www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 87)

 

Dịch Vi-Ngôn Đại-Nghĩa

 
易微言大義

 

Vi, Tri Vi知微, Tam-Vi 三微và Tri Vi Chi Hiển知微之顯: (279, tr. 504-517)

Hệ-Hạ V/11 nói: "Cơ giả động chi vi, cát chi tiên kiến giả dă, = Điềm báo trước là cái kín-đáo trong sự hoạt-động, là cái tốt lành đă hiện ra trước vậy". Ngu-Phiên chú rằng: "Dương hiện ra ở sơ thành quẻ chấn, nên là cái kín-đáo trong sự hoạt-động. Phục sơ: Nguyên cát, là cái tốt lành đă hiện ra trước vậy". Điềm báo trước tức Nhất. Nhất cổ-văn viết là . Thuyết-văn bảo là tùng hồ là cát tức nghiă cuả 'cát chi tiên kiến'. Chu-tử căn-cứ vào Dịch-truyện cuả Lưu-Hướng, đổi thành 'cát hung chi tiên kiến', thành ra sai nghiă mất rồi.

Lại nói: "Quân-tử tri vi, tri chương = Người quân-tử biết điều kín-đáo, biết điều rơ rệt" (Hệ-Hạ V/11).  Diêu-Tín chú rằng: "Nhị bên dưới giao với sơ, nên nói 'tri vi'; thượng giao với tam nên nói 'tri chương' ".

Lại nói: "Khổng-tử nói: 'Nhan-thị chi tử, kỳ đăi thứ cơ hồ? = Người con họ Nhan có lẽ gần đạo ư?' ". Ngu-Phiên chú rằng: "Cơ là vi vậy. Nhan-tử 'tri vi' nên mới có 'thứ cơ' ". Khổng-tử nói: "Hồi dă, kỳ thứ cơ hồ? = Tṛ Hồi có lẽ gần đạo ư?' ". Lại nói: "Phù Dịch chương văng nhi sát lai, nhi vi hiển, xiển u = Ôi Đạo Dịch làm rơ rệt cái đă qua mà xét cái sắp tới, làm sáng tỏ cái kín-đáo, mở toang cái bí-mật". Ngu-Phiên chú rằng: "Thần dĩ tri lai, trí dĩ tàng văng = Thần để biết việc sau, trí để nhớ việc trước" (Hệ-Thượng XI/2).  Cái ǵ nhỏ, tế-vi làm cho thấy rơ bảo là theo quẻ Phục thành quẻ Kiền là 'sát lai'. Cái ǵ u-tối khai-triển ra, bảo là theo quẻ Cấu đi sang quẻ Khôn, là 'chương văng' ".

Lại nói: "Kỳ sơ nan tri = Hào sơ khó biết". Hầu-Quả chú rằng: "Hào sơ, ắt sự vật đang c̣n tế-vi nên khó biết".

Lại nói: "Năng duyệt chư tâm, năng nghiên chư hầu chi lự, định thiên-hạ chi cát hung, thành thiên-hạ chi vỷ vỷ giả = Hay làm cho ḷng vui, hay t́m xét ở ư-nghĩ, định được sư tốt xấu cho thiên-hạ, làm cho thiên-hạ gắng gỏi" (Hệ-Hạ XII/2). Tuân-Sảng chú rằng: "Vỷ-vỷ là tế-vi cuả âm-dương, có thể thành, có thể bại". Vương-Bật viết: "Vỷ-vỷ là ngụ-ư vi-diệu".

Trung-Dung (Chương XXXI cuả sách Lễ-Kư), Chương I, nói: "Mạc hiện hồ ẩn, mạc hiển hồ vi, cố quân-tử thận kỳ độc = Bởi v́ tất cả các sự vật càng kín-đáo lại càng rơ rệt, càng tế-vi lại càng sáng suả. Cho nên người quân-tử luôn luôn giữ-ǵn cẩn-thận những khi ở một ḿnh". [Trong Dịch, ẩn-vi là hào sơ cuả hai quẻ Kiền-Khôn. Trong Sử-Kư, Thái-Sử Công tán rằng: "Dịch gốc ở ẩn để mà hiển. Ẩn chính là Kiền sơ-cửu. Đến nhị ắt đă hiển-trứ, nên mới nói: ẩn để mà hiển". Văn-ngôn thích cửu-nhị nói: "Khổn tà để tồn thành. Hai hào dương bất chính nên mới nói 'Khổn tà'. 'Tổn kỳ thành' là 'thận-độc' "]. Tuân-tử nói: "Không thành ắt không năng độc, độc ắt h́nh ẩn mà khuất khúc". Trung-Dung nói: "Kỳ thứ trí-khúc (tức tư-thành cuả Mạnh-tử), khúc năng hữu thành, thành tắc h́nh, h́nh tắc trứ. Trứ tắc minh, minh tắc động, động tắc biến, biến tắc hoá. Duy thiên-hạ chí-thành vi năng hoá. = Thứ nữa đến những kẻ thiên lệch. Nếu cố-gắng th́ những kẻ thiên-lệch ấy cũng có thể trở nên thành-thực được. Có thành-thực ở bên trong th́ mới h́nh-hiện ra bề ngoài. h́nh-hiện ra bề ngoài. th́ mới thấy rơ-rệt. Có thấy rơ-rệt th́ mới sáng tỏ. Có sáng tỏ th́ mới cảm-động. Có cảm-động th́ mới biến-đổi. Có biến-đổi th́ mới tiến-hoá. Trong thiên-hạ, chỉ có bậc Chí-thành mới đạt được mức-độ 'năng-hoá' " (Trung-Dung. Chương XXXIII). Ở đây, 'thành-cộng cuả thiên-hạ' là muốn nói đến cửu-ngũ, c̣n 'kỳ thứ trí khúc' là cửu-nhị. Nhị thăng Khôn ngũ là cái mà ta gọi là thành-công vậy. Kiền giỏi nơi hào cửu-ngũ, Khôn giỏi nơi hào lục-nhị. Kiền nhị trung mà bất-chính, tam chính mà bất-trung, tứ bất-trung, bất-chính, nhị dưỡng-chính, tam cầu trung, kiêm đi lên tứ vậy. Lấy Trung-Dung mà nói, nhị-tam là học để biết lợi-hành; tứ khổn để biết miễn-hành; ngũ sinh tri-an-hành. C̣n biết và thành-công chỉ là một lẽ mà thôi. 

