www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 82)

 

Dịch Tu-Từ

 

Văn-Ngôn hào cửu-tam quẻ Kiền nói: "Tu từ lập kỳ thành = Chau chuốt lời nói, gây dựng ḷng thành". Chữ nghiă Kinh Dịch phong-phú lắm, nói làm sao cho xuể. Nay xin tuyển lựa một thiểu-số uẩn áo làm tỷ-dụ. Đa-số thí-dụ được rút từ thiên Đoán-từ trong sách Chu Dịch Chỉ cuả Đoan-Mộc Quốc-Hồ (220, Tập VIII, tr. 257-305). 

Lợi kiến đại-nhân, Lợi thiệp đại xuyên: (220, Tập VIII, tr. 258-262)   

Đậu "Lợi kiến đại nhân = Lợi ra mắt đại-nhân" thường xuất-hiện trong Kinh Dịch (cả thẩy 11 lần). Mặt khác, đậu "Lợi thiệp đại xuyên = Lợi qua sông lớn" cũng thường xuất-hiện trong Kinh Dịch (cả thẩy 10 lần). Chúng có ư-nghiă ǵ ?

Đại-tượng hai quẻ Khảm, Ly đều là Kiền nhị-ngũ, Khảm-hào đại-xuyên大川 (sông lớn): chữ xuyên cổ văn  chỉ là chữ tam cổ-văn , dựng đứng lên, tượng-trưng quẻ kiền đứng mà thôi. Đại-xuyên 大川  là Kiền ngũ Ly-hào Đại-nhân. Đối với Dịch, Ly ^ Đại-nhân lợi-dụng 'kiến' tức Khảm ] 'đại-xuyên' lợi-dụng 'thiệp'. Ly đại-nhân xuất-xứ từ dần cấn nhân-đạo nhất-nhân-đại, nơi sửu, Ly tượng phần trên cuả chữ đại , tức quẻ Thăng n. Bắt đầu thăng cao, đi lên thượng, là "Thăng, dụng kiến đại-nhân = Thăng, dùng để ra mắt đại-nhân" (Thăng Thoán), tức sửu tượng phần dưới chữ đại , là quẻ Khiêm O. Khiêm bắt đầu sớm đi xuống dưới, là Khiêm "Dụng thiệp đại xuyên", ấy là lấy "thiệp đại xuyên. hành điạ hữu lai, lợi thiệp kiến đại-nhân, hành thiên tả văng lợi kiến". Cho nên đại-xuyên trước sau là tượng Trùng-Khảm ] tây-bắc. Khảm hăm, lợi kiến Ly minh mà lấy "Lợi kiến đại nhân", ly đông-nam. Đại-nhân trước sau là tượng Trùng Ly ^ đông-nam, tức Ly hư, lợi thiệp Khảm hiểm, mà lấy lợi thiệp Khảm đại-xuyên tây-bắc, bèn là tiên Khảm kiến đại-nhân, mà Ly hậu thiệp đại-xuyên. mà lập thành hai đại-tượng 'lợi kiến', 'lợi thiệp' cuả Dịch. Nên chi, Kiền nhị-ngũ Khảm-hào lợi Ly, "Lợi kiến đại nhân". Tiên-thiên phất vi hành. Quẻ tiên-thiên Trùng-Khảm tây-bắc là đại-xuyên, mà cũng là ly đại-nhân, khảm nhập u, nơi "Lợi kiến đại nhân" là tả văng nhất lộ tiên-tùng lợi kiến. Lợi kiến là tây dé sang bắc, khảm-khôn sánh nhật-nguyệt, hạ thuận văng bắc, mà đông khôn-ly rọi sáng Minh-di dưới nhật-nguyệt. Tượng Đại-nhân là u-nhân. Đông dé nam, ly-kiền, đại-hữu-minh là biện nam dé tây Kiền-Khảm thiên-thủy Tụng, biện-minh để lợi tây-nam, bắt đầu bằng Ly xuất Khảm u, thấy tượng đại-nhân, đó là Dịch-Thoán khởi đầu Tụng "Lợi kiến đại nhân", là 'văng nhất lộ lợi', mà Tụng "Bất lợi thiệp đại xuyên", tức thị 'văng nhất lộ bất lợi', 