www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 86)

 

Dịch Vi-Ngôn Đại-Nghĩa

 
易微言大義

 

Phần nhiều các từ và ngữ trong mục này được dẫn từ sách Chu Dịch Thuật cuả Huệ-Đống (279, tr. 489-627).

  Nguyên và Thể Nguyên: (279, tr. 489-496)

Lời Thoán quẻ Kiền nói: "Kiền, Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh". Nguyên là thủy, là bắt đầu. Kiền sơ là gốc cuả Đạo, nên Khôn Văn-ngôn nói: "Sáu hào phát-huy", bàng-thông với Khôn, nên 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', sáu hào đều chính mới thành Kư-tế định. Thoán-truyện nói: "Đại tai Kiền nguyên, vạn-vật thủy, năi thống thiên = Lớn thay Kiên-nguyên, đầu mối cuả muôn vật đều nhờ đó mà sinh ra, nên thống-thuộc cả về trời". Tư là thủ-thông cỗi rễ. Số đại-diễn là 50, chỉ dùng 49, thừa 1 là nguyên, là cực. Nên 64 quẻ, 384 hào, 11520 sách, đều thủ-thủy nơi Kiền, bởi v́ muôn vật đều do trời sinh ra. Lời Thoán quẻ Khôn lại nói: "Chí tai Khôn nguyên, vạn-vật tư sinh, năi thuận thừa thiên = Đạo Khôn lớn vậy thay, có đức nguyên, muôn vật nhờ đó mà sống, nên thuận theo trời". Văn-ngôn quẻ Kiền nói: "Nguyên giả thiện chi trưởng dă = Nguyên là trùm mọi điều thiện". Bắt đầu bằng sinh con nên mới nói: "trùm mọi điều thiện". Ngoại-truyên nói: "Chấn lôi là trưởng, nên mới nói là nguyên".

Thiên Triệu-Cáo trong Kinh Thư nói: "Chỉ có Vương-vị là ở đức-nguyên".

Công-Dưong chép: "Nguyên-niên. Xuân-Vương chính-nguyệt là ǵ ? Là năm bắt đầu một triều vua." Hà-Hưu chú rằng: "Biến nhất thành nguyên. Nguyên là khí vậy. Lấy vô-h́nh để khởi hữu-h́nh, để phân tạo-khởi thiên-điạ, tức thị lúc thiên-điạ bắt đầu". Sớ nói: "Xuân Thu bảo rằng: nguyên là đoan (mở đầu)." Khí-tuyền chú rằng: "Nguyên là bắt đầu cuả khí. Như nước có suối, suối là nguồn vô-h́nh để khởi hữu-h́nh, để phân-biệt cái không thể thấy được, cái không thể nghe được". Tống-Quân nói: "Vô-h́nh để khởi tại thiên thành tượng, hữu-h́nh để phân tại điạ thành h́nh". Sớ lại nói: "Xuân Thu nói rằng: Vương mà không thưọng-phụng thiên-văn để lập vương-hiệu, ắt đạo-thuật vô-nguyên. Nên trước phô bầy xuân ra, sau nói vua, trời mà không thâm-chính nguyên, th́ không thể hoá được. Nên bắt đầu bằng nguyên, sau mới phô bầy xuân ra. Ấy là để suy ra: nguyên ở trên xuân, xuân ở trên vương vậy". [Văn-Tuyển chú-dẫn Nguyên-Mệnh-Bao rằng: "Nguyên-niên là ǵ? Nguyên nên là nhất. Hỏi : nghiă cuả nguyên là ǵ ? Đáp : là Vua, năm thứ nhất"].

Tại sao Công-Dương không nói là tức-vị. Hà-Hưu chú rằng: "Chính-trị cuả một quốc-gia không ǵ lớn bằng chính-thủy. Cho nên Xuân Thu lấy nguyên-khí mà củ-chính-thiên-đoan, lấy thiên-đoan mà củ-chỉnh vương-chính, lấy vương-chính mà củ-chỉnh chư-hầu tức-vị, lấy chư-hầu tức-vị mà củ-chỉnh b́nh-trị biên-giới. Chư-hầu mà không thượng-phụng vương-chính, ắt không được tức-vị. Nên trước nói chính-nguyệt, sau mới nói tức-vị. Chính-trị mà không do vương đề-xướng, không c̣n là chính-trị nữa. Nên trước nói 'vương', sau mới nói 'chính-nguyệt'. Vương mà không thừa-thiên chế-hiệu, ắt vô-pháp-tắc. Nên trước nói 'xuân', sau mới nói 'vương'. Trời không thâm-chính, ắt thiên-nguyên không hoá được. Nên trước nói 'nguyên' sau mới 'vương'. Năm chữ ấy ('nguyên', 'niên', 'xuân', 'vương', 'chính-nguyệt') phải thấy thanh-thể cùng một lúc. Thiên-nhân đại-bản, vạn-vật liên-hệ, không thể nào không quan-sát". Sớ nói: "Xuân nguyên-niên là thiên-bản, vương chính nguyệt là công tức-vị, là gốc gác con người".