Lại nói: "Phù vi chi hiển, thành nhi bất khả yểm như thử phù? = Ôi quỷ-thần mà hiểu rơ, thử hỏi cái thành-thật ở trong con người ta làm sao mà che giấu được." (Trung-Dung, Chương XVI). [Thành thật ắt hiện-h́nh, nên nói rằng không thể che đậy được].

Lại nói: "Trí quảng đại nhi tận tinh-vi = Rất rộng lớn mà tinh-vi vô cùng". Sách Tuân-tử, Thiên Phú-Thiên nói: "Tinh-vi mà vô-h́nh".

Lại nói: "Tri vi chi hiển, khả dĩ nhập-đức hỹ = Biết cái đă rơ rệt cuả tế-vi. Như thế mới có thể nhập cơi đức được" (Trung-Dung. Chương XXXIII). Trung-Dung, Chương XXXIII và XX, nói: "Phù vi chi hiển, thành giả thiên chi đạo dă; tri vi chi hiển, thành chi giả nhân chi đạo dă = Ôi! cái đă rơ rệt cuả tế-vi chính là thành thực, là đạo cuả trời (tức là đạo cuả tự-nhiên). Biết được cái đă rơ rệt cuả tế-vi, là làm cho thành-thực tức thị đạo cuả người (tức là đạo cuả xă-hội loài người)".

Lại nói: "Đức Khổng-tử nói: Thanh-sắc chi ư dĩ hoá dân, mạt dă = Phải dùng đến  thanh và sắc để giáo-hoá người dân, th́ đó là mạt-kế (chước ngọn) vậy" (Trung-Dung. Chương XXXIII). [Nên để ư ở đây 'bản = gốc' đối với 'mạt = ngọn']. Kinh Thi chép: "Đức du như mao = Đức nhẹ như lông" (nhẹ = tế-vi).

Kinh-Giải (Chương XXVI cuả sách Lễ-Kư) nói: "Khiết tĩnh, tinh-vi, dịch-giáo dă = Sạch sẽ, yên-tĩnh, tinh-vi là dạy dỗ cuả Dịch vậy".  Khiết-tĩnh là quẻ Khôn, tinh-vi là quẻ Kiền. Nói khác đi, Kiền-nguyên khiết-tĩnh mà Khôn-nguyên tinh-vi nên mới nói là 'Dịch-giáo'.

Dịch Kiền-Tạc-Độ nói: "Khổng-tử nói: Kiền-Khôn là chủ cuả âm-dương. Dương bắt đầu nơi hợi, hiện-h́nh nơi sửu, dựng ngôi Kiền tại tây-bắc, dương tổ 'vi cứ thủy' ".

Lại nói: "Lại nói dịch-khí sinh từ dưới sinh lên". Trịnh-Huyền chú rằng: "Dịch gốc ở vô-h́nh, từ tế-vi đến hiển-trứ, nên khí từ dưới sinh lên, lấy hạ-hào làm điểm phát-xuất".

Lại nói: "Thiên-khí sau tam-vi mới hiển-trứ, sau tam-trứ mới thành thể". Trịnh-Huyền chú rằng: "Năm ngày thành một vi, 15 ngày thành một trứ. Cho nên 5 ngày hợp thành một hậu, 15 ngày hợp thành một tiết-khí". Đông-chí dương bắt đầu sinh, tích 15 ngày đến tiểu-hàn là một trứ, đến Đại-hàn là 2 trứ, đến Lập-xuân là 3 trứ. Phàm 45 ngày thành một TIẾT (tiết lớn), nên mới nói 3 trừ thành một thể. Tháng Giêng dụng-sự là quẻ Thái. Nên mới nói: "Thành thể mà giao (tế trời) vậy".

Sách Hoài-nam-tử, Thiên Tề-Tục (006, tr. 511-570) dẫn Đại-tượng quẻ Khôn nói: "Đi trên sương th́ biết có băng cứng tới, thánh-nhân thấy chung-thủy vi-ngôn".

Hậu-Hán-Thư, tiểu-truyện Lỗ-Cung nói: "Cung nghị-tấu rằng : Hiếu-chương Hoàng-đế, thâm-cứu đạo cuả cổ-nhân, giúp vi-tế cuả tam-chính, định luật, trước lệnh, chú tam-chính, tam-vi". Tiền-Thư Âm-nghiă nói: "Bảo là dương-khí bắt đầu thi-hành tạo ra muôn vật mà chưa rơ rệt, nên mới bảo là vi"

: (279, tr. 519-521)

Đại-tượng-truyện quẻ Hàm nói: "Trên núi có đầm, tượng-trưng cảm-ứng, quân-tử lấy hư-không mà tiếp-đăi người".

Sách Tế-nghiă nói: "Hiếu-tử sắp tế-lự, sự việc không thể không dự. Tỷ-thời cụ-vật, không thể không hoàn-bị, hư-tâm để quản-trị".

Thiên Tâm-thuật trong sách Quản-tử nói: "Hư-vô, vô-h́nh gọi là đạo". Lại nói: "Hư với người không gián-cách. Chỉ ḿnh thánh-nhân được hư-đạo". Chú rằng : "Hư-vô có thể quán-xuyến được nhân-h́nh, nên nói: không gián-cách". Lại nói: "Thiên-đạo hư-vô, điạ-đạo tĩnh-hư, ắt không khuất-tĩnh, ắt bất-biến". Lại nói: "Hư-vô là bắt đầu cuả muôn vật". Chú rằng: "Hữu h́nh sinh từ vô-h́nh".

Thiên Đạo-thuật trong sách Tân-thư cuả Giả-Nghị nói: "Đạo là cái sở tùng tiếp-vật. Gốc cuả nó gọi là hư. Ngọn cuả nó gọi là thuật, Hư là bảo là tinh-vi, b́nh-tố mà không thiết thi. Thuật là sở-tùng khống-chế muôn vật. Phàm mỗi mỗi cuả động-tĩnh đều là đạo".

Thiên Ngoại-trừ sách Hàn-phi-tử chép: "Trịnh trưởng-giả có nói: Ôi hư-tĩnh vô-vi, vô-kiến ". Thái-sử Công Tự-tự nói: "Hư là lẽ thường cuả Đạo".

