www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 84)

 

Dịch Tu-Từ

 

Khôn vi điạ: (Chu Dịch Chỉ, 220, Tập VIII, tr. 287-292)

Ta đă biết khôn vuông chủ các quẻ ở bốn góc dần-thân-tỵ-hợi lập phương. Khôn thổ, ngôi toạ cung thân. Thân-dần-tỵ-hợi là bốn thế đất cuả khôn. 'Điạ-thế Khôn' (Đại-tượng quẻ Khôn). Khôn xuyên , khôn là lẽ đất, là xuyên thủy-đạo xuyên trùng-xuyên là  , Cửu-châu, khôn điạ-thế đều là núi cao, sông cả, mà khôn thổ.

 

H́nh 7.18 Cửu-châu Phân-dă Thời Nhà Hạ

 

Chú-thích: Ṿng trong cùng chứa số thứ-tự cuả nhị-thập-tú (Bảng 7.7), ṿng thứ nh́ là Cửu-châu thời Nhà Hạ, c̣n ṿng thứ ba là tên chữ Nho cuả thập-nhị-quốc thời Đông-chu liệt-quốc, kèm theo tên Việt-ngữ, c̣n ṿng ngoài bià là 12 cung Điạ-bàn. Phương-hướng bản đồ này theo thể-lệ hiện-hành nghiă là: Bắc ở trên, nam ở dưới, đông bên phải và tây bên trái.