Lă-thị Xuân Thu (034), Chương Danh-loại nói: "Hoàng-Đế nói rằng: Đại-quy-mô, nhân-danh oai trời lẫn nguyên-đồng-khí, nên nói là : đồng-khí hiền hơn đồng-nghiă, đồng-nghiă hiền hơn đồng-lực, đồng-lực hiền hơn đồng-cư, đồng-cư hiền hơn đồng-danh. Đế là đồng-khí tức đồng-nguyên-khí. Vương là đồng-nghiă tức đồng-nhân-nghiă. Bá là đồng-lực tức đồng-vũ lực. Cần là đồng-cư (cùng sống trên đời), ắt là mỏng manh. Chết là đồng-danh, đồng-danh ắt thô-ác vậy. Trí thô-ác, cái giống nhau thô-ác, trí tinh-vi, cái giống nhau tinh-vi. Nên khi phát-ư không thể không tinh-vi. Ôi thôi ! Ôi tinh-vi cuả Ngũ-đế, Tam-vương sở dĩ thành vậy".

Chương Danh-loại này cũng nói: "Nguyên là bắt đầu cuả cát". Điều này cũng tương-tự 'Cơ là cái mầm vi-ti cuả động, là cái thấy xa cuả cát' hay như 'Tri cơ giả kỳ thần hồ = Biết cái điềm trước là thần-t́nh ru ? ' (Hệ-Hạ V/11). Dịch Thông-Quái-Nghiệm (237/5.) bảo : "Tiên cuả Thiên-hoàng hợp nguyên với Kiền-Diệu".

Trang-tử Nam-Hoa-Kinh (306, tr.359-361 ; 307), Thiên 'Đại-Tông-Sư' nói: "Phục-Hy đắc chi  dĩ tập khí mẫu = Phục-Hy được nó mà đoạt cỗi rễ cuả nguyên-khí". Tư-mă Bưu nói: "Tập là nhập. Khí-mẫu là mẹ đẻ cuả nguyên-khí". Thôi Soạn nói: "Lấy gốc cuả nguyên-khí".

Thông-điển Ngụy-thị Mâu-tập-nghị nói: "Nguyên là nhất, là thủ, là sơ cuả khí. Lấy Diễn-Dịch cuả Chu-Công, Văn-vương  mà bao trùm tứ-đức. Trọng-Ni tác Xuân Thu để thống-nhất tam-chính, tức Thiên-chính, Điạ-chính và Nhân-chính".

Xuân Thu Mệnh-Lịch Tự nói: "Nguyên-khí chính, ắt tám quẻ cuả trời đất chăm chăm"

Nguyên-Mệnh-Bao nói: "Thủy khởi đầu ngũ-hành. Nguyên-khí sở dĩ thấm nhuần".

Thuyết-Đề-Từ nói: "Nguyên-thanh-khí để làm trời hỗn-độn, vô-h́nh-thể". Tống-Quân chú rằng: "Nói sơ cuả nguyên-khí là như thế. Hỗn-độn là chưa phân. Nói Khí nơi Dịch là Nguyên, nơi Lăo là Đạo, nghiă không khác nhau mấy". Trong Thuyết-Văn, dưới chữ vô chua: Kỳ-tự chữ vô thông với chữ nguyên". Kỳ-tự ám-chỉ sách Cổ-văn Kỳ-tự do Vệ-Hoằng soạn.

Lăo-tử Đạo-Đức-Kinh (310) nói: "Đạo có thể nói được không phải là đạo thường". Hà Thượng-Công chú rằng: "Ôi! Đạo là chí-lư cuả nhất-nguyên, là Đạo có kinh-thuật chính-giáo, có đạo trường-sinh cuả tự-nhiên. Thường-đạo lấy vô làm dưỡng-thần vô-sự, an-dân hàm-quang, tàng-diệu, giảm-tích, nặc-đoan, không thể xưng là đạo được".