Thiên Giải-tế sách Tuân-tử nói: "Con người làm thế nào để biết đạo? Tâm làm sao biết được tâm. Đáp: hư-nhất mà tĩnh-tâm vị thường bất tàng. Song le cái gọi là hư-tâm vị thường bất-lưỡng, song le cái gọi là nhất-tâm vị-thường bất-động. Song le cái gọi là tĩnh-nhân-sinh mà có biết, biết mà có chí, chí là tàng vậy. Song le có cái gọi là hư, không lấy cái ta tàng-hại, cái ta nhận được gọi nó là hư-tâm-sinh mà có biết, biết mà có khác, khác là đồng-thời kiêm tri-chi, đồng-thời kiêm tri-chi lưỡng. Song le có cái gọi là nhất-phu không lấy nhất-hại, nhất ấy gọi là nhất-tâm. Ngủ ắt nằm mơ, ăn trộm ắt tự hành, xử ắt mưu-mô. Cho nên tâm vị-thường bất-động. Song le có cái gọi là tĩnh, không lấy mộng kịch-liệt loạn-tri, gọi nó là tĩnh, chưa đắc-đạo mà cầu đạo, gọi là hư-nhất mà tĩnh-tri đạo-sát, tri đạo-hạnh thể-đạo vậy. Hư nhất mà tĩnh gọi là  Đại-Thanh-Minh".
 

Tính-Mệnh 性命: (279, tr. 596-598)

Văn-ngôn quẻ Kiền nói: "Kiền-đạo biến-hoá, các chính tính-mệnh, bảo-hợp thái-hoà, năi lợi trinh = Đạo Kiền biến-hoá, làm cho tính-mệnh muôn vật đều được chính đáng, giữ ǵn và hoà-hợp được khí thái-hoà cho nên lợi ở điều chính".

Thuyết-quái-truyện I/3 nói: "Cùng lư tận-tính dĩ chí ư mệnh = Xét cùng lư, bàn hết tính mà đạt đến mệnh". Ngu-Phiên chú rằng : "Kiền là tính".

Thiên Chưng-Dân trong Kinh Thi nói: "Trời sinh chưng-dân có vật, có phép-tắc, bỉnh-di cuả dân thích ư-đức". Trịnh tiên nói: "Trời sinh chúng dân, tính cuả họ có vật-tượng, tức thị ngũ-hành, nhân, nghiă, lễ, trí, tín. T́nh cuả họ có luật-lệ gọi là hỉ, nô, ai. lạc, hiếu, ố. Song le cái mà dân chấp-tŕ có đạo thường, không ai là chẳng ưa người có mỹ-đức". Chính-nghiă nói: "Nhân trải qua vật ắt có dị-văn, Nên tiên chia

tính-t́nh thành hai. Tính là ngũ-tính, t́nh là lục-t́nh. Cho ngũ-tính gốc ở ngũ-hành, lục-t́nh gốc ở lục-khí (phong, nhiệt, thấp, hoả, táo, hàn, hoặc âm, dương, phong, vũ, hối, minh). Hồng-Phạm ngũ-hành là thủy, hoả, kim, mộc, thổ. Lễ-vận nói: "Con người là tâm cuả trời đất, đầu mối cuả ngũ-hành. Nhân-tính ấy điều-khiển ngũ-hành". Chiêu-Công nguyên-niên, Tả-truyện nói: "Lục-khí là âm-dương, phong, vũ, hối, minh". Chiêu-Công nhị-thập-ngũ-niên, Tả-truyện nói: "Dân có yêu, ghét, mừng, giận, buồn, vui, sinh ra từ lục-khí". Lục-t́nh ấy điều-khiển lục-khí, ngũ-hành là ngũ-thường (nhân, nghiă, lễ, trí, tín). Họ Trịnh nơi sách Lễ-Kư cho rằng hành mộc là nhân, hành kim là nghiă, hành hoả là lễ, hành thủy là trí, hành thổ là tín. Lục-t́nh cũng có phép riêng. Trong lời chú Tả-truyện, Phục-Kiền viết: "Hiếu sinh nơi dương, ố sinh nơi âm, hỉ sinh nơi phong, nộ sinh nơi vũ, ai sinh nơi hối, và lạc sinh nơi minh". Thuyết cuả Dực-Phụng lấy lục-t́nh thông 12 luật-lă. T́nh cuả phương bắc là hiếu (háo) quản-lư Tham-lang, chi thân-tư, chủ t́nh cuả phương đông; nộ quản-lư âm-tặc tức cự-môn, chi hợi-măo, chủ nhị-âm tịnh-hành, bởi v́ vương-giả kỵ tư-măo; ố, t́nh cuả phương nam, quản-lư liêm-trinh, chi dần-ngọ; t́nh cuả phương tây là hỉ, quản-lư khoan-đại, chi tỵ-dậu, chủ nhị-dương tịnh-hành, bởi v́ vương-giả cát ngọ-dậu; t́nh cuả mé  trên là lạc, lạc hành gian-tà, chủ th́n-mùi, thuộc âm, tuất-sửu thuộc dương. Muôn vật, loại nào ứng với loại nấy". Lai nói: "Cái học cuả Kinh Thi chỉ là tính-t́nh mà thôi, ngũ-tính không hại nhau, lục-t́nh pḥ hưng-phế. Xét tính để trị-lịch, xem t́nh để nom luật". Trương-Án nói: "Tính là ngũ-hành, luật là mặt trời ". Tấn-Chước nói: "Theo họ Dực, về ngũ-tính, gan tính tĩnh, tĩnh hành nhân, can giáp-kỷ; tim tính nóng nẩy, hành lễ, can bính-tân; lá lách tính chăm-chỉ, hành tín, can mậu-quư; phổi tính vững bền, hành nghiă, can ất-canh; thận tính trí, hành kính, can đinh-nhâm".

Thiên Bản-mệnh trong sách Đại-đới-kư大戴記, cũng gọi là Đại-Đới-Lễ 大戴cuả Đới-Đức nói: "Phân nơi đạo th́ gọi là mệnh, h́nh nơi Nhất th́ gọi là tính. Hoá nơi âm-dương, tượng-h́nh mà phát-huy ra th́ gọi là sinh". Xuân-Thu Nguyên-mệnh-bao nói: "Tính cuả âm-dương lấy số 1 khởi con người, làm phó cho thiên-đạo, nên sinh một con".

Lă-Giám Quư-Đương nói: "Người trị-dục không do tham-dục, mà do tính-t́nh, là gốc cuả muôn vật, không thể dài, không thể ngắn, nhân cố-nhiên mà thành dĩ-nhiên: đó là số cuả trời đất vậy".