(01) Giác-mộc-giao 角木蛟     (02) Cang-kim-long 亢金龍      (03) Đê-thổ-lạc 氐土  

(04) Pḥng-nhật-thố 房日兔  (05) Tâm-nguyệt-hồ 心月狐     (06) Vỹ-hoả-hổ 尾火虎

(07) -thủy-báo箕水豹       (08) Đẩu-mộc-giải 斗木  (09) Ngưu-kim-ngưu 牛金牛

(10) Nữ-thổ-phúc 土蝠     (11) -nhật-thử 虛日鼠     (12) Nguy-nguyệt-yến危月燕

(13) Thất-hoả-trư 室火豬     (14) Bích-thủy-dư 壁水     (15) Khuê-mộc-lang 木狼

(16) Lâu-kim-cẩu 婁金狗       (17) Vị-thổ-trĩ 胃土雉             (18) Măo-nhật-kê 昴日雞

(19) Tất-nguyệt-ô 畢月烏      (20) Chủy-hoả-hầu 火猴   (21) m-thủy-viên 參水猿

(22) Tỉnh-mộc-hàn 井木  (23) Qủy-kim-dương 鬼金羊 (24) Liễu-thổ-chương 柳土獐

(25) Tinh-nhật-mă 星日馬   (26) Trương-nguyệt-lộc張月鹿  (27) Dực-hoả-xà 翼火蛇

(28) Chẩn-thủy-dẫn 水蚓

Bảng 7.7 Cầm-danh cuả Nhị-thập-bát-tú 

men theo thân, khôn thân đối cấn dần. Cấn núi lấy dần giăng bầy ra, tức tây-nam, đông-bắc, khôn điạ-thế cao, núi lớn, lấy đường dần-thân làm ranh-giới, lấy khôn-thân, nam-xuyên, đại-xuyên, hà-giang phân-giới, đều lấy thân khôn-phương chia thành trong ngoài. Nên thân tây-nam Ung-Lương là ranh. Riêng lấy nam làm trong, tây làm ngoài, là lấy Vũ-cống chỉ-đạo núi Khiên cùng núi Kỳ tại châu Ung. Thái-hành, Thái-hoa là ranh phiá tây, gọi là sông, là mé ngoài. Chỉ-đạo ven núi tại châu Lương. Núi Dân, Núi Hoành, là ranh phiá nam, gọi là sông, là mé trong. Điạ-lư tây-nam ấy, hai ranh-giới núi sông, lấy khôn-phương phân-biệt thành mé trong, mé ngoài. Thiên-điạ đại-xuyên   (kiền), xuyên xuyên (khôn). Khôn hoàng trung thông-lư là Hoàng-hà cuả Dịch. Bốn điạ-thế thân-dần-tỵ-hợi cuả khôn, điạ-đầu khởi tây-bắc hợi, điạ-tích khởi tây-nam thân (đối dần cấn bối). Trong điạ-thế, núi khởi từ Côn-lôn, tức sông lấy nguồn từ Côn-lôn, Côn-lôn là cái đầu cuả bốn thế đất. Tây-bắc hợi, tiên-thiên cấn là núi ở dưới, bên dưới khôn là đất vun đắp lên. Khôn-dư (xe đất) là đầu mối tải vật. Điạ-thế khởi-nguyên từ Côn-lôn. Địa-thủ khởi từ đó, tây-bắc là điạ-đạo vô-cương, tức cấn tiên-thiên là núi xuất, khảm là nước, suối chẩy ra ở dưới núi, suối là nước trắng toát, Hà phát-nguyên từ Côn-lôn, có hư-sắc trắng, suất-nguyên cuả Hà vậy. Điạ-thủ là Hà-thủ, nơi đó khởi tây-bắc vô-cương, dưới đầu cuả hợi, khảm là thủy-đạo chầm chậm chẩy (sơ khảm ẩn-phục, nước lúc thấy, lúc không). Tây-bắc cấn núi dầy ở dưới, hợi điạ-thế lại từ bên phải, mà khôn theo thân, là thân tây-nam, khôn đất vậy. Hà tây-bắc, kiền bắt đầu đi từ từ, thấy khôn hoàng-trung-thông, bèn tây-nam thân, kiền thiên-cửu, khôn hoàng-trung-thông, là Hà ngàn dặm khúc thẳng, khúc cong, là chín, mà điạ-lư Cửu-châu, lấy số 9 mà nghiên-cứu. Là tây-nam khôn-thân, Hà chẩy chậm, chỗ khuất-tất hiện ra ở thân. Hoàng-hà xuyên-thông-lư, khôn điạ-thế thông-suốt nơi chân tay, đó là thân-vị cuả thân-dần-tỵ-hợi, là lấy khôn tây-nam điạ-tích, hà-đạo thuận chẩy xuống đuôi cấn, tức thị từ khôn-thân đến tận cấn- dần (điạ-đạo lưu khiêm). Là Kư-châu, Duyện-châu phiá đông-bắc, tảng đá mốc tṛn nhập hải. Đó là dần cửu Hà-đạo. Điạ-thủ đó, Hà-thủ khởi tây-bắc hợi, thuận khôn điạ-thế hành tây-nam thân, Hà xuất Côn-lôn phục-lưu là kiến thân, mà thuận xuôi đông-bắc dần, nơi đất, núi, sông giới-hạn Hà lại từ bên ngoài Trung-quốc, nơi tây-nam thân ngoại-phương, mà Hà thuận đường đi ngang qua Trung-quốc trong ranh giới cuả nó. Ngoại-phương thuận, Khôn-điạ, núi sông Cửu-châu bằng phẳng, điạ-lư thuận vậy. Mà Hà Vơ Cửu-châu là nghịch-hà, khôn tây-nam, điạ-tích, hà-đạo thuận-hành, xuôi kiền-thủ (Sông một khúc thẳng thuận ḍng, một khúc ngoằn ng̣e ngược ḍng, sông bèn gẫy khúc thành h́nh chữ N). Tức thị, đông-bắc đuôi cấn đường sông nghịch-hành chẩy lên cửa đoài, ắt từ kiền trở lên tốn tỵ (tốn phản  đoài khẩu quyết). Là Từ-châu, Dương-châu đông-nam cùng ngược ḍng đổ ra biển, không do dần cửu hà-đạo. Bắc-điạ-thủ, hà-thủ khởi tây-bắc hợi, ngược điạ-thế khôn, Hà vô-thường xoay lưng về phiá tây-nam thân, đông-bắc dần, lấy tây bắc hợi quá điên-đảo mà quyết đi đến đông-nam tỵ, nơi giới-hạn cuả đất, sông, núi, Giang lại từ bên trong Trung-quốc. Nơi tây-nam thân nội-phương, mà Hà đi ngược đường Trung-quốc, không chẩy trong ranh giới cuả Hà, mà lại chẩy trong ranh giới cuả Giang (ngoại phương đồng-bá, Hà trước đổ vào Hoài, sau đổ vào Giang). Nội-phương có ngoại-phương chẳng thuận, khôn đất, núi, sông, Cửu-châu không bằng phẳng, v́ điạ-lư không thuận-lợi. Khôn thân ấy, điạ-lư bầy vào giữa hai ranh