'tiên thiên phất vi hành' ấy, Tụng 'vi hành, bất lợi thiệp đại xuyên' ấy, mà có 'hữu lai nhất lộ' để 'tả hành thiên', là 'hữu hành điạ', là ly 'đại-nhân lợi kiến' (minh lưỡng tác = đại-nhân). mà là khảm đại-xuyên, là 'ly xuất minh vu thiệp đại-xuyên', là 'hữu lai nhất lộ, hậu tùng ly hư, ly hư bất doanh', là người 'lợi thiệp', là nam dé đông, kiền ly. thiên-hoả Đồng-nhân, tức sánh nhật-nguyệt nhị Đồng-nhân kiến, đông dé bắc, ly-khôn hoả-điạ Tấn, tức Minh-di đại-nhân là u-nhân xuất minh, mà đại-xuyên, là người gặp đại-nạn th́ xuất-hiểm, bắc dé tây khôn-kiền điạ-thủy Sư chúng, tức Đại-hữu chúng, tây dé nam, khảm-kiền thủy-thiên Nhu, ba người tụ lại thành đám đông, đại lai để cứu giúp đại-xuyên, đại-hiểm, mà lấy lợi tây-nam, bắt đầu thoát khỏi khảm u, tức khảm thông ly hư, là tượng cấn cứu-tế đại-xuyên. Ấy là Thoán Dịch-quái bắt đầu cần đến 'lợi thiệp đại xuyên', là 'lai nhất lộ' mà 'văng nhất lộ', là người 'tiên vi-hành', 'Tụng, bất lợi thiệp đại xuyên' vậy. (Quẻ hậu-thiên, khảm-kiền lai văng, tức Nhu lai, Tụng văng). Đều là tiên-thiên tốn, lợi tây-nam. Tốn mộc nhúng vào thủy, khảm đại-xuyên lợi, tốn củi đút vào lửa, ly đại-nhân lợi, là lấy quẻ 'lợi thiệp đại xuyên', chung cuộc chèo thuyền dùng chỗ không-hư cuả quẻ Trung-phu, quẻ 'Lợi kiến đại nhân', kết-thúc bằng quẻ tốn 'lợi hữu du văng' vậy. Khi ấy cứ hậu-thiên mà thời hành. Kiền tây-bắc, đại-nhân khốn', tức kiền tây-bắc đại-xuyên hăm, ly bất xuất khảm mà đại-nhân lấy Tụng 'vi-hành nhập uyên', là 'ly minh tại khảm u', ấy là ly tưọng Tụng trất (bị tắc nghẽn), Kiển bất-thông, tức là khảm tượng Nhu 'tu nghi đăi Đồng-nhân duy năng thông'. Cho nên, Tụng 'Lợi kiến đại nhân', Kiển 'Lợi kiến đại nhân', Nhu 'lợi thiệp đại xuyên', Đồng-nhân 'lợi thiệp đại xuyên', 'đại xuyên' tượng bất-thông, bèn là thiên-điạ ly hư bất tức, khảm doanh bất tiêu, Cổ đại-sự. Tận-dụng lợi thiệp đại xuyên, là lấy Ly hư mà Tụy tụ, Khảm doanh mà Đại-súc thông,  Tụy 'Lợi kiến đại nhân', Đại-súc 'lợi thiệp đại xuyên'. 'Đại-nhân', 'đại-xuyên', thiên-điạ thủy-hoả là hai đại-tượng tốn-tề. Bèn là kiền tây-bắc khốn đại-nhân, đối tốn đông-nam, mộc-đạo tốn hoả. Mộc Trùng-Tốn đông-nam, Ly trùng minh tượng 'lợi kiến', là tốn 'lợi kiến đại nhân' vậy. Tức là tốn đông-nam đối Kiền tây-bắc, đại-xuyên mộc-đạo tốn mộc. Mộc trùng-tốn tây-bắc, khảm trùng-hiểm 'lợi thiệp', thành thử ra tốn mộc-đạo có công. Đối kiền thời-thừa, kiền đại-xuyên thừa mộc, có trùng ly hư, tế trùng-khảm hiểm, để tế bất-thông, là lấy 'mộc-đạo năi hành'.  Ích 'lợi thiệp đại xuyên, thừa mộc hữu công'. 