Bây giờ xin biện về tính-phản. Nghiêu-Thuấn là tính vậy. Kiền nguyên dụng cửu là 'nhất dĩ quán chi' vậy. Thang-Vơ làm ngược lại: 'Bất viễn phục, vô chỉ hối, nguyên cát = Chẳng xa ǵ mấy, mà đă trở lại, không đi đến chỗ hối tiếc, rất tốt' (Hào-từ sơ-cửu quẻ Phục). Nghiêu Thuấn sinh-tri an-hành (tri-hành một cách an-nhiên tự-tại) c̣n Thang-Vơ học-tri lợi-hành (hiểu biết do học-hỏi, thi-hành v́ có lợi cho ḿnh). Nói đến tri-chi (hiểu biết) và thành-công th́ cũng như nhau. Khổng-tử tính chi (đạt đạo một cách tư-nhiên do thiên-tư), c̣n Nhan-tử phản chi (đạt đạo do học tập).


Tnh-Tnh井井: (220, Tập VIII, tr. 90-91)

Mùi, đông-tỉnh. Ngọ-mùi ly-khôn hoả-điạ Tấn, ban ngày minh xuất thụ-phúc vậy. Tỉnh, vương minh thụ-phúc vậy. Mùi-ngọ khôn-ly điạ-hoả Minh-di, minh vào dưới đất, không ăn, giếng bùn không ăn v́ ở dưới thấp vậy (Tỉnh sơ-lục).

H́nh 7.22 Tượng Tnh-Tnh

Tỉnh khảm hiểm. Tư-sửu khảm-cấn thủy-sơn Kiển, hiểm ở đằng trước mặt vậy. Khảm-Khảm (Khảm lục-tam), Kiển-Kiển (Kiển lục-nhị), thông nhau. Tỉnh thông sửu-tư, cấn-khảm sơn-thủy Mông, suối trong nguồn chẩy ra, bắt đầu nuôi vật, Tỉnh dưỡng mà khôn cùng vậy. Tỉnh liệt hàn-tuyền thực = Giếng sạch suối mát, ăn được (Tỉnh cửu-ngũ).

Trong 64 quẻ, chỉ một Tỉnh Thoán là lập lại hai lần tên quẻ (Tỉnh Tỉnh). Kiền-Khôn hoàn-phương, Tỉnh vẽ tám quẻ, Tỉnh Tỉnh vẽ 8 x 8 = 64 quẻ, khắp tám phương trời. Bốn góc Kiền hoàn-văng , Khôn phương-lai , thành Tỉnh. Kiền văng chỉ biết đắc (được), chứ không biết táng (mất). Khôn tây-nam đắc (bằng), đông-bắc táng (bằng), mà  Tỉnh nơi 64 quẻ văng-lai Kiền-Khôn bất cải tỉnh, vô-táng vô-đắc, văng-lai Tỉnh-Tỉnh [Chẳng cải giếng, chẳng mất mà cũng chẳng được, đi đến giếng, ở giếng về, qua lại tấp-nập (Tỉnh Thoán)]. Tỉnh nam-bắc ly-khảm, Tỉnh dụng cấp (dùng mà múc lên được), khảm-ly đạo tế thiên-hạ (cứu giúp thiên-hạ). Đông-lân, tây-lân (láng giềng phiá đông, láng giềng phiá tây) đều nhận phúc, Tỉnh cấp mà 64 quẻ thành thời cuả Kư-tế. Hất chí diệc vị quất tỉnh (gần đến nơi cũng chưa múc được nước giếng). Bất thực hành trắc (Không uống mà ḷng trắc-ẩn). Đao thiên-hạ cùng, Tỉnh thâu (múc nước giếng lên) mà 64 quẻ thành vị-tế chung. Đó là Kiền nhị-sơ tại dưới ruộng. Bỏ qua thời vậy. Dưới quẻ Tỉnh ở tư-sửu có quẻ Khảm, quẻ Kiển, mà hào sơ quẻ Tỉnh thấp hèn. Tỉnh mùi-đông đến thẳng sửu, là quẻ điạ-sơn Khiêm. Nước giếng đông-tỉnh, trên ban cho dưới là quẻ Quyết. Mà Kiền từ trời (ngũ) quyết xuống ruộng (nhị). Quẻ Kiền hoá ra quẻ Tỉnh. Cho nên tác-giả Kinh Dịch mới cho hào sơ quẻ Tỉnh đi xuống quẻ Khiêm lao, để Tỉnh lao mà Khiêm cũng lao. Ấy là nhị-sơ cuả Tỉnh thông với thượng. Khiêm-Khiêm (Khiêm sơ-lục), Kiển-Kiển (Kiển lục-nhị), mà tam-ngũ-thượng cuả Tỉnh quyết đi xuống dưới. Khảm-Khảm (Khảm lục-tam), Quyết-Quyết (Quyết cửu-tam) đều là Kiền-Kiền (Kiền cửu-tam) mà làm thượng-hạ văng-lai, chính là tượng Tỉnh-Tỉnh vậy. Cho nên trong 64 quẻ, duy có Tỉnh Thoán mới nói Tỉnh-Tỉnh, mà các quẻ khác đại-loại như Kiền-Kiền đều phát-huy điều đó. Tỉnh-Tỉnh tận-dụng Kiền-Khôn hoàn-phương, 64 quẻ văng-lai, Kư-tế lấy Vị-tế để kết-thúc 64 quẻ, Dịch ĐẠI-THÀNH. Cho nên Tỉnh ĐẠI-THÀNH vậy.


Nhất, Trí Nhất 致一, Quán và Nhất-Quán一貫 : (279, tr. 541-558)

Với Dịch Nhất là Thái-cực, với hào Nhất là sơ. Phàm vật coi Nhất là chí-thiện bất tham. Lấy ác tham ác đă là nhị rồi. Lại cho độc-độc là chí-thành, bất-thành làm sao độc-độc được mà là ẩn. Yêu không giúp ǵ nên mới xưng là độc. Nhất mà quán nhị ắt loạn. Nên nói rằng: "Đă là vật bất-nhị được nhất-thiện ắt cử cử phục chi cùng là bất-nhị sở dĩ là tích vậy". Tượng-truyện Hằng lục-ngũ nói: "Đàn-bà chính th́ tốt. Theo Nhất mà kết-thúc". Ngu-Phiên chú rằng : "Nhất là sơ".