giới, Giang tự nam chẳng thông Trung-quốc, khôn thổ hoàng-trung-lư, thế chẳng quá giữa mà thống bắc, Hà tự tây mà bắc, mà nam, thông Trung-quốc khôn thổ hoàng-trung-lư, thế quá giữa vô-nghịch-thuận mà thống nam-bắc. Cửu-châu điạ-thế như vậy đấy. Là lấy Cửu-châu trùng-xuyên, đương tịnh-quy chính-bắc quẻ khảm. Chu-nhân biết phương-hướng Cửu-châu-thứ, nhân Vơ Cửu-châu-thứ, sóc nam đến khảm-ly đă định, Vơ Cửu-châu, Kư-châu, Duyện-châu, mà Lương-châu, Ung-châu nghịch-trị-thủy trở lên tây-nam, bèn thuận-hành-thủy mà xuôi đông-bắc, mà khảm-ly sóc nam đến Chu-nhân tức lấy tây-bắc thuận đă định, xuôi về chính bắc khảm, đông-nam rằng Dương-châu, chính nam rằng Kinh-châu, Hà-nam rằng Dự-châu, chính đông rằng Thanh-châu, Hà-đông rằng Duyện-châu, chính tây rằng Ung-châu, đông-bắc rằng U-châu, Hà-nội rằng Kư-châu, chính bắc rằng Tinh-châu. Hà Cửu-châu đều đi về bắc, vật đều quay về khảm. Cửu-châu khảm đă b́nh, mà điạ-lư sóc nam kịp định. Cửu-châu nam-bắc ly-khảm, 'thận biện vật cư phương = thận-trọng phân-biện mọi vật, cho ở riêng ra từng nơi thích-hợp với chúng' (Đại-tượng Vị-tế), chu-chức-phương vậy. Đều là khôn hoàng-trung Hoàng-hà thông-lư cả. Là chính-vị vậy. Nên quẻ Thái cửu-nhị, trời đất bằng phẳng nói đến Hà, tiên-thiên Hà, dưới núi Côn-lôn suối tuôn ra, tây-bắc dé tây, tây đoài trạch phản thành tốn phục, mà Hà phục-lưu, phục mà tây-nam tốn, phản đoái kiến,  mà Hà kiến khôn hoàng-trung-vị không đổi, phục-lưu đương tây-nam thân, điều ấy cận-thế gọi là 'hà-nguyên đương thân', xuất Thổ-Ba (ở về phiá tây Ba-thục cuả Trung-quốc). Là bể tinh-tú (Ba tên là Hoả-đôn năo-nhi). Kỳ thực,  Hà phát-nguyên khởi từ tây-bắc, lấy điạ-đầu Côn-lôn, Hà thông kiền-kỷ, bắt đầu từ hợi mà trổ ra cửa tuất, qua tây 'đoài vi trạch' là muối cứng đất dậu, hậu-xuất tây-nam đất thân, Hán-sứ Đại-uyển cùng-hà-nguyên, ra khỏi Thông-lĩnh, ra khỏi dần tức qua đoài trạch, đất muối cứng, v́ lỗ-trạch đoài phản tốn phục, tức là lỗ-trạch tiềm-hành dưới mặt đất, mé nam ắt Hà-nguyên chẩy ra. Ấy là Hà phục-lưu xuất Thông-lĩnh, xuất ra từ một nơi sự thực bất nhất. Trong Cổ-đồ-thư Thiên-tử án rằng: Tên sông xuất-xứ từ núi rằng là Côn-lôn, mà núi Côn-lôn, nơi tây-bắc vô để hiện-thực nó. Là bảo lư-do là ngôi hợi vậy (Côn-lôn điạ-cực kiền hạ thủ, điạ-hạ đất lớn, điạ-thượng đất nhỏ, hà-nguyên lúc đầu nhỏ sau chẩy xuôi thành sông lớn. Côn-lôn lúc đầu nhỏ sau mới dàn thành núi lớn. Muôn vật lúc khởi đầu bao giờ cũng nhỏ, đó là đạo chí-thần vậy. Bắc-cực Khu nhỏ, Bắc-thần Đế-tinh nhỏ. Vơ bản-kỷ và Sơn-hải-kinh đều nói Côn-lôn là tượng thế-nhân thường dùng, không phải là núi lớn đâu). Nên tây-nam thân, Hà chẩy ngầm dưới đất, rồi mới ra khỏi mặt đất, từ lỗ-trạch tiềm-hành dưới mặt đất, phiá nam trổ ra tại núi Tích-thạch, thành Hà cuả Trung-quốc. Phiá nam cuả nó, tức thị cái người đời thường gọi là tinh-tú-hải, chính là nơi phát-nguyên cuả Hà. Chẩy ra từ tây-nam khôn điạ-lư, phát-nguyên từ tây-bắc tượng kiền-thiên. Viện lẽ suối vọng như liệt-tinh, mà núi xuất tuyền lại ghét nh́n về phiá Côn-lôn sao ? (Nguyên-sử có chép: Hà-nguyên tức Tinh-tú-hải chẩy về đông, mệnh danh là Xích-tân Hà-đông, phàm hai ba trăm dặm chẩy xâm-phạm vào  Đại-toại tên là Hoàng-hà, lại về phiá đông một hai trăm dặm nữa, chia nhánh thành Cửu-độ-hà, từ đó đến Đoá-cam-tư có Đại-tuyết-sơn rất ư là cao tức Côn-lôn vậy. Từ Cửu-độ-thủy ước chừng 20 ngày đường. Côn-lôn đây có nghiă là tại hạ-lưu Hà-nguyên Tinh-tú-hải cách chừng 20 ngày đường. Lại một hai trăm dặm nữa, hoặc hai ba trăm dặm nữa, nơi Hà  xuất hiện lưng cuả Côn-lôn. Bảo là Hà chẩy ngầm rồi ló khỏi mặt đất là nguồn mà không biết rằng Hà-nguyên không ở đó, th́ làm sao luận được Côn-lôn. Lưu Nguyên-Đỉnh đời Đường bảo rằng: Thổ-ba Muộn-ma Lê-sơn là Cổ-côn-lôn, là sai vậy). Lại lấy khôn tứ chi điạ-thế thân-dần-tỵ-hợi, khởi tây-bắc kiền hợi đi tây-nam khôn thân, thân-hợi tức kiền-khôn Thái-hà tại chỗ đó, thân tại thiên-điạ phân thành hai ranh giới, hợi tại thiên-điạ hợp-nhất thống, phân thành hai ranh giới, ra khỏi thân-dậu Nam-giang, hợp-nhất-thống, ra khỏi hợi-dậu Bắc-hà, hà kiền cửu, một thẳng, một gẫy khúc, khôn Cửu-châu mà núi sông điạ-lư là đều lấy khởi tây-bắc, kiền-thủ bèn là điạ-thủ. Tứ chi thân-dần-tỵ-hợi, hạ-thủ hợi, điạ-thủ Côn-lôn, kiền tây-bắc là điạ-cực vậy. Khôn điạ-lư dựa vào đó để thống-nhất Cửu-châu.

