www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 83)

 

Dịch Tu-Từ

 

Tượng quẻ Đỉnh: (Chu Dịch Chỉ, 220, Tập VIII, tr. 277-279 ; Học Dịch Bút-đàm, 268, tr. 544-5)

Trước khi đọc tiếp xin quư-độc-giả xem lại mục Mệnh-quái ở Bài Kỳ 69. Tượng quẻ Dịch không ǵ rơ ràng bắng trường-hợp quẻ Đỉnh r. Hào ngũ là tai đỉnh, các hào nhị-tam-tứ là bụng đỉnh, hào thượng là khoen đỉnh. Sáu hào mô-tả chân-diện-mục cuả Đỉnh. Nói về tượng quẻ Đỉnh, mọi người phát-biểu giống nhau. Nay hỏi tại sao hào sơ đơn lẻ mà chân đỉnh lại chẽ đôi (hào âm) ? Quẻ tốn là bắp đùi, quẻ kiền là đầu, mà các hào nhị-tam-tứ lại là tượng  bắp đùi sao ? Trong Dịch ly là con mắt, nơi quẻ Đỉnh ngũ ly là tai sao ? Chẳng hoá ra tượng Đỉnh cuả Thánh-nhân sai vậy sao ? Thế sao lời thoán lại nói: "Đỉnh là tượng" ? Hoá ra là Thánh-nhân lấy mộc-tốn-hoả (củi đút vào lửa) làm tượng nấu nướng. Thánh-nhân thừa biết tương Đỉnh dùng để chế-khí  "Dĩ chế-khí giả thượng kỳ tượng dă = Về việc chế đồ dùng th́ chuộng h́nh tượng." (Hệ-Thượng X/1). Cho nên, Thánh-nhân vin vào đó mà bảo là Đỉnh tượng. Sau Kiền-Khôn là quẻ Truân C: hạ-quái chấn là chân, các hào nhi-tam-tứ là khôn, tượng bụng. Hào ngũ là tai đỉnh, khảm là tai. Tai một vành vắt ngang qua là tượng khoen đỉnh. Lúc đó Truân ở dưới chân đỉnh-khí lấy đỉnh tượng mộc-tốn-hoả (gỗ đút vào ḷ lửa), nấu nướng, đỉnh-tượng dưới lửa gió tốn không thổi đi, quẻ tốn, sấm dưới nước không chấn-động, khử chấn, mà trên dưới thủy-hoả  khảm-ly định, bèn canh-định, cương-nhu tiết-độ vậy. Đỉnh-khí, đỉnh-tượng ấy, Truân thuận theo kiền-khôn, sau đó thủy-hoả khảm-ly định, kiền-khôn định vậy. Thiên-điạ, Truân bắt đầu xây dựng, Đỉnh khởi sự, gió mănh-liệt cuả Đỉnh, lôi-vũ thiên-điạ, thảo-muội (rối loạn mờ tối), khó sinh  đỉnh đó. Là Truân, là Đỉnh (Hào-tử cửu tam quẻ Truân nói: "Đừng thu dùng người con gái ấy, nó thấy ai có vàng bạc th́ không biết đến thân ḿnh nữa"). Cho nên đỉnh-tượng với Truân-khí, thiên nhất tạo-thủy (trời 1 tạo bắt đầu), đạo ấy khó thấy lắm, tượng đó dễ nói hơn, mà người bàn về Dịch, khí-tượng chưa xét. Kịp khi Dương-Hùng, nghĩ đỉnh là bếp (táo), tưởng là Thánh-nhân lấy ông bếp làm tượng, tốn mà nhĩ-mục thông-minh, lấy Đỉnh mộc-tốn-hoả, lấy Tỉnh mộc-tốn-thủy, Tỉnh cửu-châu, Đỉnh cửu-châu, là tượng Truân kinh-luân nhất-tạo-thủy. Họ Dương cho ông bếp là Đỉnh há c̣n ai buồn nói thêm vào ǵ được nữa. Xin tham-chiếu tiết 'Tỉnh-Tỉnh' trong mục 'Dịch Vi-ngôn Đại-nghiă' bên dưới.    

Lấy Tỉnh mộc-tốn-thủy, bất cải tỉnh là mệnh-quái cuả 64 quẻ. Trước lấy Tỉnh p mộc-tốn-thủy, sau lấy Đỉnh r mộc-tốn-hoả, mênh-quái Tỉnh, bèn là ngưng-mệnh-quái Đỉnh. Hai quẻ ấy, đại-tượng-pháp thủ tỉnh-thủy b́nh-thủy-pháp vậy. Một mặt, Thái-huyền lấy phép nghĩ Tỉnh là Đỉnh, không xong. Chu Dịch gốc ở Khôn lục dùng Kiền cửu. C̣n Thái-huyền gốc ở Kiên thất dùng Khôn bát. Phương, châu, bộ, gia cuả Thái-huyền chẳng qua là tượng quẻ Khôn. Mượn lịch làm Huyền, mượn ngũ-hành thứ-số làm cát-hung chi là không-ngôn mà thôi. Chưa thông nơi đại-đạo quái-hào biến-hoá cuả Thánh-nhân mà nghĩ cho cùng cũng chỉ là lịch-hậu tầm thường mà thôi. 