Hệ-Hạ I/6 nói: "Thiên-hạ chi động trinh phù nhất giả dă = Mọi hoạt-động trong thiên-hạ tự điều-chỉnh để quay về một lẽ phải vậy". Ngu-Phiên chú rằng : "Một là bảo  Kiền-nguyên là động-cơ cuả muôn vật. Tất cả đều dựa vào một dương-khí để sinh. Cho nên, mọi hoạt-động trong thiên-hạ tự điều-chỉnh để quay về một lẽ phải vậy". Lại nói: "Thiên-hạ đồng-quy nhi thù đồ. Nhất trí nhi bách lự. = Thiên-hạ cùng về mà khác đường. Một sự xẩy đến mà trăm điều suy-tư." (Hệ-Hạ V/1).  Lại nói: "Thiên-điạ nhân-uân, vạn-vật hoá thuần, nam-nữ cấu tinh, vạn-vật hoá sinh = Khí trời đất điều-hoà, th́ muôn vật đều hoá thuần-túy. Trái gái cấu-tinh, th́ muôn vật đều hoá sinh ra. (Hệ-Hạ V/2)". Dịch nói: "Tam nhân hành tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành tắc đắc kỳ hữu. = Ba người đi th́ bớt một người, một người đi th́ được thêm bạn." (Tổn lục-tam). Lời Kinh trí-nhất thay!

Tả-truyện, Tương-Công năm thứ 21: "Tang Vũ-Trọng nói: Trong sách Hạ-thư có câu: Khi tôi nghĩ tới người ấy th́ tôi chọn lấy ngay. Khi cố không nghĩ tới, tôi vẫn cứ chọn. Xin nhà vua xét kỹ người ấy". Vậy người trên luôn luôn bắt ḿnh làm điều thiện, điều mà ḿnh muốn cho dân có. Có thế mới mong có kết-quả.

Kinh Thi, Thiên Tào-phong chép: "Thư cưu tại tang, Kỳ tử thất hề, Thục-nhân quân-tử, Kỳ nghi nhất hề, Kỳ nghi nhất hề, Tâm như kết hề". Đại-Đới-Lễ dẫn bài thơ ấy rồi nói rằng: "Cái kết cuả quân-tử do nơi Nhất vậy".

Trung-Dung nói: "Đạt đạo cuả thiên-hạ gồm năm điều, mà chỉ thi-hành ba điều là: quân-thần, phụ-tử, phu-phụ. Hai điều kia là côn-đệ và bằng-hữu. Năm điều là đạt-đạo cuả thên-hạ. Nhân-trí-dũng là đạt-đức cuả thiên-hạ. Sở dĩ chỉ cần thực-hành một điều là thành".

Lại nói: "Phàm quốc-gia có cửu-kinh là: tu thân = sửa ḿnh, tôn hiền = khuyến-khích người hiền, thân thân = thân-thiện với người thân, kính đại-thần = tôn-kính các vị đại-thần, thể quần-thần = thể-tất công-lao các quan, tử thứ-dân = thương mến nhân-dân như con cái, lai bách-công = giúp đỡ các nhà công-nghệ, nhu viễn-nhân = đối đăi nhu-ḥa với các khách phương xa, hoài chư-hầu = tưởng nhớ các nước chư-hầu. Cửu-kinh của thiên-hạ quốc-gia đều điều-hành nơi số 1 cả ". (Trung Dung, Chương XX).

Lại nói: "Đạo trời đất chỉ một lời có thể diễn-tả tất cả: làm nên vật chỉ có một không hai, sinh-vật th́ khôn lường". Tuân-tử nói: "Gồm một mà không hai, sở dĩ thành tích vậy".

Mạnh-tử bảo: "Lương Tương Vương nói: Thiên-hạ ghét những ǵ nhất định. Tôi phản-đối rằng: định nơi Nhất th́ ai mà có thể hợp-nhất được? Đáp: Người không sát-nhân có thể hợp-nhất được". Triệu-Kỳ chú rằng: "Mạnh-tử bảo nhân-chính là Nhất vậy".

Lại nói: "Chương-chỉ nói: b́nh thiên-hạ chỉ có một đạo mà thôi: không tham giết người, nên mọi người đều theo về. Cho nên Văn-Vương chăm dân như người đă bị thương, Không thích sát-nhân là đức nhân tức Nhất, nên nói: chỉ người nào không sát-nhân mới hợp-nhất được".

Lễ-khí nói: "Lễ có lớn, có nhỏ, có hiển-trứ, có tế-vi. Lớn th́ không thể bớt, nhỏ th́ không thể thêm, hiển-trứ th́ không thể che giấu, tế-vi th́ không thể lớn. Cho nên Kinh Lễ 300, Khúc-Lễ 3000, đều trí nhất". Trịnh-Huyền chú rằng: "Trí chi là đến Nhất tức thành". 

Chưa hề có ai vào nhà mà không do cửa. Trịnh-Huyền chú rằng: "Ba trăm, ba ngàn đều do thành mà ra". Chính-nghiă nói: "Trí-nhất là trí-chí, Nhất là thành. Tuy nhiều đến ba ngàn, ba trăm, mà khi thực-hành chỉ cần chí-thành. Nên bảo là một. Nếu bớt lớn, thêm nhỏ, che dấu nhỏ, phóng to lớn, tất cả đều làm mất chí-thành".

Mạnh-tử bảo: "Đằng-Văn-Công v́ Thế-tử sắp đi Sở, qua Tống để gặp Mạnh-tử. Mạnh-tử giảng về tính-thiện, lời lời tất xưng Nghiêu-Thuấn. Thế-tử từ Sở trở về, gặp Mạnh-tử. Mạnh-tử nói: Thế-tử nghi ngờ lời tôi nói sao? Ôi! Đạo chỉ là một mà thôi".

Thiên Nho-Hiệu trong sách Tuân-tử nói: "Đạo xuất-phát từ Nhất. Nhất là ǵ? Nhất là chấp-thần mà làm cho vững bền. Thần là ǵ? Thần là tận-thiện, là làm cho hoà-hợp ".

Muôn vật không có ǵ khuynh-loát nó nổi, nên mới gọi là vững bền. Thần kiên-cố gọi là thánh-nhân. Kiền-tạc-độ nói: "Dịch biến mà hoá ra một". Trịnh-Huyền chú rằng: "Nhất chủ bắc-phương, khí dần dần sinh, tức là khí thái-sơ".

Lại nói: "Dịch bắt đầu nơi một".  Trịnh-Huyền chú rằng: "Dịch vốn vô-thể, khí biến thành ra một.  Nên khí sinh từ dưới sinh lên.".

Xuân-Thu Nguyên-mệnh-bao nói: "Số dương khởi từ 1 rồi thành ra 3". Lại nói: "Nguyên-niên là năm nào? Là năm thứ nhất? Là năm bắt đầu một triều vua".

Trong Kinh Thái-Huyền, Dương-tử nói: "Sinh-thần không có cái nào trước một". Chú nói: "Huyền bắt đầu nơi một. Huyền-đạo sinh thần, nên sinh-thần không thể nào trước một được".

