nhất-tính, mà không được hai tính, sở dĩ tích-lũy được, tương-tự như Trung-dung đề-cập bên trên. Tập-tục dời chí, b́nh-yên lâu dời chất.  Tinh-nhất mà chẳng hai tính, ắt thông thần-minh, tham–bác với trời đất. Cho nên tích đất thành núi, tích nước thành biển, tích thời-giờ thành năm, chí cao gọi là trời, chí thấp gọi là đất, trong vũ-trụ, luc-chỉ (tức lục-hợp), gọi là lục-cực v́ tích gần thành xa. Tích-lũy người vào bách-tính, tích-thiện mà toàn-tận gọi là thánh-nhân. Họ cầu xin, mà họ được, sau thành tích-lũy, sau cao tận mà sau thành thánh. Cho nện thánh-nhân do người tích-lũy mà thành. Tích thiện không ngừng ắt thông nơi thần-minh, tham-bác với trời đất. Cho nên thánh-nhân chẳng qua là con người tích-lũy mà nên"

Thi-tử nói: "Tích nước có thể nuốt được cá cuả thuyền, đất tích ắt sinh cây xứ Dự-chương. Tích-lũy học-vấn cũng sản-xuất được ǵ chứ". 

 

Vương-Giả Thượng-Tích王者尚積:

Thiên Hoàng Hỹ Tự trong Kinh Thi nói: "Ôi! Nhà vua nhà Chu, trời trao cho nhiệm-vụ thay thế và coi xét nhà Thương/Ân, không c̣n ǵ đẹp bằng. Nhà Chu đời đời tu đức

không ai bằng Văn-Vương". Thiên hiếu-sinh trong Khổng-tử Gia-ngữ nói: "Nhà Chu kể từ khi Hậu-Tắc tích-hạnh, lũy công, để được tước thổ-công, Lưu-Trọng lấy đức nhân mà xưng là Đại-vương Đản, thân-phụ ông tên Đôn nhường gốc cây thự-bản dự-bị xa xôi vậy". 

Tuân-tử Cường-quốc nói: "Tích tháng nhỏ không hơn ngày, giờ không hơn tháng, năm không hơn giờ. Phàm con người ưa ngạo-mạn về việc nhỏ, việc lớn rồi sau mới lo-toan nên thường không thắng. Tại sao vậy? Việc nhỏ xẩy đến, số treo vào ngày. Nới rộng tế-vi sẽ tích-lũy thành lớn vậy. Việc lớn xẩy đến, giảm thiểu số ngày treo, thu hẹp tích-lũy lại thành nhỏ. Cho nên ngày thiện là vua, giờ thiện là bá, bổ-sung tệ lậu là nguy bởi chưng không lũy-công, lũy-nghiệp đến nỗi tệ-lậu mới lật đật bổ-sung. Đại-hoang là tiêu-vong, bởi v́ đă hoang-phế rồi ắt là bất-trị. Cho nên bậc vương-giả kính-trọng ngày, kẻ bá-giả tôn-trọng giờ. Ngày một, ngày hai, vạn-cơ xẩy đến, bậc vương-giả kính-trọng ngày. Thanh-sắc hoá dân, kẻ bá-giả tôn-trọng giờ. Kính-trọng ngày là ẩn-vi, u-độc, tôn-trọng giờ là tại chính-giáo hiệu-lệnh. Chờ cho sự việc dồn-dâp, tổ-quốc lâm-nguy mới lo-lắng mất nước, th́ nước mất nhà tan là chuyện chắc. Đến lúc mất nước mới hay nước mất, đến lúc chết mới biết là chết, hoạ-bại mất nước, hối-hận không kịp. Kẻ bá-giả thiện trữ, có thể thời-thác; công-danh cuả bậc vương-giả không thể thắng nhật-chí, bởi chưng thiện-tích thành danh, nên công-danh không thể thắng nhật-chí. Tài-vật, hoá-bửu lấy lớn làm trọng. Trái lại, chính-giáo công-danh năng tích-vi mới cấp-thành". Kinh Thi nói: 'Đức nhẹ như lông', Nhân-dân khắc-cử một cách tốt đẹp. Thế mới biết công-trạng cuả tích-vi biến thành hiển-trứ. Lấy Dịch mà nói, vi tức là Kiền sơ-cửu. Sơ-cửu là nguyên. Kiền nguyên dụng-cửu là thiên-hạ b́nh-trị, cho nên đức nhẹ như lông, nhân-dân khắc-cử một cách tốt đẹp. 