Trong Xuân Thu Phiền-Lộ (280), Đổng-tử tức Đổng Trọng-Thư nói: "Duy Thánh-nhân năng quy-thuộc vạn-vật vào nhất rồi trói buộc vào nguyên. Nên không bắt kịp gốc theo lại mà lại theo nó, không toại-công được, lấy Xuân Thu biến nhất gọi là nguyên (khởi đầu), giống như nguyên (gốc), nghiă tùy thiên-điạ chung-thủy (Hệ-Thượng nói nguyên là : thủy phản chung. Nên con người duy có chung-thủy mà sinh-tử tất ứng biến cuả bốn muà (Nguyên-thủy phản chung cố tri tử-sinh chi thuyết). Nên chi nguyên làm gốc cuả vạn-vật, nhờ đó mà nguyên cuả con người mới có".

Lễ-thống nói: "Trời đất là sở-sinh cuả nguyên-khí, là tổ cuả Vạn-vật". Truyện cuả Ban-Cố trong Hậu-Hán-Thư (309) chú rằng: "Nguyên tức Thái-cực. Thái-cực sinh lưỡng-nghi, cho nên nói rằng : trời đất là cái mà nguyên-khí sinh ra".

Tam-Thống-Lịch nói: "Thái-cực là nguyên-khí gồm ba làm một, cực là trung vậy, nguyên là thủy vậy". Lại nói: "Âm-dương hợp-đức, khí tụ họp lại nơi tư mà hoá-sinh vạn-vật". Lại nói: "Nguyên-điển lịch thủy là nguyên-truyền, là sinh-trưởng cuả nguyên-thiện, cộng-dưỡng tam-đức thành thiện". Mạnh-Khang chú rằng: "Bảo là vi-khí cuả Tam-thống. Đảm-đương thi-dục vạn-vật, nên gọi là đức". Lại nói: "Là sinh-trưởng cuả nguyên-thể. Hợp tam-thể mà làm thành gốc, nên bảo là khởi đầu bằng ba tháng xuân, mỗi tháng viết tam-thống cuả Vương-nguyên. Tam-thống hợp thành một nguyên. Nên nhân nguyên mà lập ra phép cửu-tam". Lại nói: "Trải qua nguyên-nhất để thống-thủy đầu mối thái-cực cuả Dịch".

Hà-Hưu nơi sách Công-Dương, Thành-Công năm thứ tám, chú rằng: "Vương là hiệu. Đức hợp-nguyên xưng là Hoàng". Đức Khổng-tử nói rằng: "Hoàng tượng nguyên, tiêu-dao thuật vô-văn-tự đức-minh thủy đức-hợp, trời xưng Đế, Hà-Lạc thụ-thụy có thể phóng nhân-nghiă, cái nào hợp th́ xưng là Vương, phù-thụy ứng thiên-hạ quy-văng". Sớ nói: "Bảo nguyên-khí là tổng-xưng cuả tam-khí". [Tam-khí là thiên-điạ-nhân. Tam-Thống-Lịch nói : nguyên-khí thái-cực, ngậm ba làm một, tức dậu-tuất-hợi]. Cho nên đức cuả chúng hợp với nhau và được gọi chung là hoàng. Hoàng là tên gọi cuả lớn, đẹp. Khổng-tử nói: "Chí-minh-thụy đều là thuyết-văn cuả Xuân Thu". Tống-Quân chú rằng: "Nói đến đức cuả Hoàng là tượng hợp-nguyên". Tiêu-dao do cần, cần-hành đức-thuật chưa có giáo của văn-tự nên cho đức thịnh-minh là thụy. Trời là nhi-nghi phân-tán để sau xưng là Tử-trọng. Vậy nên đức tương-hợp gọi là Đế. Đế đồng-âm với đế (xét kỹ). Bảo là thẩm-sát như thiên. Đương thời cuả ngươi, 'Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư', có thể tiếp-nhận mà thi-hành rồi ban-bố cho thiên-hạ. Nên nói là : Hà-Lạc thụ-thụy, có thể giải-phóng nhị-nghi đă phân mà hội-nhập vào đời sống. Hành-động cuả con người lấy chính-trực tức trung-hành làm gốc. Hành mà hợp với nhân-nghiă gọi là vương-hạnh hợp nhân-đạo là phù-thụy, ứng với cái thiên-hạ gọi là quy-văng. Ấy là lấy chữ Vương thông với tam-tài để được nghiă quy-văng.