Trong Kinh Thái-Huyền, Dương-tử nói: "Thường sơ-nhất đội thần mặc-lư linh-vũ, lấy nhất mà bắt đôi vạn-vật, cuối cùng không tắc-trắc. Bảo rằng: đới-thần mặc-thể là h́nh cuả một vậy".

Lăo-tử Đạo-đức-kinh nói: "Ít ắt được, nhiều ắt mê hoặc. Ấy là Thánh-nhân ôm một làm mô-thức cho thiên-hạ".

Lăo-tử Đạo-đức-kinh nói: "Đạo sinh nhất". Vương-Bật chú: "Một là số bắt đầu, là cùng cực cuả vật".

Lại nói: "Một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn-vật". Cao-Dụ Hoài-Nam nói: "Mộl là đạo, ba là hoà-khí. Hoặc nói là: một là nguyên-khí, sinh nhị là Kiền-Khôn; nhị sinh tam, tam sinh vạn-vật. Thiên-điạ thiết-vị, âm-dương lưu-thông, vạn-vật bèn sinh ra". Cũng có thể nói là: "Nhất là thái-nhất, nhị là âm-dương. Thái-nhất phân thành lưỡng-nghi. Nên nhất với nhị hợp thành tam. Nên nhị sinh tam. Tam hợp lại rồi sau mới sinh. Cho nên tam sinh vạn-vật".

Thuyết-văn nói: "Duy sơ-thái-thủy, đạo lập nơi Nhất, tạo-phân trời đất, hoá thành vạn-vật". Bộ thủ Bính nói: "Âm-khí sơ-khởi, dương-khí sắp khuyết. Theo nhất nhập quynh, là dương". Bộ thủ Cam nói: "Theo khẩu hàm nhất, nhất là đạo vậy".

Tam-thống-lịch nói: "Thái-cực nguyên-khí, gồm ba làm một. Hàm là nguyên bao nhất". Lại nói: "Bắt đầu từ một mà nhân ba". Cũng nói: "Tháng Một là kiền sơ-cửu, dương-khí phục dưới đất bắt đầu trổ thành nhất".  Cũng nói: "Trải qua nguyên-nhất để thống-thủy, là đạo thái-cực cuả Dịch vậy. Xuân-Thu hai điểm mắt cuả năm là chính giữa lưỡng-nghi cuả Dịch. Muà xuân, mỗi tháng biên ra : vua đổi hệ-thống tam-cực. Nơi bốn muà, tuy quên việc, cũng biên ra : tháng đổi tiết cuả tứ-tượng. Vậy nên, nguyên-thủy tượng nhất, Xuân Thu tượng nhị, tam-thống tượng tam, tứ-thời tượng tứ. Tổng-cộng là 10, thành ngũ-thể. Lấy 5 nhân với 10 được 50 là số đại-diễn, mà đạo dựa vào 1, kỳ dư 49 đem ra tùy nghi sử-dụng".

Không-tử Gia-ngữ (035), thiên Bản-mệnh-giải nói: "Phân nơi đạo th́ gọi là mệnh, phân nơi h́nh th́ gọi là tính".

Lă-lăm Luận-nhân nói: "Thả lỏng ư nơi thứ-tự cuả vô-cùng, phụng-sư tâm nơi nhớp nhơ cuả tự-nhiên. Như thế không có hại ǵ cho trời vậy. Không có hại cho trời. ắt tri-tinh, tri-tinh ắt tri-thần, tri-thần gọi là đắc-nhất. Phàm h́nh kia đắc-nhất mà sau thành. Cao-Dụ chú rằng: "Trời là thân mà Nhất là đạo. Đạo sinh vạn-vật, vạn-vật đắc-nhất mà sau thành".

Hoài-nam Nguyên-đạo nói: "Đạo một khi thiết-lập th́ vạn-vật sinh. Vậy nên, lư nhất thi-thố nơi đạt cuả bốn bể, tới bến bờ cuả trời đất". Thiên-văn Thiên th́ nói: "Đạo là quy-thủy nơi nhất, nhất mà chẳng sinh, nên phân thành âm-dương, âm-dương hiệp-hoà mà vạn-vật sinh". Thiên Tinh-thần nói: "Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn-vật". Cao-Dụ nói: "Nhất là Đạo, nhị là thần-minh, tam là hoà-khí. Hoặc bảo rằng: nhất là nguyên-khí sinh nhị là Kiền-Khôn, nhị sinh tam, tam sinh vạn-vật. Thiên-địa thiết-vị, âm-dương thông-lưu, vạn-vật bèn sinh". Lại nói: "Tâm-chí chuyên bên trong, thông-đạt bắt cặp nơi nhất tức Đạo". Toản-ngôn nói: "Nhất là gốc cuả vạn-vật, là Đạo vô-đích".

Xuân-Thu Nguyên-mệnh-bao nói: "Tính cuả âm-dương lấy nhất khởi con người, phụng-sự thiên-đạo, nên sinh một con".

Xuân-Thu Bảo-Kiền-Đồ nói: "Dương khởi nơi nhất, Thiên-đế làm Bắc-thần".

Hàn-phi-tử, Thiên Dương-quyền, nói: "Dùng Đạo Nhất để kể tên làm thủ-danh, chính vật định danh để thiên-ỷ vật-dồ, nên Thánh-nhân chấp-nhất mà tĩnh". Cũng  nói: "Đạo vô-song nên nói là nhất".

Tuân-tử, Thiên Khuyến-học nói: "Con sâu hàn-tương, không móng, không răng, gân cốt cứng cáp, trên ăn cát bụi, dưới uống hoàng-tuyền, dùng tâm-nhất. Con cua sáu càng, mà hai ngao, không phải là hang rắn, hang lươn, th́ không kư-thác, là dùng tâm-tháo. Cho nên không có chí vô-minh-minh, là không có chiêu-chiêu cuả minh, là không có dân-dân cuả sự việc, là không có công-trạng lẫy-lừng, cử-bộ trên đường cái quan thênh-thang, không thờ hai vua, là không dung mục, không năng lưỡng-thị, lưỡng-thính, mà thông đằng-xà không chân mà bay 'ngô thử ngũ-kỹ' vô-cùng hữu-hiệu". Kinh Thi nói: "Thư cưu tại tang, Kỳ tử thất hề, Thục-nhân quân-tử, Kỳ nghi nhất hề, Kỳ nghi nhất hề, Tâm như kết hề". Cho nên quân-tử kết-thúc nơi Nhất vậy.