Đại-Đới Lễ, Lễ-sát nói: "Phàm con người chỉ năng thấy dĩ-nhiên, mà không thấy được tương-nhiên (chuyện sẽ xẩy đến). Người lễ-giả thường ngăn cấm trước tương-nhiên, c̣n người pháp-giả thường ngăn cấm sau dĩ-nhiên". Kinh Lễ nói rằng: "Quư ở chỗ tuyệt-ác lúc ác chưa manh-nha, mà kính bắt đầu từ vi-miểu khiến dân làm việc thiện, lánh xa tội ác mà không tự biết". Đức Khổng-tử nói rằng: "Nghe xử án tranh tụng, ta cũng giống mọi người, tốt nhất là khiến dân hiểu rằng căn-bản là không tranh-tụng. Người không thực t́nh không dám dùng lời giả dối tranh tụng, khiến tâm chí người khác tự nhiên là minh-đức (tức thị cảm nghĩ và úy-phục) cuả người quân-tử: chính là cái gọi là biết căn bản" (Đai-Học, Chương IV, Thích Bản Mạt). Chủ kế cho người khác, không ǵ tốt bằng an thẩm thủ xả (tảo biện). Cực đại cuả thủ-xả định nơi manh mối cuả nội-an-nguy và ứng bên ngoài. An không phải là một ngày mà an, nguy không phải là một ngày mà nguy, do tích-lũy vậy. Không thể không xét. Thiện không tích không đủ để thành danh, ác không tích không đủ để diệt thân, mà hành-động cuả mỗi cá-nhân đều do thủ-xả (lấy, bỏ). Lấy lễ-nghiă mà trị, tức thị, tích lễ-nghiă để trị bằng h́nh-tội. H́nh-tội tích mà dân oán-bạn, lễ-nghiă tích mà dân hoà-thân. Cho nên thế-chủ muốn dân thiện-đồng mà lại làm dân thiện-dị, hoặc là dẫn-dắt bằng đức-giáo, hoặc là xua đổi bằng pháp-lệnh. Dẫn dắt bằng đức-giáo là đức-giáo bằng hành-động mà dân khang lạc, xua đuổi bằng pháp-lệnh là pháp-lệnh mà dân ai-oán. Vui buồn là cảm-xúc, là cảm ứng cuả hoạ-phúc. Tôi (Đới-Đức) cho là ư muốn cuả vua Tần là tôn tông-miếu, mà an ủy con cháu, giống như Thang-Vơ. Như vậy, Thang-Vơ có thể khuyếch-đại đức cuả họ, kéo dài hạnh cuả họ, năm trăm năm mà không mất. Vua Tần cũng muốn được như thế, nhưng không giữ được thiên-hạ quá mười năm mà đă đại-bại rồi. Không có duyên cớ nào khác. Khi định thủ-xả, Thang-Vơ có thẩm-sát, c̣n Tần-vương không thẩm-sát [tức là nguyên-do cuả đối-ứng cuả tích-thiện, tích-ác đều tại nơi xa vời diệu vợi]. Dịch nói rằng: "Người quân-tử thận-trọng lúc ban đầu, sai một ly đi một dặm, đó chính là thủ-xả vậy".  

Hoài-Nam Mậu-Xưng (006 , tr. 463-510) nói: : "Quân-tử không thể nói điều thiện nhỏ bỏ qua v́ không đáng làm: tiểu-thiện tích-lũy thành đại-thiện, không thể bảo tiểu-bất-thiện là vô-hại, mà làm, bởi chưng tiểu-bất-thiện tích-lũy lại thành đại-bất-thiện. Cho nên, thuyền chở đầy lông nhẹ cũng có thể ch́m, xe chở đầy vật-liệu nhẹ cũng có thể gẫy trục."

Hán-thư, Truyện Thúc Tôn-Thông, Lỗ Lưỡng-Sinh nói: "Chỗ sở-khởi cuả lễ-nhạc phải tích đức rồi sau mới dựng lên được".

 

  

 

 

Xem Kỳ 90

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com