Mặt khác, cựu-thuyết bảo là quẻ Đỉnh là tượng-h́nh, hợp ly-tốn 6 hào trên dưới. Hào sơ âm tốn dưới tượng-trưng chân đỉnh. Hai hào trên cuả tốn và hào dưới cùng cuả ly tượng-trưng bụng đỉnh, Hào giữa âm cuả ly tượng-trưng tai đỉnh. Sau cùng, hào thượng cuả ly tượng-trưng khoen đỉnh. Cả 6 hào họp lại biểu-trưng toàn-đỉnh. Ôi thôi ! Mới nghe tưởng là lời nói đuà. Phàm tượng có h́nh mà cũng phải có lư. Cho nên, có tượng tương-tự, có tượng tương-thông, nhưng quyết không bao giờ có tượng tương-phản. Nói về tượng, thường dẫn-chứng từ Kinh-văn, đôi khi cũng dựa vào Thuyết-quái-truyện. Tức như quảng-tượng cuả Tuân cửu-gia hoặc Mạnh-Hỉ, thường lấy từ Kinh-văn, chứ không thể ức-tạo được (Xem quảng-tượng nơi cuối bài kỳ 64). Thuyết-quái-truyện nói rành rành rằng: "Chấn là chân", sao bây giờ lại nói hào sơ cuả tốn là chân? Thuyết-quái-truyện nói rành rành rằng: "Khôn là bụng". Sao bây giờ lại nói hai hào trên cùng cuả tốn, và hào dưới cùng cuả ly hợp lại thành kiền, tượng bụng ? Thuyết-quái-truyện nói rành rành rằng: "Khảm là tai, ly là mắt". Sao bây giờ lại nói hào giữa cuả ly là tai? Có thể mâu thuẫn đến như thế được chăng ?

Hoặc bảo rằng: đây nói chuyện về hào, vẽ thành cái tai, chứ không nói đến quẻ đơn.

Ngoài ra đỉnh có ba chân, sao đây vạch đôi lại bảo là chân đỉnh, hoá ra đỉnh chỉ có hai chân sao? Vẽ h́nh mơ hồ để tượng-trưng đỉnh mà không lư ǵ đến quái-lư, chẳng cũng tức cười ru? Như vậy, tượng là ǵ? Ở đây là đỉnh là mộc-tốn-hoả. Đỉnh và Tỉnh là hai tượng thủy-hoả vỹ-đại cuả Dịch. Đại-tượng quẻ Đỉnh nói rằng: "Đỉnh, quân-tử dĩ chính-vị ngưng mệnh = Quẻ Đỉnh, bậc quân-tử coi đó mà giữ ngồi cho chính-đính mà làm cho cái mệnh được thành-tựu". Đỉnh ngưng mệnh mà Tỉnh định-tính, đó chính là cái mà ta gọi là "Cùng lư tận tính dĩ chí ư mệnh = xét cùng lư, bàn hết tính mà đạt đến mệnh" (Thuyết-quái-truyện I/3). Hai quẻ hoằng-thâm uyên-áo này là hai bực thang quan-trọng cuả Dịch, ta nên lấy tượng giảng tượng. Trước tiên nói đến công-dụng cuả Đỉnh xuyên qua tượng mộc-tốn-hoả. Sau nữa là đề-cập h́nh-thù cái Đỉnh vin vảo câu: "Dĩ chế-khí giả thượng kỳ tượng dă = Về việc chế đồ dùng th́ chuộng h́nh tượng." (Hệ-Thượng X/1), không phải bằng danh-xưng hoả-phong Đỉnh, mà bằng quẻ thủy-lôi Truân. Truân và Đỉnh là hai quẻ tương-đối, tương-thác (1’s complement). Muốn đúc đỉnh phải có thị-phạm (khuôn phép, cách-thức). Truân là thị-phạm cuả Đỉnh. Kỳ-diệu thay, tượng cuả Dịch ! Chấn, hạ-quái cuả Truân, là chân.

Khôn là bụng : ba hào nhị-tam-tứ cuả Truân là khôn. Khảm là tai : thượng-quái cuả Truân là khảm. Hào cuả Truân ăn khớp với hào cuả Đỉnh (tương-thác), mà chứng-cớ trong Thuyết-quái-truyện không ǵ là chẳng vẫn-hợp. Thế mới biết Thánh-nhân thủ tượng linh-diệu vô cùng.

Hoặc bảo rằng: Truân và Đỉnh, một quẻ ở Thượng-Kinh, một quẻ ở Hạ-Kinh, nhận xét rằng hai quẻ tương-thông, có căn-cứ không ? Trên kia ta đă biết Đỉnh và Tỉnh là hai tượng cốt cán cuả Dịch. Đối-quái cuả Đỉnh là Truân, c̣n đối-quái cuả Tỉnh là Phê-hạp mà ta đă dùng để cắt nghiă mệnh-đề bí-hiểm "Tốn vi cận lợi thị dĩ tam bội = Tốn là ở gần chợ, có lợi gấp ba lần." ở bài kỳ 73. Tỉnh và Phệ-hạp tương-liên, Truân và Đỉnh tương-thông nói lên một cách hùng-hồn là đọc Kinh Dịch không thể đọc qua quít cho xong chuyện. Xin bái-phục hai Dịch-gia Đoan-Môc Quốc-Hồ và Hàng Tân-Trai. 