 

LUẬN-GIẢ ÁN

 

Kinh Dịch muộn lắm được viết vào thế-kỷ thứ 8 BC, đầu Đời Tây-Chu (1111-249 BC). Mà Đời Nhà Thương (1751-1112 BC), đất đai Trung-quốc chưa được mở rộng lắm. Thành thử ra luận-giả lựa chọn Vơ-cửu-châu cuả Nhà Hạ bằng cách ngoại-suy theo cổ-tịch, đặc biệt là các sách: Ngũ-Hành Đại-Nghiă (050), Trung Quốc Cổ Đại Đích Thiên Văn Cập Kỳ Vũ Trụ Quan (004), cũng như Tống Nguyên Học-Án (Tập Thượng). Theo đại-đa-số thức-giả th́:

Cửu-châu cuả Nhà Hạ (Vơ-cống Cửu-châu) là: Kư-châu, Duyện-châu, Thanh-châu, Từ-châu, Dương-châu, Kinh-châu, Dự-châu, Lương-châu và Ung-châu.

Cửu-châu cuả Nhà Thương (Nhĩ-Nhă Cửu-châu) là: Kư-châu, U-châu, Duyện-châu, Doanh-châu, Từ-châu, Dương-châu, Kinh-châu, Dự-châu và Ung-châu.

Cửu-châu cuả Nhà Chu (Chu-Lễ Cửu-châu) là: Kư-châu, U-châu, Tinh-châu, Duyện-châu, Thanh-châu, Dương-châu, Kinh-châu, Dự-châu và Ung-châu.

Cửu-châu cuả Đường-Ngu (Thập-tam-kinh): Kư-châu, Duyện-châu, Thanh-châu, Từ-châu, Kinh-châu, Dương-châu, Dự-châu, Lương-châu và Ung-châu.

Sau hết, Cửu-châu cuả Ngũ-Hành Đại-Nghiă là: Kư-châu, Kinh-châu. Thanh-châu, Từ-châu, Dự-châu, Ung-châu, Lương-châu, Duyện-châu và Dương-châu. Ta có thể nhớ Cửu-châu này bằng câu lục-bát:

Kư, Kinh rồi đến Thanh, Từ,
Dự, Ung, Lương, Duyện, răng chừ Dương-châu ?

 

Kiền, Khôn, âm dương cực vu tỵ, hợi: (Chu Dịch Chỉ, 220, Tập VIII, tr. 294-296)

Thiên Đại-Vũ-Mô đệ-tam, Kinh Thư nói: "Dư mậu năi đức; gia năi phi tích. Thiên chi lịch-số tại nhữ cung. Nhữ chung trắc nguyên-hậu. Nhân tâm duy nguy ! Đạo tâm duy vi ! Duy tinh ! Duy nhất ! Doăn chấp quyết Trung. Tứ hải khốn-cùng, thiên-lộc vĩnh chung. = Ta mến đức ngươi; khen thành-tích lớn lao cuả ngươi. Lịch-số cuả trời ở ḿnh ngươi. Ngươi phải lên ngôi vua cả. Ḷng người đương nguy ! Ḷng đạo đương suy ! Phải tinh ! Phải chuyên-nhất ! Cầm đúng đạo Trung-dung, để nhân-dân trong bốn bể khốn-cùng, th́ lộc trời sẽ mất hẳn".