Lại Thiên Giải-tế nói: "Nên người ham đọc sách đông lắm, nhưng Thương-Hiệt chỉ truyền cho một người. Người biết gieo mạ đông lắm, nhưng Hậu-Tắc chỉ truyền cho một người. Người thích làm việc nghiă đông lắm, nhưng Đế Thuấn chỉ truyền cho một người. Thi làm cung, Phù-Du làm tên mà ngươi Nghệ thiện-xạ. Hề-Trọng làm cỗ xe,  Thặng-Đỗ làm xe ngựa, mà Tạo-Phụ tinh về đánh xe ngựa. Tự cổ chí kim chưa từng có hai người cùng tinh-thông về một ngón nghề.".

Quản-tử (307, 308) Binh-pháp nói: "Hiểu rơ Nhất là vương. Xét đạo là Đế, thông đức là vương".

Đổng Trọng-Thư Đối-sách nói: "Xuân Thu Đại-nhất-thống là thường-kinh cuả trời đất, là thông-nghị cuả cổ-kim". Sư Cổ nói: "Nhất-thông là thống-hệ cuả vạn-vật quay về một mối vậy".

Ban-Cố Thuật Luật-lịch-chí nói: "Trọn cả nguyên-bản cuả số bắt đầu từ 1, sản-xuất ra khí. Hoàng-chung tạo kế sao nhẫn". Trương-Án nói: "Nguyên-bản cuả số khởi nơi nhất cuả sơ-cửu".

Lăo-tử Đạo-đức-kinh nói: "Thánh-nhân ôm Một mà thiên-hạ có mẫu mực". Hà Thượng-Công chú rằng: m là coi giữ. Giữ Một mà biết vạn-sự, nên năng làm mẫu mực cuả thiên-hạ". Vương-Bật chú rằng: "Nhất là cực cuả thiểu. Thức cũng như tắc vậy".

Lă-lăm Đại-lạc nói: "Đạo là chí-tinh tức tinh-vi. Nói mạnh hơn, gọi là thái-nhất, nghiă là nhất gọn lỏn. Nên nhất chế-lịnh lưỡng, là tùng-thính (theo nghe) thánh-nhân 'vứt bỏ lưỡng dùng nhất'. Là lấy cái biết t́nh cuả vạn-vật nên năng lấy nhất mà thính-chính, làm quân-thần vui, điều-hoà xa gần, làm cho dân vui, hợp tông-thân, năng lấy nhất trị-thân, miễn tai-hoạ, bảo-toàn tuổi thọ và thân-thể, năng lấy nhất trị nước, khử tà-gian, người hiền đến, thành đại-hoá, năng lấy nhất b́nh-trị thiên-hạ, hàn thử thích-nghi phong-vũ, một thời làm thánh-nhân. Cho nên biết nhất ắt sáng suả, rơ lưỡng ắt hoá điên rồ".

Quản-tử (307, 308) Nội-nghiệp nói: "Năng hoá được một vật gọi là thần; năng biến được một sự gọi là trí. Hoá mà không đổi trí, biến mà không đổi trí, chỉ có người quân-tử chấp-nhất làm được mà thôi. Chấp-nhất mà không mất khả-năng làm chuá-tể vạn-vật".

Trang-tử Thiên-điạ nói: "Thái-sơ, Hữu-vô, Vô-hữu, Vô-danh đều khởi từ Nhất. Có Nhất mà chưa có h́nh, vật được sinh, gọi là Đức (Đức cuả trời đất là sinh). Có, nhưng chưa có h́nh, đă phân nhưng chưa có trú-sở, gọi là Mệnh. Lưu-động mà sinh vật, vật thành lẽ sống, gọi là h́nh. H́nh thể bảo thần, mỗi mỗi đều có nghi-thức, gọi là tính. Tính tu phản đức, đức phục, giống như sơ.".

Thiện-tính nói: "Người thời cổ, ở giữa hỗn-mang (Thôi-Hộ nói: hỗn hỗn mang mang là thời trời đất chưa phân), cùng cuộc đời không màng danh-lợi. Thời đó, âm-dương hoà-tĩnh, qủy-thần không khuấy nhiễu, vạn-vật bất thương, quần-sinh bất-yểu, tuy biết chẳng dùng vào việc ǵ, gọi thời đó là chí-nhất, Không làm ǵ khác hơn là sống tự-nhiên".

Thiên-hạ nói: "Thánh có sở-sinh, vương có sở-thành, đều bắt nguồn từ Nhất". Chú rằng: "Làm cho vật nào cũng có rễ ôm Nhất mà thành vô-sức bên ngoài, đó chính là sinh-thành cuả thánh-nhân".

Lại nói: "Lấy gốc làm tinh, lấy vật làm thô, lấy hữu tích-vi bất-túc, điềm nhiên ở một ḿnh với thần-minh. Đạo-thuật thời cổ, thấy điều ấy, Quan-Doăn, Lăo-Đam nghe hơi gió mà làm cho nó vui, xây dựng cho bằng thường vô-hữu, chuyên chủ cho bằng thái-nhất".

Lại nói: "Chí đại vô-ngoại gọi là Đại-nhất; chí-tiểu vô-nội gọi là Tiểu-nhất". Tư-mă Bưu chú rằng: "Vô-ngoại bất khả nhất, vô-nội bất khả phân, nên gọi là Nhất vậy".

Thuyết-văn bên dưới chữ cam nói rằng: "Đẹp vậy. Tùng khẩu, hàm Nhất. Nhất là Đạo".

Lăo-tử Đạo-đức-kinh (Chương XXXIX) nói: "Tích chi đắc nhất giả, thiên đắc nhất dĩ thanh, điạ đắc nhất dĩ ninh, thần đắc nhất dĩ linh, cốc đắc nhất dĩ doanh, vạn-vật đắc nhất dĩ sinh, hầu vương đắc nhất dĩ vi thiên-hạ trinh, kỳ chí chi. = Xưa được Một là: Trời được Một mới trong, đất được Một mới yên, thần được Một mới thiêng, hang được Một mới đầy, muôn vật được Một mới sinh ra, Vương-hầu được Một mới khiến thiên-hạ trinh chính, đều do được Một mà tới đấy".

Xuân-Thu Nguyên-mệnh-bao nói: "Thường-nhất không đổi được ngọc-hành-chính".

Văn-tử nói: "Nhất là đạo vô-đích (chuyên-chủ)".  Nhất là gốc cuả đạo, nên bảo là vô-đích.

Luận-ngữ nói: "Quân-tử chi ư thiên-hạ dă, vô đích dă, vô mạc dă, nghiă chi dữ tỷ = Người quân-tử đối với việc đời, không chuyên-chủ làm theo, không nhất-định không làm, chỉ làm đúng theo việc nghiă." (Luận-Ngữ IV/10).