Bạch-Hổ-Thông (231) nói: "Hoàng là vua, là đẹp, là lớn, là đại-xưng cuả tổng mỹ, là thời-chất, nên tóm cả mấy nghiă. Niên-hiệu là hoàng, nhập hoàng, hoàng không sai vạy. Dù phiền nhất-phu, nhất-phụ, nhất-sĩ, để làm khó nhọc thiên-hạ cũng không làm, đó chính là hoàng vậy. Không phiền-nhiễu thất-phu, thất-phụ, nên là hoàng-hư, vô-liêu-khuyếch, thông-linh với trời đất".

Lại nói: "Đức hợp với trời đất là xưng-đế, hợp với nhân-nghiă là xưng-vương, đặc-biệt ưu-liệt". Lễ-kư, phép đặt tên hèm nói: "Đức tượng trời đất xưng-đế. Cái mà nhân-nghiă sinh ra, xưng là vua. Đế là trời hiệu, vương là danh-xưng cuả ngũ-hành".

Dịch Kiền-Tạc-Độ (237/1.) nói: "Dịch một nguyên lấy làm nguyên-kỷ". Trịnh Khang-thành chú rằng: "Vạn-vật lấy Nguyên cuả trời đất làm cương-kỷ".

Hà-Đồ nói: "Nguyên-khí mở mang, dương-khí thành trời". Hậu-Hán-Thư (311), Phương-thuật-truyện Tự nói: "Ḍng này lại có Phong-giác, Độn-giáp, Thất-chính, Nguyên-khí-chú. Nguyên-khí là khai-triển các sách về âm-dương"

Bây giờ xin bàn đến Thể-Nguyên. Văn-ngôn quẻ Kiền, Tiết I, nói: "Nguyên là trùm mọi điều thiện". Tiết II nói: "Người quân-tử thể-hiện điều nhân để làm cho con người trở nên lớn mạnh". Kiền là thiện, bắt đầu sinh-sôi nơi tư, nên bảo là 'bao trùm mọi điều thiện'. Ngoại-truyện nói: "Chấn là sấm sét, là lớn mạnh", nên bảo là 'Dịch có tam-tài', nên mới cử-lệ 'quân-tử sơ-cửu nhân'. Nguyên là lớn mạnh cuả thể. Người quân-tử thể-hiện điều nhân, nên làm cho con người trở nên lớn mạnh. Lại nói: "Trong Đạo Kiền mà biết dùng hào số 9 (mạnh lớn mà biết dùng cách biến-hoá) th́ b́nh-trị được thiên-hạ" (Kiền Văn-ngôn 15). Thế mới biết rằng : chính-nguyên để thành-hoá, nên thiên-hạ mới b́nh-trị. Sớ nói: "Xuân Thu Nguyên-Mệnh-Bao nói : Trời không thâm-chính, nguyên cuả nó không thành-hoá được. Số 9 có nghiă là biến-hoá. Lấy 'Kiền nguyên dụng cửu', sáu hào đều chính, bậc vương-giả thể-hiện nguyên để dựng cực, mà quân-thần trên dưới, ai ai cũng được ngôi, nên thiên-hạ mới b́nh-trị vậy".

Lại nói: "Như con rồng bay trên trời, ngôi nơi thiên-đức". Mới hay rằng : thể-hiện nguyên cư chính nên ngôi mới ngự nơi thiên-đức. Lại nói: "Trong Đạo Kiền mà biết dùng hào số 9, là thấy được phép trời" (Kiền Văn-ngôn 22). Đó là sáu hào đều chính, là phép trời vậy. Nơi loài người, ắt làm vương-độ, Dịch thuyết Dịch, sáu ngôi chính, vương-độ thấy vậy.

Kinh Thư nói: "Duy ngôi vua tại đức-nguyên, tiểu-dân bèn duy-h́nh, dùng việt-vương hiển cuả thiên-hạ".

QUỐC-NGỮ :: Tấn-ngữ : Trác-Công nói với các Đại-phu rằng: "Hoặc giả con người có nguyên-quân, sắp bẩm mệnh. Nếu bẩm mà vứt bỏ thiện không bẩm, gọi là đốt thóc luá. Hai ba người ra lệnh bảo không theo. Nên cầu nguyên-quân mà phỏng-cầu. Trơ trọi mà không dám nguyên-phế. Ai là người oán-nguyên để ngược-phụng mà khống-chế hai ba người. Nếu muốn phụng-nguyên để cứu vớt đại-nghiă, ngày hôm nay nếu muốn bạo-ngược mà xa dời trăm họ, phản-dịch dân thường ngay hôm nay". 