Tỵ là dương-cực, âm bắt đầu, hợi là âm-cực, dương bắt đầu. Thiên-điạ cực mà bắt đầu từ tỵ-hợi trên dưới, tức hai đầu gốc ngọn, là hai đầu mối, lả thiên-điạ chung-thủy. Số vạn-vật hữu-vô đều trụ tại đó cả. Cho nên Thánh-nhân có đến, trước sau đều ràng buộc đầu mối với lúc khởi đầu. Tị thượng tiên-thiên là hai quẻ kiền-đoài, tỵ giẵm lên đầu mối. Mé dưới hợi hậu-thiên kiền-đoài cũng giẵm lên đầu mối (nhưng hơi lệch pha), bởi chưng Thánh-nhân nghiệm ra rằng tỵ-hợi là hai đầu mối cuả vạn-vật. Tóm cả hai đầu mà lấy thiên-điạ tư-ngọ chính trung tại sửu, tại mùi, dùng cho dân (Một đầu tây-bắc, vật khốn-cùng. Sửu dùng giữa. Sửu đến cửa đoài, miệng khốn, miệng cùng, lời nói không tin, khéo hỏi, xét gần, nói để đạt cùng khốn, đầu tây-bắc, tuất ngăn ác, tỵ cất dương lên, thiện-dụng chính giữa, mà hai đầu thiện ác tự rơ). Bèn trong tư-sửu, thiên-điạ hiệp, quân-thiên vậy, dân-điạ vậy. Khiến dân hiệp nơi giữa, là làm nam-bắc khảm-ly trung-đạo thủy-hoả bách-tính nhật-dụng mà không hay. Nên tỵ-hợi tây-bắc kiền âm-dương cực, Khốn tây-bắc thiên-lịch-số, lư đoan-thủy, cử chính trung, quy dư chung bèn cùng. Lịch-số cuả trời ở ḿnh ngươi, Cầm đúng đạo Trung, để nhân-dân trong bốn bể khốn-cùng, th́ lộc trời sẽ mất hẳn. Ra lệnh Cầm đạo Trung như thế là nam-bắc thiên-điạ định-vị, chính trung tư-sửu nhất-nhị thiên-điạ-tâm, sửu nhị duy-tinh (nhất thuần, nhị tinh), tư nhất duy-nhất, dần tam nhân-tâm duy-nguy, sửu-nhị, tư-nhất đạo-tâm duy-vi, tư-sửu nhất-nhị, tư trung-chính tại sửu, để sửu cấn-thủ nhị chấp tư khảm tâm nhất-trung chi đạo, doăn chấp quyết trung. Điều ấy là dùng trung-dung nơi dân-đạo vậy. Cho nên ba hào dương tư-sửu-dần cuả kiền, hai trung-hào cuả khảm, tức thị sửu là trung-chính cuả dương, tư-trung, ba hào âm ngọ-mùi-thân cuả khôn, hai trung-hào cuả ly, tức thị mùi là trung-chính cuả âm, ngọ trung. Cái nam-bắc âm-dương thiên-điạ-trung ấy, đế-vương lập-cực, thánh-hiền lập-bản, không thiên nơi đông-nam đầu mối tỵ, không thiên nơi tây-bắc đầu mối hợi, bèn là thiên-điạ đại-trung-đạo, tư chính tại sửu mà thôi. Ấy là kiền-nhị, sửu chính-trung-dung, ngôn dung-hạnh, là trung-dung dụng trung, Nên chi tóm lấy hai đầu tỵ-hợi, tư-sửu dùng trung cho dân, chính là cái ta gọi là tư-sửu biết Lâm-lớn quân-hành-trung. Hành-trung gọi là tri-Lâm-đại, Thuấn là đại-tri (đại-trí) vậy. Cho điều ấy là Thuấn chăng ? Thành âm-dương chính-trung của Dịch, Thánh-nhân lấy ra để dạy người ta vậy.

 

Âm dương lưỡng đoan: (Chu Dịch Chỉ, 220, Tập VIII, tr. 296-298)