'Hooán, lợi thiệp đại xuyên' là 'thừa mộc châu hư Trung-phu, lợi thiệp đại xuyên' vậy. Hai đại-tượng 'khảm  ly tương-tế' cuả trời đất là dùng Khảm nội, Kiển ngoại, thấy trên Ly, Kiển 'lợi kiến đại nhân'. 'Khảm vi-hành', 'Di phất kinh văng', Di ngũ 'Bất khả thiệp đại xuyên'. Thượng: do Di lai thượng 'lợi thiệp đại xuyên'. Ly Khảm lai phản Kư-tế. Vị-tế, tam 'lợi thiệp đại xuyên' đều là như thế. Nên chi, 'lợi kiến đại nhân', Kiền có thể thấy đi đến bốn quẻ có 'lợi kiến đại nhân' trong lời Thoán là: Tụng, Kiển, Tụy, Tốn. C̣n 'lợi thiệp đại xuyên' th́ có 7 quẻ thiên-hành phản-phục. Trong khi quẻ có 'lợi thiệp đại xuyên' trong lời Thoán th́ có 7 là: Nhu, Đồng-nhân, Cổ, Đại-súc, Ích, Hoán, Trung-phu. Bẩy là số cuả Khảm chính bắc, là số cuả Bắc-đẩu. Thiệp đại-xuyên mà thấy sao Bắc-đẩu là nam-bắc định vậy. Đấy là Kiền tây-bắc đối đông-nam. Đại-nhân, đại-xuyên là quẻ số 4 và 7. 'Lợi kiến đại nhân' là quẻ số 4, đảm đương chấn măo 4. Phương đông mặt trời mọc bên trên tú tâm và sao Đại-hoả, tượng là đại-nhân lợi kiến bốn lần. Quái-số cuả 'lợi thiệp đại xuyên' là 7, đảm-đương ly ngọ 7, nam nhật-trung (chính ngọ) là tượng thất-tinh, tức chính-bắc Đẩu chỉ-nam tượng thất-tinh, là 'lợi thiệp đại xuyên' số 7. Các số 4, 7 ấy, đảm-đương đông-nam chấn-ly, Phong nhật-trung kiến đại-nhân lợi, nhật-trung-đẩu, kiến đẩu (Phong lục-nhị và cửu-tứ) thiệp-đại-xuyên-lợi (Đẩu ất mộc là thuyền, Đẩu chỉ-nam thuyền là tượng 'tế bất-thông'), mà là tốn mộc đông-nam làm khốn-đốn đại-nhân Minh-di là 'lợi kiến', tức kiền đại-xuyên, Đại-quá diệt mộc, là 'lợi thiệp', bèn là tác Dịch tại đông-nam, quái-thoán 4, quái-thoán 7, tức là tốn thừa mộc-số. Lấy đông-nam, 4 nhân 7, mà quái-thoán-tượng số 28. Trong Tạp-quái-truyện, tính từ Kiền-Khôn, Minh-di là quẻ thứ 28. Trong Thương-Kinh, quy-chiếu vào Kiền-Khôn Đại-quá cũng là quẻ thứ 28. Đại-quá lấy Minh-di làm khốn-đốn đại-nhân. Đại-quá diệt mộc quá thiệp, chính là Kiền đại-xuyên mà 'lợi kiến', 'lợi thiệp'. Đại-nhân không Ly xuất minh, ắt đại-xuyên không Khảm xuất hiểm. Do hai đại-tượng 'hăm u' và 'bất minh' cuả Dịch mà có tượng 'chung loạn đạo cùng'. 'Lợi kiến đại nhân' xuất-hiện bốn lần trong quái-thoán và 'lợi thiệp đại xuyên' xuất-hiện bẩy lần trong quái-thoán, nói lên mối ưu-hoạn cuả tác-giả Kinh Dịch (Nơi đông-nam, 4, 7 trải qua tú Tinh, ứng với Ly Minh-di ở tuất ch́m vào đất, khảm tư, tú Dực, hoàng-hôn nhập ḷng đất, sáng tinh mơ tú Tâm, vượt khỏi mặt đất, tức Minh-di rũ cánh, tượng tâm xuất môn-đ́nh, đều là tinh-tượng hướng đông-nam cả). 