Lễ = Lư: Kiền cửu-tam, hanh gia chi hội dă: (Chu Dịch Chỉ, 220, Tập VIII, tr. 279-281)

Xin xem lại Mệnh-quái nơi bài kỳ 69 và tiết-mục "Thiên-điạ Đại-nghiă Nhân-chung-thủy", nơi bài Kỳ 78.

Để hợp lễ, Kiền cửu-tam (quẻ Khiêm) bèn biến ra Lư lục-tam, tức thị 'Lư dĩ hoà hạnh, Khiêm dĩ chế lễ = Lư để làm cho nết na hoà diụ, Khiêm để đào-chế nơi điều lễ' (Hệ-Hạ VII/4). Trong chín quẻ cuả Đức Trọng-Ni (Lư, Khiêm, Phục, Hằng, Tổn, Ích, Khổn, Tỉnh, Tốn), tam-tam là cửu tả-hữu, Lư quay sang trái, Kiền viên-chu, chu-triền trung-quy để trung-tả đông-phương, quy-triền tại măo, đương quẻ chấn, có khôn phương gẫy, chiết-triền-trung-củ, lấy trung-hữu tây-phương, củ-triền tại tuất, đương thời quẻ kiền, Lư ~ tả-hữu-triền, là đương thời chấn-kiền là thời lôi-thiên Đại-tráng b. Chính là cửu-tam, quân-tử Đại-tráng để giữ vững 'Phi lễ phất Lư = Hễ cái ǵ không phải lễ th́ chẳng làm.' (Đại-tượng quẻ Đại-tráng). Nên Kiền cửu-tam trùng-cương, cửu-tứ trùng cương, là Tiểu-quá ~ bất-nghi-thượng, nghi-hạ. Nghi-hạ là Đại-tráng chỉ, hạ Lư lễ, thượng Đại-tráng 'Phi lễ phất Lư', bèn là tượng Tiểu-quá, nghi-hạ là Khiêm O, là Lư. Cho nên, Kiền mệnh-quái, thiên-đạo xuống dốc, Kiền hợp lễ, 64 quẻ Dịch đều chủ Tiểu-quá nghi-hạ, là Khiêm-Lư triền-hạ, là tượng thiên-viên-quy-bất-du-hạ (trời tṛn vo không vuột xuống dưới), khôn-phương-củ là chỗ dừng chân cuả lễ, tức là chỗ cùng-cực cuả Dịch, Nên khi Hàn-Tuyên-tử Nhà Tấn, xem sách vở nơi Thái-sử-quán thấy được Dịch-Tượng và Lỗ Xuân Thu mới nói rằng: "Chu-Lễ tuyệt diệt tại Lỗ. Dịch Tượng là Chu Lễ, là di-ngôn thời cổ, thời cổ có thể nói vậy. Nay Chu Lễ đă tán-khuyết, Lễ-nghi Chu-Quan ngoài Lễ ra chỉ c̣n thấy di-ngôn trong Tiểu-Đại-Đới Lễ-Kư". Trong thiên Lễ-Vận Kinh Lễ, Đức Khổng-tử nói rằng: "Viếng nước Tống, ta được Khôn-Kiền". Khôn-Kiền chính là quẻ Quy-muội cuả Quy-Tàng vậy. Nghiă cuả Khôn-Kiền chính là "Thiên-điạ đại-nghiă Nhân-chung-thủy". Hai quẻ Kiền-Khôn, Đế-Ất, Kiền-Lư vần vụ dưới Lư, là chung-thủy cuả lễ-nhân. Nên chi, Lễ tất gốc ở nơi Đại-nhất-phân mà làm trời đất chuyển vần, mà làm âm-dương biến, làm quỷ-thần giáng-thế dưới dạng mệnh cuả con người. Nên mới nói rằng: "Dưỡng-lễ gốc nơi Đại-nhất, tức lễ gốc nơi thiên-kiền thiên-nhất Lư-thủy. Đế-Ất là Đại-nhất vậy. Thái-ất ở trong con người. Rằng : dưỡng tức lễ bắt đầu nơi miếng ăn, ngụm uống, con người thủy chung chúng. Cho nên thiên-vọng, điạ-tàng. Nghiă cuả Khôn-Kiền là Đại-quy-tàng, mà cũng là đại-nhất thiên-phục cuả đất cùng là bản-thủy vậy. Cho nên lễ-vận gốc ở thiên-lễ, khí-bị, đều là di-ngôn c̣n sót lại cuả Kinh Lễ, ấy là lấy Kiền-Khôn gia-hội hợp-lễ tức hợp-nhạc. Dịch Ly-lễ, Khảm-nhạc, Khảm-Ly nhất-nhị Nhạc-kư Đại-nhạc, tất Dịch Đại-lễ, tất giản-dị nhất-nhị. Lẽ giản-dị có được th́ lẽ lễ-nhạc cũng có được. Trời cao đất thấp, vạn-vật tán-thù mà lễ-chế lưu-hành không ngừng, hợp-đồng mà hoá, mà nhạc dấy lên. Trời tôn đất hèn, quân-thần an-định. "Thấp cao đă bầy ra th́ sang hèn chia thành ngôi vậy ; động tĩnh có thường,  th́ lẽ cứng mềm đă quyết-đoán vậy ; loại tụ lại từng phương, vật chia ra từng bầy" (Hệ-Thượng I/1), Ắt tính-mệnh không giống nhau. Tượng thành trên trời, h́nh thành dưới đất, như thế ắt lễ là đặc-tính cuả trời đất vậy. Điạ-khí xông lên, thiên-khí giáng xuống, âm dương cọ sát nhau, trời đất động chạm nhau. Cổ-động bằng sấm sét, phấn-chấn bằng gió mưa, khơi động bằng bốn muà, sưởi ấm bằng nhật-nguyệt, bách-hoá dấy lên chăng ? Như thế, hẳn lễ là hoà-giai cuả trời đất. Lễ-nhạc ấy cuả trời đất xuất-phát từ Dịch. Nói về nhạc tất trước nói về lễ. Cho nên, lư-triền (rationale) cuả Dịch là lễ vậy, Chu-Dịch là biểu-tượng cuả Chu-Lễ vậy. Trong thiên 'Khuyến-Học' Tuân-tử nói : "Học đến Kinh Lễ mà ngừng là đă đạt mức đạo-đức cao nhất. Học Kinh không Kinh nào hưng-thịnh hơn Lễ, chí-thuận  hơn Thi,Thư" (283, tr. 59). Đă học, phải học-tập suốt đời. Học đến Lễ mà đă ngừng rồi, th́ mạt thế cùng niên cũng chỉ là một lậu-nho mà thôi. Ư Tuân-tử muốn bảo là: Lễ là Dịch. Lấy trên tượng trời, lấy dưới tượng đất, lấy giữa tượng nhân-học. Cố-học để nhất-quán, Khi Hàn-Tuyên-tử và Tuân-tử nói về Lễ là nói về Dịch-tượng đấy. Vậy nên lư-triền cuả Dịch, ngôi tôn-ti trên dưới, được trung-chính, thiên-điạ viên-phương, quy-củ cùng cực là quư nhất rồi. 