Kiền-Khôn sáu hào, lấy tỵ-hợi làm hai đầu mút, mà dùng chính giữa nam-bắc khảm-ly, trung tư-ngọ chính, là đạo cuả Thánh-nhân vậy. Hai đầu không dùng giữa, ắt đông-nam thiên, th́n-tỵ có dương, không có âm, chủ hữu sinh vô-tử. Đạo-giáo tây-bắc thiên tuất-hợi, vô âm, vô dương, chủ vô tử, vô sinh. Phật-giáo đều là dị-đoan cả. Mà trời đất đă có đầu mối, tức đă có thiết-giáo. Thiên-điạ nam-bắc tư, một vật dương xuất-hữu : Đạo-giáo bắt đầu; ngọ, một vật âm nhập-vô: Phật-giáo bắt đầu. Vậy nên tư xuất mà th́n-tỵ có dương. Nơi ngọ âm  ? mùi sinh, nhập vô, tượng Phật-giáo. Mùi thấy có, đều là Đạo-giáo. Nên chi Đức Khổng-tử san-thư đoán từ đời Đường-Ngu (tức Đường-Nghiêu, Ngu-Thuấn), nhật-nguyệt trung-thiên nam-bắc dụng trung. Nhật mùi quá trung, Phật-giáo chưa dấy lên, từ Đường-Ngu trở về trước thư chép việc Đạo-giáo (Hoàng-đế và nhóm Quảng-thành-tử đều là đạo-gia cả, nên ta thường gọi Đạo-giáo là Hoàng Lăo), chứ không phải là Thánh-nhân dùng trung-đạo (Đạo Trung-dung). Cho nên san-thư mà sách Dịch không đề-cập Đạo-giáo, là mé đông-nam thiên lệch, ắt Dịch không hoàn-bị, không đáng thấy Dịch. Cho nên Đạo-giáo đi ngược đường, từ tư tây-bắc lại, mà ngọ đông-nam, quẻ là thủy-thiên Nhu E, hoả-phong Đỉnh r, là 'nhu vu sa = đợi ngoài băi cát' (Nhu cửu-nhị). Đỉnh kim-huyễn, ngọc-huyễn phục-thực, tượng cuả nó là đạo, lả thủy-hoả nghịch-vận, mà để cầu hữu sinh vô tử, ấy là hữu dương vô âm, một thiên lệch vậy, tượng đông-nam vậy. Là lấy tây-bắc lại đông-nam, đối-quái bảo Cấu tức xá-nữ (đan-sa thủy-ngân cuả các nhà luyện đan), mà lấy lời phục anh-nhi, tức thị đạo. Nhu là việc ăn uống, Đỉnh là đạo dưỡng-sinh, thay đổi nó, ắt 'nhu vu nê = đợi nơi đất bùn', Đỉnh là nê-hống, đạo lụn bại rồi. Hữu sinh, hữu tử, mà Nhu 'hữu bất tốc tam nhân lai = có ba người khách thư thả đến' (Nhu thượng-lục): đây là điều mà các đạo-gia gọi là Tam-Thi, Tam-Bành vậy. Cho nên hai nhân-hào tứ-tam cuả Dịch, tức du-hồn và quy-hồn cuả quỷ-dịch (Xin xem lại mục 'Nội-Trúc Tổ-Hợp Các Quẻ' nơi Bài Kỳ 46). Đặc-biệt là quy-hồn cuả Kiền là Đại-hữu, quẻ du-hồn cuả Khôn là Nhu, và quẻ quy-hồn cuả Khảm là Sư.

Xin mở một ṿng ngoặc về Tam-Thi, Tam-Bành. Kiều có câu:

Mụ nghe nàng nói hay t́nh,
Bấy giờ, mới nổi tam Bành mụ lên.

Thơ 'Du La-phù-sơn' cuả Tô Đông-pha có câu :

Đạo-Hoa diệc thưởng đạm nhất tảo,
Khế-Hư chính dục cừu tam Bành.

Đạo-gia cho rằng trong nhân-thân có ba vị thần là Bành-Cứ, Bành-Chất và Bành-Kiểu, chuyên xúi người ta làm điều ác, rồi lên tâu với Ngọc-hoàng thượmg-đế.

Tam Bành đồng nghiă với tam Thi, là ba Thi-thần trong nhân-thân. Sách Chư Chân Nguyên-áo, dẫn sách Trung-hoàng-kinh, cắt nghiă tam Thi như sau :

Một là thượng-trùng ở trong óc, hai là trung-trùng ở minh-đường, ba là hạ-trùng ở dạ dầy trong bụng. Đặt tên là  Bành-Cứ, Bành-Chất và Bành-Kiểu. Tây-dương Tạp-trở chép : "Thượng Thi Thanh-cô phạt mắt con người, trung Thi Bạch-cô phạt ngũ tạng (tim, gan, lá lách, phổi, thận), hạ Thi Huyết-cô phạt vị-mệnh (dạ dầy và mệnh-môn)". 