Kiền nguyên dụng cửu, thiên-hạ trị nghiă: (220, Tập VIII, tr. 262-264 ; 279, tr. 620-2)

Muốn theo dơi tiểu-đoạn này cho thoải mái, xin xem lại mục Luật Lă trong Bài Kỳ 59 (Chương V, nút 59).

Kiền-nguyên dụng cửu cuả Dịch bèn hiện thiên-tắc. Kiền-nguyên tư-thiên-nhất, chính tại Khôn-nguyên sửu-điạ-nhị, mà Kiền-thiên, ắt thiên cửu tại Khôn. Thiên-điạ tư chính sửu, ngọ chính mùi, mặt trời đứng bóng ắt xế tà, trăng đầy ắt nguyệt-thực. Nhật-nguyệt đều lấy đại-tiểu, văng-lai, không vượt khỏi cung thân làm thiên-tắc trung-chính. Đương mùi-sửu, đạo trung-chính, là Tỉnh-pháp vậy. Tỉnh là đạo Kiền dụng cửu, Tỉnh-pháp là thiên-tắc Kiền cửu. Cho nên, đẳng-hoạch vật. Trên đảm-đương Tỉnh ngo-mùi, dưới đảm đương Tỉnh tư-sửu. Trung-chính thượng-hạ đẳng-hoạch không thể vượt quá Kiền  thiên-đạo tam-tứ trùng-cương. Được cửu-tam, cửu-tứ cuả Tiểu-quá bèn là vật thiên-điạ thượng-hạ đẳng-hoạch. Sở dĩ định thiên-tắc dụng cửu vô-quá, bất-cập, mà lấy Tiểu-quá bất nghi thượng, nghi hạ, là lấy Tỉnh dưới đảm-đương tư-sửu, Lâm đại nhật-nguyệt vận-hành ở giữa, nơi thiên-tắc tư-sửu nên hạ-trung mà Lâm đại, bên dưới Tiểu-quá, quy-tắc là gặp Đại-tráng ắt ngừng. Bên trên, Tỉnh đảm-đương ngọ-mùi, Lâm đại nhật-nguyệt vận-hành quá giữa, nơi thiên-tắc ngọ-mùi không nên vượt quá trên, mà Lâm đại nơi Tiểu-quá thượng, quy-tắc là Độn, ắt thoái lui. Quá ngọ-mùi, Độn bất-thoái, quy-tắc tức thân cửu, thiên-tắc là di-tắc, mùi-ngọ dưới Di nhật-nguyệt nhập điạ. Nên Minh-di bên dưới, minh-nhât-nguyệt nên hạ-trung, có thể xuất điạ, nhị thuận để làm phép tắc. Minh-di bên trên, minh-nhật-nguyệt bất-nghi thượng-quá, "sơ đăng thiên, hậu nhập-điạ = trước đi lên tận trời, sau rớt xuống đất." (Minh-di thượng-lục), bên trên sái phép vậy. Ấy là lấy nhật-nguyệt dưới quẻ Tỉnh ở tư-sửu, nhất-nhị Đồng-nhân, hốc giếng u-ám không sáng, quy-tắc thượng phản hạ, nhị-sơ Đồng-nhân, ắt khốn-đốn mà phản-tắc vậy. Ấy là lấy thân di-tắc nơi cửu-quá thiên-tắc Di-hạ, thượng Minh-di, hậu nhập điạ, thất-tắc chỗ đó. Hậu nhập điạ là sơ chấn cửu-hạ xuất điạ, sau đó hữu-tắc vậy. Các điều ấy đều là Kiền dụng cửu, Tỉnh thượng-hạ sửu-mùi đương khôn-cấn sửu, nhật-nguyệt và cấn-đẩu, thượng khôn chuôi, bất nghi thượng, nghi hạ, bèn là thiên-tắc, thiên thả phất vi (trời càng chẳng trái ngược), là thượng-hạ mùi-sửu, đương khôn-cấn làm đẩu-bính (chuôi sao Bắc-đẩu), vô bất lợi, huy-Khiêm chẳng làm sai phép tắc. Ấy là lấy chấn hậu hữu-tắc nghi hạ xuất điạ, là sự tại chính giữa thiên-điạ, Cổ ắt sửa sang để sửa-trị thiên-tắc thượng-hạ bất-trung Cổ-sư. Chấn cửu hạ-xuất để hữu-tắc là tại trung tu-tỉnh đấy. Quá-trung tức tượng bất sự, sự là Cổ, thượng-cửu bất sự, chí có thể dùng làm phép-tắc được. Tất cả đều là kiền-nguyên dụng cửu, thiên-tắc là như vậy. Dụng-cửu là bắt đầu bằng kiền nhị-sơ tư-sửu, sửu-cấn thời ngừng ắt ngừng, thời đi ắt đi. Tư kiền vui ắt đi, buồn ắt làm trái ngược, đều thiên-tắc như vậy, ắt như vậy. Nên chi, Tỉnh thượng-hạ mùi-sửu đương khôn-cấn, khi trước đương tốn-chấn, Tỉnh dời đi ắt dời đi, Tỉnh đổi ắt đổi, quy-tắc cuả nó không nên thượng-quá (Ích-Khiêm). Bèn thiên-điạ ngọ-mùi trung-chính, là dưới dùng đạo Cửu-Tỉnh, không sái phép, Tỉnh-pháp ắt là vậy. Kiền cửu-nhị tại điền, lợi kiến Tỉnh pháp-tắc. Kiền bèn là kiến thiên-tắc vậy. Dịch chính-ngôn đoán-từ ắt hoàn-bị vậy.