Tâm, Dưỡng-tâm, Nhân-tâm và Đạo-tâm : (279, tr. 562-564, 626)

Thoán-truyện quẻ Phục nói: "Phục kỳ kiến thiên-điạ chi tâm hồ = Xem quẻ Phục th́ thấy ḷng cuả trời đất vậy ôi". Thầy Tŕnh-tử bàn rằng : "Dưới những hào âm, một hào dương lại sinh ra; cái ḷng cuả trời đất nẩy sinh ra muôn vật, gần như tắt nghỉ, mà đến đây lại hiện ra, như ở con người tĩnh lắm rồi động, ác lắm rồi lành, ấy là cái mối bản-tâm đă nẩy ra mà lại trông thấy vậy". Trong Kích-Nhưỡng Tập, Thầy Thiệu-tử có bài thơ:
 

冬至子之半。             Đông-chí tư chi bán,            Đông-chí tư nửa vời,

天心无改移。             Thiên-tâm vô cải di.            Thiên-tâm chẳng đổi dời.

ㄧ陽初動處。             Nhất dương sơ-động xứ,    Khí dương vừa chớm động,

萬物未生時。             Vạn-vật vị sinh th́.             Muôn vật chửa sinh sôi.

玄酒味方淡。             Huyền-tửu vị phương đạm,   Rượu ngon mùi c̣n nhạt,

太音聲正希。             Thái-âm thinh chính hy.       Tiếng lớn thinh hiếm hoi.

此言如不信。             Thử ngôn như bất tín,          Bằng không tin lời ấy,

更請問庖犧。             Cánh thỉnh vấn Bào-Hy !      Hỏi Phục-Hy đi thôi !

 

Tuân-Sảng chú rằng: "Phục là quẻ cuả đông-chí. Dương khởi sơ-cửu là âm cuả trời đất. Muôn vật khơi mào cát hung. Nên nói là thấy tâm cuả trời đất".

Thuyết-quái-truyện nói: "Khảm vi cức tâm = Khảm là ḷng gấp vội".

Kiền-tạc-độ nói: "Dịch kỷ thiên-tâm = Đạo Dịch cương-kỷ thiên-tâm".

Tham-Đồng-Khế nói: "Thiên-phù hữu tiến-thoái. Khuất thân dĩ ứng th́. Cố Dịch thống thiên-tâm. Phục quái kiến thủy-manh = Thiên-phù có tiến-lui, co-ruỗi để ứng với thời. Nên Dịch thống-lĩnh thiên-tâm. Quẻ Phục thấy bắt đầu manh-nha".

Kinh Thi, thiên Tang-Nhu nói: "Người quân-tử giữ vững ḷng, không đua tranh".

Trịnh-Huyền tiên rằng: "Quân-tử là chư-hầu và Khanh, Đại-phu. Sự giữ vững ḷng cuả họ không cứ ở nơi thiện mà c̣n thích dùng sức để tranh đua nữa". Trong Xuân-Thu-truyện, Sư Khoáng nói: "Thần không dùng tâm cạnh tranh mà dùng sức ganh đua ".

Sách Đại-Học nói: "Muốn tu-thân, trước tiên phải chính-tâm".

Sách Mạnh-tử, Thiên Ly-Lâu Thượng, Chương 20 nói: "Duy Đại-nhân vi năng cách quân-tâm chi phi. Quân nhân mạc bất-nhân, quân nghiă mạc bất-nghiă ; quân chính mạc bất-chính ; nhất chính quân nhi quốc định hỹ. = Chỉ có người có đức lớn mới dùng được thủ-pháp cảm-hoá mà cải-chính các sai lầm cuả quốc-quân ; đó là một công việc khẩn-yếu. Nhân giảng nhân-đức cho quốc-quân, cấp dưới không một ai là chẳng giảng nhân-đức ; quốc-quân giữ nghiă-lư, cấp dưới không một ai là chẳng không giữ nghiă-lư ; quốc-quân thi-hành chính-đạo, cấp dưới không một ai là chẳng không thi-hành chính-đạo. Sở dĩ chỉ cần củ-chính tâm-điạ cuả quốc-quân, toàn-quốc an-định theo".