Kiền vi thiên: (Chu Dịch Chỉ, 220, Tập VIII, tr. 282-287)

Thời cổ nói về thiên-thể tức Thiên-văn có ba nhà là: Cái-thiên 蓋天 (có chép trong Chu-bễ Toán-kinh 周髀算經), Tuyên-dạ 宣夜 (không có trường-phái) và Hỗn-thiên 渾天 cuả Trương-Hành. Cả bà nhà đều đề-cập quẻ 'Kiền vi thiên'. Chúng ta đă gặp cả loại Thiên-văn này nơi các bài kỳ 03 (TAM-ĐẠI-DỊCH) và bài kỳ 11. Mà Cái-thiên lại xuất-xứ từ Chu-Bễ. Bào-Hi sáng-tạo ra chu-thiên lịch-độ, từ vô tạo ra thủy, từ hữu biết có chung. Khi vô-hữu vượt khỏi Cái-thiên là đi qua Tuyên-dạ.

H́nh 7.16 Thiên-văn Cái-thiên (theo Herbert Chatley)

Thuyết Cái-thiên (hemispherical dome) cổ nhất. Ṿm trời được coi như cái một cái bát khổng-lồ úp sấp lên khí-quyển trái đất, cũng được coi như môt bát úp nhỏ hơn (H́nh 7.16). Hai bát úp cách nhau chừng 80,000 dặm tức khoảng 46,000 km (1 dặm Tầu 0.576 km). Cḥm Đại-hùng-tinh ở giữa bầu trời (thời xa xưa đó nó ở khoảng toạ-độ cuả Hàng-châu tức thị 120010 Đông và 30017 Bắc), và Trung-quốc nằm chính giữa trái đất, thời đó được coi là một h́nh vuông (thiên viên điạ phương). Mưa rơi tụ lại trong vực khổng-lồ quanh trái đất lập thành tứ-hải (đại-uyên). Trời tṛn quay tít như con vụ từ phải sang trái, mang theo mặt trời và trăng sao; các thiên-thể này có chuyển-động độc-lập từ trái sang phải và xoay chậm hơn. Mọc lặn cuả các thiên-thể chỉ là ảo-giác. Trên thực-tế không bao giờ chúng đi xuống dưới chân trời. Năm 265, Ngu Sung, rất có thể là nội-tổ cuả Ngu Hỉ khám-phá ra hiện-tượng tuế-sai (Xin xem lại mục  Ngày Trong Tuần, nơi bài kỳ 05).

Theo Chu-Bễ, mặt trời có thể chiếu sáng một vùng có đường kính bằng 167,000 dặm tức 96,000 km. Dân chúng ở ngoài vùng ấy tưởng là mặt trời chưa mọc, trong khi dân trong vùng tận-hưởng ánh sáng mặt trời. Thiên-văn-gia thời đó tưởng mặt trời là một ngôi sao vùng quanh bắc cực (circumpolar star), làm phận-sự một chiếc đèn pin quay tṛn khổng-lồ. Họ cũng tin rằng vũ-trụ quay quanh thiên-trục, không phải cố-định, mà trồi lên trụt xuống tại chỗ: thiên-cực xa trái đất hơn lúc muà hè, và gần trái đất hơn vảo muà đông. 