Mặt khác, Chu Dịch Thuât Sớ bảo : "Dịch là nguồn cuả Ngũ-kinh". Khổng-tử tu-bổ Kinh Xuân Thu viết: "Nguyên-niên, Xuân-Vương, Tháng Giêng". Hơn cả, dùng nghiă cuả 'Kiền nguyên dụng cửu'. Nên trong Xuân Thu Phiền Lộ (280), Đổng Trọng Thư viết: "Sao Xuân Thu lại quư-trọng nguyên mà cho là khởi đầu ? Bảo rằng : là gốc cuả chính. Đạo là vương-đạo, Vua là khởi thủy cuả con người. Vua chính ắt nguyên-khí hoà thuận, mưa gió thời cảnh-tinh thấy hoàng-long, thấy vua bất-chính, tắc trên biến yêu-tặc cùng là thấy thịnh-trị cuả Tam-Hoàng, Ngũ-Đế, thiên-hạ không dám có tâm cuả quân-dân 11 mà thuế-giáo để ái-sứ trung-kính trưởng-lăo, để thân song-thân, mà tôn-kính, không chiếm đoạt thời-giờ cuả nhân-dân, chu-cấp cho dân no đủ, không oán-thán, không bị nạn cường-tặc, không ham sang giầu, biết xấu hổ khi làm điều ác, cha không khóc con, anh không khóc em, độc trùng không hoành-hành, mănh thú không cắn người ta, trời giáng xuống cam-lộ, chu-thảo sinh ra rượu ngọt (rượu lễ), mưa thuận gió hoà làm cho luá tốt, phượng-hoàng, kỳ-lân nhởn nhơ nơi đồng-nội, nhà tù bỏ trống … Thiên -hạ chư-hầu ai theo chức đên tế-cống thổ-điạ". Đổng-tử đối sách rằng: "Thần cẩn-án Xuân Thu gợi ư nhất-nguyên, Nhất là muôn  vật theo lúc bắt đầu. Nguyên là vỹ-đại, tức nguyên là thấy đại-thủy mà muốn chính-bản. CXuân Thu thâm-thám gốc rễ mà quư đầu mối. Cho nên  bậc nhân-quân chính-tâm đề chính triều-đ́nh, chính triều-đ́nh để chính bách-quan, chính bách-quan để chính vạn-dân, chính vạn-dân để chính tứ-phương, tứ-phương chính ắt xa gần không ai dám bất-chính mà có khí gian-tà. Lấy âm-dương điều-hoà mưa gió, vạn-dân trồng ngũ-cốc được muà, cây cỏ tốt tươi, bốn biển nghe thịnh-đức đều dồn về mang theo phúc-vật làm cho vương-đạo trường-tồn. Bằng không th́ vương-đạo mất". Đức Khổng-tử nói rằng: "Chim phượng chẳng đến, sông Mạnh không xuất-hiện bức đồ, Đạo cuả thôi rồi vậy" (Luận-ngữ IX/8 ).