Hệ-thượng IV/2 nói: "Tinh-khí vi vật, du-hồn vi biến. Thị cố tri quỷ-thần chi t́nh-trạng. = Có tinh và khí là vật, chỉ có hồn phảng-phất là biến, nên biết cái t́nh-trạng cuả quỷ-thần". 'Có tinh và khí là vật' có nghĩa là thần-thánh-hoá đạo đó, chính là cái ta thường gọi là 'Thần-tiên'. 'Chỉ có hồn phảng-phất là biến' có nghiă là quỷ-biến-hoá đạo đó, chính là cái mà đạo-gia gọi là 'Thi-Bành'. Thi-thần làm chủ, Bành-thần nhận được thuốc trường-sinh bất-tử chỉ là 'khí', là đồ vật. Bất-tử-dược tinh-thần, 'khí' bèn hoá ra làm phách cuả hồn. Đó chính là Thi-Bành vậy. Thiên-điạ nam-bắc Kiền-Khôn mà lấy Ly-Khảm hoả ở trên trời, thủy ở giữa đất, Sư chúng tam-nhân, Đại-hữu cũng chúng tam–nhân, nhân giữa thiên-điạ. Ly trên, Khảm dưới, đều chưa có Đỉnh-khí, thủy-hoả tề-chỉnh chúng, chúng mới đạt được hoả-hầu, mà tứ-tam nơi chúng-tam-nhân, đều có du-hồn, quy-hồn cuả quỷ-dịch, phản-phục nơi nhân-hào tứ-tam mà cuối cùng Nhu mới có được  'ba người khách thư thả đến', đó chính là du-hồn, quy-hồn. Nên mới biết cái t́nh-trạng cuả quỷ-thần được. Đó chính là Thi-Bành vậy. Sư bèn là đám đông. Sư là quẻ quy-hồn cuả Khảm, tượng 'ba người' ; Đại-hữu cũng là đám đông. Đại-hữu, quẻ quy-hồn cuả Kiền, cũng là đám đông 'ba người', mà hai nhân-hào tứ-tam nơi trời đất, là ly-khảm, nhật-hồn, nguyệt-phách, hồn ở trên trời, phách ở dưới đất, mà ở nơi tứ-tam hồn quay về (quy-hồn). Đại-hữu nhân-hào tứ-tam hồn quay về. Đại-hữu nơi Nhu 'tam nhân lai', Đại-hữu 'phỉ kỳ Bành = không làm ra đầy dẫy, thịnh-vượng' (Đại-hữu cửu-tứ), Sư tam nơi Nhu 'tam nhân lai', Sư 'dư thi = xác chết chở từng xe' (Sư lục-tam), là tam Thi vậy. Trời đất ấy, quẻ du-hồn Nhu cuả Khôn với quẻ quy-hồn Đại-hữu cuả Kiền, tứ-tam đều là quỷ-dịch, mà tứ-tam nhân-dịch để cầu hữu sinh vô tử, không xem tứ-tam Đại-hữu chúng-nhân, Sư chúng-nhân sao ? Cho nên 'Tinh-khí vi vật', chư-thần đều mất. 'Du-hồn vi biến', về cùng quỷ mà biết được t́nh-trạng cuả quỷ-thần, bèn là Thi-Bành, tức tam Thi, tam Bành cuả đạo-gia. [Dần-nhân, kiền tam-dương biến ra khôn tam-âm, tại canh-thân, là Khôn du-hồn Nhu, 'bất-tốc âm tam nhân lai, kính chi' (Nhu thượng-lục). Đấy chính là canh-thân vậy]. Tượng quy-hồn cuả Dịch, nếu đọcc kỹ, ta hiểu nó rất rơ ràng.  Do đạo cuả thần-nhân mà hiểu thiên-điạ-dịch, năng nói ra được, chỉ là t́nh-trạng quỷ-thần cuả Dịch mà thôi. Cần ǵ phải lấy làm quái lạ điều các nho-gia cấm đề-cập dị-đoan. Các sách ngoại-giáo ắt chê lẽ phải cuả Dịch, bác bỏ luận-cứ cuả Dịch cho rằng tượng vạn-vật hoàn-bị nơi Dịch. Đó chính là Đạo-giáo đông-nam thiên lệch khi nói về Dịch. Tượng này thức-giả không thể nào không biết đến được.
 

Thiên-điạ nam-bắc: (Chu Dịch Chỉ, 220, Tập VIII, tr. 298-301)