Thuyết Hỗn-thiên (the celestial sphere) ứng với chuyển-động h́nh cầu quanh trái đất. Ư-kiến này xuất-hiện khoảng thế-kỷ thứ 4 BC, khi Thạch-Thân lập bảng tên sao. Thuyết Hỗn-thiên này tức Linh-hiến của Trương-Hành 張衡, là người đầu chế ra Hỗn-nghi (H́nh 7.17) được ghi trong trước-tác Hỗn-nghi-chú cuả ông. Ông viết:

H́nh 7.17 Hỗn-nghi truyền thống được Ignatius Kögler và cộng-sự-viên cuả ông dựng lên  năm 1744 tại Thiên-văn-đài Bắc-kinh 

"Bầu trời như  quả trứng gà và tṛn vo như viên đạn. Trái đất như ḷng đỏ trứng đứng chơ vơ chính giữa trời. Trời to, đất nhỏ. Phần thấp cuả trời có nước và trái đất nổi trên mặt nước ấy. C̣n trời được khí nâng đỡ. Ṿng

Chính v́ thế mà lúc nào ta cũng chỉ thấy phân nửa nhi-thập-bát tú mà thôi. Đây là hệ-quả cuả chuyển-động biểu-kiến cuả mặt trời. Hai cực cuả bầu trời là cực bắc và cực nam. Cực bắc ở lưng chừng trời và nằm đúng 360 trên mặt đất. Bởi vậy, một ṿng tṛn khẩu-độ là 720 sẽ bao lấy tất cả ngôi sao thấy được thường-trực.


Sau này có nhiều sách hoặc tán-dương, hoặc kích bác thuyết Cái-thiên. Cuối thế-kỷ thứ nhất công--nguyên, Vương-Sung mặc dầu có nhiều chỗ không tán-đồng thuyết này, nhưng vẫn c̣n tiếc cuả trời, thắc-mắc là tại sao mặt trời toàn-dương lại có thể đi qua nước toàn-âm được. Sau này Cát-Hồng giúp sức cho thuyềt Hỗn-thiên bằng lư-luận là rồng dù có dương-tính cao vẫn có thể sống trong nước có âm-tính cao được.
 

Thuyết Tuyên-dạ (infinite empty space) được gắn liền với Hi-Manh, sống về đời Hậu-Hán, có thể sống cùng thời nhưng già hơn Trương-Hành. Hơn một thế-kỷ sau, Cát-Hồng viết: "Sách cuả trường-phái Tuyên-dạ nay đă thất-truyền, nhưng Hi-manh, một quản thủ thư-viện cuả trường-phái này có ghi lại thuyết cuả các tiên-sư như sau:

"Bầu trời vô-chất, ngửa cổ lên quan-sát thấy nó cao-xa thăm thẳm, xanh ngắt một mầu (kỳ thực đây chỉ là hệ-quả cuả luật khuyếch-tán cuả Lord Rayleigh : Độ tán-quang tỷ-lệ nghịch với tứ-thừa cuả độ dài sóng).

Nhật-nguyệt và các sao bềnh bồng hoặc đứng yên giữa không trung. Tất cả đều là khí nén. Thất-diệu có khi th́ quay theo chiều thuận, có khi lại quay theo chiều nghịch (Thủy-tinh), tuồng như tuân theo quy-luật khác biệt. Chúng không bấu viú vào đâu mà lại cũng không ràng buộc với nhau, nên chuyển-động mới biến đổi nhiều đến thế. Trong các thiên-thể, Bắc-đẩu giữ nguyên-vị, và cḥm sao Đại-hùng-tinh không bao đi xuống dưới chân trời như các ngội sao khác".

Trường-phái Tuyên-dạ bành-trướng trong tư-tưởng Trung-quốc. Tỷ-dụ như Trương-Hành khi khuyếch-trương thuyết Hỗn-thiên viết rằng: "Ta có thể tính toán các khoảng cách thiên-văn. Nhưng không ai biết ngoài thiên-cầu có ǵ. Ta gọi đó là vũ-trụ. Ông chấp-nhận gián-tiếp thuyết Tuyên-dạ. Thành thử ra ngoài các thiên-cầu không-gian bao la vô-giới-hạn.

Cổ-thiên-văn Trung-hoa có nhược-điểm là hoàn-toàn dựa vào quan-sát mà không có lư-thuyết. Điều đó là hậu-quả cuả sự-kiện họ không có Hính-học diễn-dịch kiểu H́nh-học Euclid.

Hệ-thống Tuyên-dạ mang mầu sắc tôn-giáo với các ư-niệm hư-vô cuả Lăo-tử, ư-niệm khí chồng chất cuả Liệt-tử, ư-niệm không-gian vô-cùng vô-tận và Ta-bà thế-giới cuả Nhà Phật. Từ nhà Tấn trở đi, Thuyết Tuyên-dạ hội-nhập thêm nhiều quan-niệm khác cuả Phật-giáo. Phải đợi đến thế-kỷ thứ 12, Đại-Hán-nho Chu-Hi mới quả-thuyết là trời phi-vật-chất và trống rỗng.  