Thái-Công Âm-phù-kinh (310) nói: "Đạo là mối đầu cuả trời đất với cương-kỷ là Nhất. Cũng nói: Đạo là suối nguồn cuả thần-minh mà hoá-đoan là Nhất".

Hạt-Quán-tử (309) nói: "Có nhất là có khí". Lục-Điền chú rằng: "Nhất là bắt đầu cuả nguyên-khí".

Trong sách Lục-thao, Vũ-Vương hỏi Thái-Công rằng: "Binh-đạo như thế nào?". Thái-Công đáp: "Phàm binh-đạo không vượt ra ngoài Nhất. Nhất là đi qua, đi lại một ḿnh." Hoàng-đế nói: "Nhất là lần lần tiến lên đạo, tùy cơ nơi thần, hiển-trứ nơi thế, thành-công nơi vua. Cho nên thánh-vương hiệu-binh là hung-khi, chỉ dùng một cách bất đắc dĩ mà thôi".

Sách Dịch-lâm Bổ-di, dẫn Kinh-Pḥng quái biến: một hào động ắt biến, loạn-động ắt chẳng biến. Bổ-di căn-cứ vào Hoả-Châu-Lâm, thời đó chưa thất-truyền. Dịch nói: "Tam nhân hành tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành tắc đắc kỳ hữu = Ba người đi, ắt bớt một người, một người đi ắt thêm bạn (Tổn lục-tam). Dịch nói: "Ngôn trí nhất dă = Lời nói đi đến chỗ thuần nhất vậy" (Hệ-Hạ V/12). Lại nói: "Thiên-hạ chi động trinh phù nhất giả dă = Mọi hoạt-động trong thiên-hạ tự-chỉnh để quay về một lẽ phải vậy" (Hệ-Hạ I/6). Ngu-Phiên chú rằng: "Nhất chính là Kiền-nguyên". Cho nên bói Dịch trong Tả-truyện chỉ biến một hào mà thôi. Mai-Hoa Dịch-số cuả Thiệu-tử cũng giống hệt. 

Ly-Tao-Kinh nói: "Tích-lũy phấn cuả cây bệ-lệ (đương-quy) rơi xuống". Vương Dật chú rằng: "Quán là tích-lũy. Tả-truyện, Tuyên-Công năm thứ 5, Trung-hành Hoàn-tử nói: Khiến cho dân bệnh tật để vét cho đầy …". Hàn-phi-tử nói: "Đó là thửa quán sắp đầy. Quán luôn luôn có nghiă là tích-tụ lại, đạo tích vào nơi Nhất". Đức Khổng-tử gọi thầy Tăng-Sâm lại và nói rằng: "Sâm hồ! Ngô đạo nhất dĩ quán chi = Sâm ơi! Đạo cuả ta chỉ có một lẽ để thông-suốt tất cả" (Luận-Ngữ IV/15).

'Đạo Nhất-Quán' đến đứa trẻ con đầu c̣n để chỏm cũng biết mà ông già lụ khụ thực-hành suốt cả một đời cũng không nên. Tống-nho bảo rằng: chỉ có Nhan-tử, Tăng-tử và Tử-Cống được nghe 'Đạo Nhất-Quán' mà thôi. Điều đó không đúng. 'Đạo cuả ta chỉ có một lẽ để thông-suốt tất cả' có nghiă là từ gốc đạt đến ngọn, nguyên thủy cập trung, chính là cái Lăo-tử bảo là: 'Rất dễ biết, rất dễ làm, không thể biết, không thể làm'. Ḷng trung tức Nhất, ḷng thứ tức 'Nhất dĩ quán chi'. Vi-Chiêu chú rằng: "Chu-ngữ nói: Ư nguyên-soái năng trung gọi là 'tuần-kỷ chi ư = theo sát ư ḿnh', thứ mà năng thi-hành được là trung.

Luận-Ngữ nói: "Sâm ơi! Đạo cuả ta chỉ có một lẽ để thông-suốt tất cả". Tăng-tử nói: "Vâng". Khổng-tử đi ra, học-tṛ hỏi Tăng-tử rằng: "Thầy nói như thế là nghiă ǵ?". Tăng-tử đáp: "Đạo cuả Thầy chỉ có trung-thứ mà thôi vậy". [Lấy trung mà hành thứ gọi là Nhất-Quán.] Tử-Cống hỏi rằng: "Có một lời nói nào mà có thể thực-hành trọn đời không?" Đức Khổng-tử nói rằng: "Chỉ có một điều thứ! Việc ǵ ḿnh không muốn, chớ đem làm cho người khác" (Luận-Ngữ XV/23). Lấy đạo trung-thứ mà thực-hành suốt đời, lấy đạo khế-củ mà b́nh-trị thiên-hạ, chính là 'Nhất dĩ quán chi' vậy. Đại-học nói: "B́nh thiên-hạ mà nói rằng: minh minh đức". Trung-Dung nói: "Chí-thành, tận-tính để mà tán-dương hoá-dục đều là 'Nhất dĩ quán chi' cả".

Trung-Dung (Chương XIII) nói: "Giữ đươc ḷng trung và thứ, tức đạo không xa ḿnh bao nhiêu. Những ǵ ḿnh không muốn người ta làm cho ḿnh, th́ ḿnh chớ nên làm cho người khác. Đạo người quân-tử có bốn điều cốt-yếu mà Khâu (tên húy đức Khổng-tử) này chưa làm tṛn điều nào. Đạo làm con thờ cha mẹ, ta chưa làm được. Đạo làm tôi thờ vua, ta cũng làm chưa được. Đối với anh, ta chưa tṛn bổn-phận làm em. Đối với bầu-bạn, ta chưa giúp đỡ trước được ai cả".

Đại-Học nói: "Điều ǵ ta ghét nơi cấp trên, chớ đem thi-hành cho cấp dưới, điều ǵ ta ghét nơi cấp dưới, chớ đem thi-hành để phụng-sự cấp trên, điều ǵ ta ghét ở đằng trước, chớ đem thi-hành mà giúp đằng sau, điều ǵ ta ghét ở đằng sau, chớ đem thi-hành mà giúp đằng trước, điều ǵ ta ghét ở bên trái, chớ đem thi-hành cho bên phải. điều ǵ ta ghét ở bên phải, chớ đem thi-hành cho bên trái, đó chính là đạo khế-củ vậy". Tuân-tử nói: "Cái ê-ke 5 tấc có thể đo tất cả các h́nh vuông trong thiên-hạ".

 

  

 

 

Xem tiếp Kỳ 89

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com