Tư, một vật dương xuất-hữu là tượng Hằng-hữu; ngọ, một vật âm nhập-vô là tượng Hàm-vô. Hàm-vô là Phật-giáo. Có trời đất, có muôn vật, có con trai con gái, có vợ chồng, có cha con, có vua tôi, có trên dưới, nên trao cho quẻ Hằng, Hằng có tượng, Hàm không tượng là Phật-giáo vậy. Cho nên trời đất nam-bắc, ngọ nhất âm sinh, Phật-giáo ở trên ngọ mà tuất-hợi, muôn vật quy-vô, mà lấy quy vào Hàm-vô, là tượng tây-bắc. Trời đất phương nam ngọ hoả, số bính đinh, là Hàm nhập-vô, bắt đầu từ đời Đường-Ngu, trung-thiên vận ngọ, một âm chưa sinh, Phật-giáo chưa lập ra, ngọ Hàm-vô là Phật-giáo. Lập ra rồi, ắt tư Hằng-hữu là điềm tượng chẳng thấy. Là lấy việc Chu Trang-Vương, năm Giáp-ngọ (687 BC), Đức Phật-tổ Hàm-cảm xuất-sinh, Kinh Xuân Thu chép là: "Trang-Công năm thứ bẩy, muà Hạ, tháng tư, hằng-tinh không thấy", trời đất bèn hàm-tượng cảm, mà Hằng-tượng tiêu-vong. Đấy là điềm. Cho nên Phật-giáo không có một đường đi thuận từ đông-nam (tháng tư muà hạ là tốn). Ngọ đi mà quẻ cuả tư là phong-hoả Gia-nhân, thiên-thủy Tụng, là quẻ xuất-gia, con người trong nhà không có vợ chồng, cha con, Tụng là đạo vi-hành bất-thân, tượng là hoả thủy thuận-diệt để quy vô-tử vô-sinh. Đó chính là một khiá cạnh thiên lệch vô-âm vô dương vậy. Là tượng tây-bắc. Là lấy tây-nam đi đông-bắc, phản-quái (tốn phản đoài) thành Quyết nghiă là quyết tuyệt mà lấy thành đạo 'bác phu diệt tận'. Tây-bắc diệt vô, kiền-khôn bị hại. Mà Đức Phật nơi tây-bắc kiền-cương, kiền-kim, gọi là Kim-cương, không bị hại. Cho nên cái mà kinh Phật gọi là Kim-cương có thể vi-phạm dịch-tượng mà hiện-thực tượng hàm cản-ứng. [Kinh Kim-cương độc hiển ràng buộc trời đất tây-bắc với tượng-số vô, để mà thiết-lập một tôn-giáo cho rằng trời đất là vô, minh-hiển bằng Kinh Kim-cương]. Tây-bắc tuất đại-dạ minh-diệt, mà Phật khởi công đốt đèn, tây-bắc trời dấy lấy tề chẳng thông mà Phật độ bỉ-ngạn, trời đất số hữu-vô lấy phụ-tướng tả-hữu dân làm tả-phù, thiên-điạ-số giáp-3, canh-9, 3 lần 9, 27 phụ, là kiền-chấn, là quẻ thiên-lôi Vô-vơng, bèn là số cuả trời đất có mà biết vô là vơng (sằng bậy) vậy. Hữu-tướng thiên-điạ-số tân-4, ất-8, 4 lần 8 là 32 tướng, là quẻ tốn-khôn phong-điạ Quan, bèn là số thiên-điạ vô mà biết cái đang xem là không vậy. Mà Phật dạy lấy 32 tướng xem không thể lấy để xem 32 tướng, coi là lấy tuất tây-bắc, tốn nhập vô, tân-4 tây-bắc, vật qua lại, nhập vô-hữu, ất-8, tân-4, khôn-tốn nhập, Thăng bất lai (TQT), mà 4 nơi đông-nam, tốn bất quả, tây-bắc kiền mộc-quả, mà Phật dạy rằng tứ-quả (the four phala, i.e. fruitions or rewards - srota-āpanna-phala, sakradāgāmi-phala, anāgāmi-phala, arhat-phala, i.e. four grades of saintship) gọi là nhập mà không có chỗ để nhập, qua lại mà thực ra không có qua lại, không lại mà thực ra không có không lại, mà thực ra vô-hữu-pháp là tứ-quả đều là tây-bắc số tứ-tuất nhập vô. Tứ-tây-bắc, hữu-tướng hợp-nhất (hợp tư-nhất), tức thị nhất-hợp-tướng, mà không thấy hữu, tức không phải là nhất-hợp-tướng, đều là số tây-bắc, tượng tây-bắc vậy. Đấy là sách ấy trói buộc số thiên-điạ nhập vô. Kiền kim, kiền cương, tây-bắc tượng cuả nó như vậy, điều ấy đều là Đức Phật có khả-năng vi-phạm dịch-tượng. Tây-bắc kiền-thiên, lại Phật vi tượng, huống chi là con người, huống chi là quỷ-thần. Dịch tây-bắc, Hàm vô-thần, vô-phương, Dịch vô-thể. Đạo vô chí-thần thật. Phật hàm-cảm-ứng chí-thần, mà đủ lấy làm quái lạ sao ? Dịch đầy đủ vạn-vật, vạn-tượng. Đó là tượng Phât-giáo thiên lệch nơi Dịch tây-bắc, thức-giả không thể nào không biết đến được. Tây-bắc một tượng thiên lệch, đông-nam một tượng thiên lệch. Cả hai Phật, Đạo đều không biết Dịch thiên-lệch phiá nào. Dịch quảng-đại, Thánh-nhân trung-chính, nơi Dịch họ chưa biết quan-sát phiá nào.

Chúng ta sẽ trở lại chuyên-đề Tam-Giáo một cách kỹ-lưỡng hơn nơi CHƯƠNG17: TAM-GIÁO-DỊCH.

 

  

 

 

Xem Kỳ 86

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com