Trương-Tái (1020-77), tự Tử-hậu, chủ-trương thái-không vô-vật-chất, trái đất toàn-âm nằm tại tâm vũ-trụ, trong khi bầu trời toàn-dương vần-vụ ngược chiều kim đồng-hồ, khi ta nh́n về phiá thiên-cực. Định-tinh được khí xung quanh xoay vần không ngừng. Để cắt nghiă chuyển-động hằng năm cuả nhật-nguyệt-tinh-thần ông nghĩ ra ư-kiến: sức cản khí trời làm các thiên-thể di-động. Phải chăng đây là hệ-quả cuả định-luật thứ ba cuả Newton về Động-lực-học, phát-biểu cân bằng giữa tác-lực và phản-lực ?

Kiền vi thiên là nói về thiên-thể. Sáu hào trên dưới là tam-thể. Mà người giỏi về Thiên-Chu-Bễ hẳn biết rằng 'Hàm kỳ cổ = cảm được bắp vế' (Hào-từ cửu-tam quẻ Hàm) cuả Dịch ám-chỉ Chu-Bễ chuyên nói vê Kiền-thiên tây-bắc. Quẻ Kiền ở Thượng-Kinh và quẻ Hàm ở Hạ-Kinh liên-lạc mật-thiết với nhau. Trong Kinh Dịch, tư-thiên-nhất, dậu-điạ-thập. Kiền tây-bắc thiên-điạ-số không (0). Thiên-điạ vạn-vật đều biết số cuả chúng từ đâu mà có, tức biết số cuả chúng do đâu lại chẳng có. Kiền tây-bắc không giáp ṿng (Ai sành Tử-Vi cũng đều biết giữa hai cung tuất-hợi (tây-bắc) không bao giờ có Triệt-lộ không-vong. Hàm biết điều đó nên bổ-khuyết cho Kiền, Hàm là chu toàn vậy. Bắp vế là bễ  (bắp vế) vậy. Hàm biểu-thị bắp vế. Cấn là da bao bên ngoài. Thành thử ra đạo 'Hàm kỳ cổ' chính là chu-bễ (bắp vế chu-lưu) vậy. Ấy là nói được thiên-thể Kiền tứ-sơ, là quẻ chấn cuả Kiền. Kiền sơ-dương ở dưới, trời sáng nhập đất, giữa đêm, đang sáng, trồi khỏi mặt đất lúc ban ngày, nơi măo-môn chấn, khai-minh chấn Tuyên-dạ, ấy là Tuyên-dạ xuất vậy. Thuyết này cho rằng nhật-nguyệt và các sao, tự dưng sinh nổi giữa hư-không, vận-hành và dừng lại đều tu-khí tức tu-chấn sinh khí, thất-diệu hoặc trôi qua, hoặc trụ lại, hoặc thuận, hoặc nghịch, phục-kiến vô-thường, tiến-thoái không giống nhau, không chỗ bám vào, là chấn-kiền tứ trên dưới vô-thường, tiến thoái vô-hằng, thất-diệu hoặc thuận, hoặc nghịch. Cho nên thần-cực thường ở chỗ cuả nó, mà Bắc-đẩu không lặn ở phương tây như các sao khác. Là chấn tứ có tượng cấn, Đẩu không lặn. Chấn tứ có tượng khảm, chúng-tinh phù-sinh. Đấy là Tuyên-dạ bất quá là tượng Kiền tứ-sơ. Nói được một quẻ chấn, không thể lột trần hết được thiên-thể Kiền. Hỗn-thiên là nói được Kiền ngũ-nhị, thiên-thể là quẻ khảm cuả Kiền, Kiền-nhị, thiên-nhất xuất-hiện, có thủy-lôi Truân thiên-tạo lịch-nguyên kiến-nguyên là xuất. Đó là đại-nhân-tạo. Trên dưới hỗn-độn là thiên-nhất thủy lưu-thông, Kiền nguyên-nhất bèn thống-thiên. Đó chính là hỗn-thiên vậy. Thuyết này cho bầu trời giống như vỏ trứng gà, c̣n quả đất tựa như ḷng đỏ trứng nằm bên trong. Trời lớn mà đất nhỏ. Ngoài mặt cũng như trong ḷng trời có nước. Trời đất đều có khí tải nước mà lưu-hành. Ấy là trên dưới khảm, trời tải nước, đất cũng tải nước, đi giáp ṿng trời trong 3650, chính giữa chia thành hai phần: phần trên bao trùm đất, phần dưới vần-vụ quanh đất. Ấy là trên dưới khảm kính b́nh, nên chi nhị-thập-bát tú nửa ẩn, nửa hiện. Khảm là cung-luân, trời vận-chuyển như truc xe, trời ra vào nước (sic), mặt trời ban ngày xoay vần trên mặt đất, ban đêm di-chuyển dưới mặt đất. trên dưới lưu-thông, làm ẩn-phục, nửa ẩn, nửa hiện. Khảm là cung-luân, trời đất vận-chuyển, khảm là tâm quay. Số độ chu-thiên đều xuất-phát quanh khảm. Chư-luận về trời cùng là lịch-pháp là đời suy, đời