Sách Mạnh-tử, Chương Tận-tâm, Chương-chỉ, Triệu-Kỳ nói: "Người tận-tâm là người có ḷng tạo ra tinh-khí, chủ tư-lự, có thề bắt chước theo phép trời một cách dễ-dàng. Trời chấp-tŕ cương-duy để chính 28 xá, bằng Bắc-thần vậy".

Luận-ngữ nói: "Bắc-thần tức sao Bắc-đẩu ở chỗ cuả nó mà các sao đều chầu về. Tâm con người là Bắc-thần vậy. Nếu biết tồn-tâm, dưỡng-tính, ắt có thể phụng-sự trời đất được".

Trong Đối-Sách, Đổng Trọng-Thư nói: "Bậc nhân-quân chính-tâm để chính triều-đ́nh, chính triều-đ́nh để chính bách-quan, chính bách-quan để chính vạn-dân, chính vạn-dân để chính bốn phương, bốn phương xa gần đă chính rồi, không một ai dám xa dời chính-đạo để vương tà-khí vào thân ḿnh".

Thiên Biện-Vật trong sách Thuyết-Uyển nói : "Dịch bảo : Ngửng lên để xem thiên-văn, cúi xuống để xét điạ-lư, cho nên biết duyên-cớ cuả tối sáng (Hệ-Thượng IV/2). Phàm thiên-văn, điạ-lư, nhân-t́nh đều bắt chước và cất giữ nơi tâm, ngơ hầu làm cung-phủ cho thánh-trí".

Thiên Vấn-thần trong sách Pháp-Ngôn (281) cuả Dương-Hùng nói: "Hoặc vấn thần. Viết : Tâm thỉnh vấn chi.  Viết : Tiềm thiên nhi thiên tiềm, tiềm điạ nhi điạ tiềm. Thiên-điạ, thần-minh nhi bất-trắc giả dă, tâm chi tiềm dă. Do tương trắc chi. Huống vu nhân hồ, huống vu sự-luân hồ. = Hoặc giả hỏi về thần. Đáp : Xin hỏi về tâm. Tiềm-ẩn trong trời (Kiền-nguyên) mà trời tiềm-ẩn ; tiềm-ẩn trong đất (Khôn-nguyên) mà đất tiềm-ẩn. Trời đất thần minh bất-trắc là tâm tiềm-ẩn, do sẽ thăm ḍ, huống chi là con người, huống chi là sự-luân". Tiềm-tâm tức thần. Trời đất thần-minh mà bất trắc, tiềm thiên mà thiên tiềm, tiềm điạ mà điạ tiềm, là hợp-đức với thiên-điạ. Cho nên mới nói : do sẽ thăm ḍ, con người và sự luân không đủ để đề cập. Phục-Hy, Văn-Vương, Khổng-tử đều là người.

Trang-tử Nam-Hoa-Kinh, Tạp-thiên Canh-tang-sở nói: "Không thể nhốt vạn-ác vào linh-đài". Tư-mă Bưu chú rằng: "Tâm là linh-đài cuả thần-linh".  

Bây giờ nói về Dưỡng-tâm. Sách Đại-Học nói: "Muốn chính-tâm trước nhất phải thành-ư". Nên Tuân-tử mới nói: "Dưỡng-tâm không ǵ tốt đẹp bằng tâm thành". Sách Đại-học thích nghiă thành-ư mà quy về  thận-độc. Cho nên Tuân-tử  nói: "Bất-thành ắt bất-độc, bất-độc ắt bất-h́nh. Điều đó Đại-học bảo là thành ở trong, mà h́nh ở ngoài. Trung-dung ắt là nghiă cuả h́nh. Sở-kiến và sở-ngôn cuả Tuân-tử chính là sở-truyền cuả thất-thập-tử (70 đệ-tử cuả Đức Khổng-tử), tách biệt với chỉ-thú cuả Tống-Nho". Mạnh-tử nói về tồn-tâm nên mới nói : dưỡng-tâm không ǵ tốt đẹp bằng quả-dục. Tuân-tử bàn về thận-độc, nên mới nói : dưỡng-tâm không ǵ tốt đẹp bằng tâm thành.  Hoặc giả căn-cứ vào Mạnh-tử để bác các sai-lầm cuả Tuân-tử, chính là bác Đại-học vậy.

 

Xem tiếp Kỳ 88

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com