làm, đều lấy lư hỗn-thiên để được trời kiền ngũ-nhị, bèn là đại-nhân lợi-kiến, có đương-đạo không đổi, có dương vượng sửa lịch. Lợi-kiến ấy là cái con người có thể thấy được. Ai ai cũng lấy cái thấy được để làm lịch, đạo bách-thế không đổi, chính là Hỗn-thiên. Hỗn-thiên bất-quá là tượng. Kiền ngũ-nhị nói là được một quái-thể khảm, không cứ được toàn-thiên-thể kiền. Cái-thiên là nói được thiên-hào kiền thượng-tam, thiên-thể là quẻ cấn cuả kiền. Cấn là kiền úp sấp, trời điên-đảo, quẻ Đại-quá có cấn phủ đầu, Đại-quá đảo ngược, dưới là cấn phản chấn, mé dưới cuả Cái-thiên chính là Tuyên-dạ. Bao quanh Bắc-đẩu thất-chính (tức nhật-nguyệt và ngũ-tinh), số cuả thiên-điạ chung-thủy xuất-nhập, là thiên-thượng-cái, mà thiên-thể tứ-sơ-ngũ-nhị-vô bất-tận đấy, chính là Cái-thiên. Trải qua thiên-đạo xa vời diệu-vợi khó thấy, Tuyên-dạ là tượng chấn, kiền sơ tiềm-ẩn, ẩn nên chưa thấy, con người không thấy kịp, thấy Kiền-tứ hoặc-dược, đạo Kiền cách-trị trải qua hào sơ, chưa rơ-ràng, con người không hiểu được. Cho nên lẽ đó thất-truyền. Hỗn-thiên là tượng khảm, thấy trên dưới, khảm dưới đất tải nước, có chấn khởi dưới đất, khảm nhị có chấn là tượng cuả Tuyên-dạ. Khảm trên trời tải nước, có thiên-thượng cấn úp, hào khảm ngũ có tượng cuả cấn Cái-thiên. Trên cấn úp xuống, dưới chấn ngửa lên. Hỗn-thiên, trời đất trên dưới chu-hồi trong nước. Trên trời, nhật-nguyệt-tinh-thần ẩn-hiện đều có thể lường được, để lập thành tượng Tuyên-dạ/Cái-thiên trên dưới. Bèn là khảm tượng Hỗn-thiên trung-gian. Cho nên cách-trị lịch đều dùng ba bậc tư-sửu-dần, tư-nhất-chu, là trị-lịch cách-nhất-tựu, tư thiên-nhất-chu, điạ-thượng-hạ, thiên-viên là ḷng trắng trứng gà, sửu-nhất-chu, là trị-lịch cách-nhị-tựu, sửu-điạ nhị-chu, thiên-trung-ương, điạ-viên là tượng ḷng đỏ trứng gà. Dần-nhất-chu là trị-lịch cách-tam-tựu, là cấn-cái-thiên, cấn thành-ngôn thành-tựu vậy. 'Cách ngôn tam tựu = Sự biến đổi phải nói ba lần' (hào-từ Cách cửu-tam), cấn b́-cách bao điạ-viên thiên-viên thượng-hạ là ḷng trắng, ḷng đỏ trứng gà, ngoài là vỏ trứng tṛn, là tượng trời đất củng dụng cách trị lịch bỏ Cái-thiên cách-tam–tựu, ắt nơi tây-bắc, kiền bất-chu, khảm bất-thông, c̣n biết làm ǵ nữa ? (Tiên-thiên cấn Cái-thiên). Cho nên Hàm không ǵ là không chu-toàn, đó chính là Cái-thiên. Cái-thiên-gia nói: tượng trời như cái lọng, phép đất như cái lồng bàn úp sấp. Trời đất chính giữa đều cao, ngoài bià rủ xuống phiá dưới bắc-cực, làm thành chính giữa cuả trời đất. Đất cao man mác, bốn bên sụt lở xuống, nhật-nguyệt vận-hành, ánh sáng chiếu tứ phiá để làm đêm ngày, là quẻ cấn ở trên, 'cấn kỳ bối, = ngăn cái lưng' (Cấn Thoán), Cấn bèn là cái lồng bàn, mé dưới ngăn ngang hông, đất bèn úp mâm. Trời đất đề cao ở giữa, phiá ngoài rủ xuống, đều có h́nh ngăn ngang hông, ánh mặt trời chiếu sáng bốn bên, làm ngày đêm, là đất chính giữa cao, mặt trời từ giờ dần đến chiều tối, 'cấn kỳ hạn, liệt kỳ dần = ngăn ngang lưng quần, bị liệt giữa xương sống' (Cấn cửu-tam), mà lấy cấn lưng đêm phản cấn lưng, ngày ở dưới bắc-cực làm chính giữa trời đất. Phương bắc giữa cung tư, tại sửu dưới bắc-cực, cấn dưới thắt lưng. Cho nên, bắc-cực ở giữa trời đất, nhật-đạo đi đông, tây, nam, bắc, nơi giữa bắc-cực đều là đất cấn-bối nhật-đạo hành cực chi tứ-du mà đều lấy cấn-bối bắc, nửa đêm. Day lưng lại phiá cấn bối bắc, đúng ngọ, mà lấy cực chu bốn phương, ban ngày ban đêm đổi chỗ, thêm bốn muà bắt kịp nhau, tức nóng lạnh đồi khí-hậu, bắc-cực trái phải, vật có loại sớm trồng tối hái, là bắc khảm-tư, ḷng như bị gai đâm mau tại cấn, ngọ cảm nhanh, vật có loài sớm sinh tối chết, tư cảm mau, vật có loại, sớm trồng tối gặt, cức tâm là cực. Dưới bắc-cực, cấn-cực bất-động, mà trung-khảm cức-tâm cực động, là lấy kiền viên-vận, bèn kiền viên-tốc gần trung-tâm cực, mà dời xa cực tứ-du, ngoài khôn vuông, bèn không lật đật mà mau lẹ không đi mà đến, mà bốn muà bắt kịp nhau. Cái-thiên nói : trời chuyển như thôi-ma mà đi qua trái, nhật-nguyệt đi qua phải, tả-chuyển theo trời. Cho nên, trên thực-tế, mặt trời đi về phiá đông, mà thiên-suất lại làm lặn nơi phiá tây, mà đi chậm như kiến ḅ (nghĩ-hành), cọ trên là thâu, là quẻ cấn trên dưới, cấn cọ sát dưới, cấn chỉ bất-động. Trên có cấn, dưới chấn thể, trời chuyển-động ma-sát, ma-xỉ hành-hợp trời đất trên dưới thuận-nghịch. Trời đất, bên trái, đẩy cọ tả-triền, muôn vật âm-dương nhập, tức bên phải,  đẩy cọ hữu-triền, muôn vật âm-dương xuất. Ấy là âm-dương cấn trên dưới giới-hạn hai hàng trái phải. Cấn một bên thành-chung nhập, tức cấn một bên thành-thủy xuất. Nhật-nguyệt nóng lạnh đun đẩy nhau đều là tượng Hàm chu-tạp (qua hết một ṿng). Nên nghĩ-hành cọ sát trên để tượng trên dưới, con người đi trên đất tṛn, dọc ngang đều thấy khôn vuông, đều thấy thiên-tại ở trên, điạ-tại ở dưới, nơi trời đất, chính tư-ngọ tại sửu-mùi mà đo-đạc. Tây-bắc tuất-hợi là tại hợi-tư, mà đất tṛn tại giữa trời tṛn. Trời đất tư-nhất dậu-thập là ở một bên phiá dưới. Tư-nhất dậu-thập có thiên-điạ-số, có xử-nhân-số mà tại chính-đương tuất-hợi mé dưới thiên-điạ-số không có, là đất thiên-điạ-số xuất-hữu bất khả nhập, nhập vô bất khả xuất, làm hữu-vô đại-cấn-hạn. Con người bất-thông kính-lộ, ở trường-hợp đó, làm Hàm vô Chu-bễ 'Hàm kỳ cổ', lúc ấy số cùng-quá, dĩ-văng ấy chưa hay hoặc biết đấy. Nên tây-bắc kiền thiên 'Hàm kỳ cổ', đông-nam tốn-kiền thiên-viên ra vào nước, thủy-hoả khảm-ly-luân đều là tốn lấy mộc-tốn-thủy, tốn-hoả, khảm-ly thủy-hoả-luân mà thiên-viên bên ngoài. Cái-thiên cấn phản-phục đấy (Xem Quan di), đất tṛn, trời tṛn, ḷng đỏ, ḷng trắng, vỏ ngoài số cùng, tượng cùng, bèn mé ngoài là tốn gió làm cho tṛn. Trời đất đều dựa gíó mà đứng lên. Tốn gió là khí vậy. Dịch-tượng tốn không đổi, chỉ gọi là tốn (khoẻ mạnh mà tốn-thuận, mà tốn-đẳng). Nên Dịch Kiền cửu lư-triền, 1-9 tốn tây-nam thân, 2-9 tốn đông-nam tỵ, 3-9 tốn đông-bắc dần, đều bèn là tốn tây-bắc hợi lư-triền. Là tốn gió tây-bắc không chu-toàn mà gió chu kiền-hoàn làm cho tṛn. Trong trời đất, tốn là gió, tốn là mộc, để tốn thủy hoả, bánh xe cuả nó quay tṛn không ngừng. Tức khảm đông-bắc, nơi mộc là cứng, nhiều ruột, c̣n cấn nơi mộc là cứng, nhiều tiết, như ḷng bốn muà bị gai đâm, kiền hoàn-vận, đa tâm-khảm, nhiều tiết-cấn, mà nơi mộc đều tốn, là bắp đùi, cảm bắp đùi, chu-bễ nơi tây-bắc cho chu-toàn, không có ǵ là không chu-toàn, đó là Cái-thiên vậy. Cho nên Cái-thiên, kiền trên cấn, thiên-thể tứ-sơ-ngũ-nhị-vô bất-tận, mà để bao gồm Tuyên-dạ, Hỗn-thiên, Cái-thiên. Ấy là sáu hào cuả Kiền trên dưới ba thể bảo là thiên-thể không phải là quá đáng vậy.

  

 

 

Xem Kỳ 85

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com