Lợi hữu du văng: (220, Tập VIII, tr. 264-266)

Trong Kinh Dịch, "Lợi hữu du văng" (lợi có chỗ đi) ứng với các quẻ có khôn-vuông-lại, mà lấy Kiền-hoàn-văng. Có khi có Kiền-hoàn-văng th́ lợi, v́ có chỗ đi. Vd: Phục Thoán, Đại-súc cửu-tam và cửu-tam tiểu-tượng, Đại-quá Thoán, Hằng Thoán, Tổn Thoán, Tổn thượng-cửu, Ích Thoán, Quyết Thoán,  Quyết Thoán-truyện, Tụy Thoán, và Tốn Thoán. Có khi có lại bất-lợi, là "vô du lợi" (không có ǵ là lợi). Vd : Mông lục-tam, Lâm lục-tam, Vô-vơng thượng-cửu, Di lục-tam, Hằng sơ-lục, Đại-tráng thượng-lục, Tụy lục-tam, Quy-muội Thoán và thượng-lục, Vị-tế Thoán và Thoán-truyện. Ắt "Bất lợi hữu du văng". Thiên-điạ văng lai, lấy lai-khôn-thân làm khôn-phương lai-hữu, đều "hữu du văng". Lấy văng-kiền-tuất làm kiền-hoàn văng-vô, đều "vô du lợi" cả. Cho nên, trong Kinh Dịch, "Lợi hữu du văng" đều là lai-quái. Đă có lai hẳn có văng. Đạo là thế. Cho nên,  trong Thượng-Kinh, Kiền là văng-quái, Khôn là lai-quái. Khôn là quân-tử "hữu du văng". Truân văng-quái chưa có lai Truân nên nói: "Vật dụng hữu du văng" (Chưa vội dùng để mà tiến). Bí lai-quái, đă có "lai Bí" nên nói: "Tiểu lợi hữu du văng" (Tiến đi th́ có chút lợi), tức Truân trinh cát, Phục tiểu lai. Bèn là phục-lai-quái, Phục "Lợi hữu du văng". Phục, quẻ phương bắc mà vượt quá tây-bắc hợi. Đại-quá, Phục là lai-quái, Đại-quá "Lợi hữu du văng", mà tây-bắc tuất, bèn là kiền=hoàn  văng-vô, là Bác văng-quái, Vô-vơng văng-quái, đều "vô du lợi" cả, mà lấy Bác "Bất lợi hữu du văng", Vô-vơng "Bất lợi hữu du văng", đó là trường-hợp văng-lai, lợi bất-lợi cuả Thượng-Kinh vậy. Thượng-Hạ-Kinh, các quẻ đều một văng, một lai, lại nữa, trong Thượng-Kinh, đôi khi lấy lai làm văng, mà Hạ-Kinh lấy văng làm lai, bèn vảng-lai thường-hằng không thôi. Đạo Hằng lai-quái, Hằng "Lợi hữu du văng", mà văng-lai thượng-hạ, thiên-điạ lấy, có tổn-ích đều lợi, tổn vănh-quái, tổn "Lợi hữu du văng". Hơn hết, lai-quái, ích "Lợi hữu du văng". Trời đất lấy có tổn-ích là có lợi, đều tổn mà thôi, đều ích mà thôi, đó là đạo vậy. Khi đó, Thượng-Kinh lai-quái văng, Hạ-Kinh văng-quái lai, Quyết văng quái lai, Quyết đông-nam có Bác tây-bắc-vô, Quyết "Lợi hữu du văng". Tụy văng-quái lai, Tụy tây-nam có Vô-vơng tây-bắc-vô (Quẻ Vô-vơng Đại-hữu là thiên-mệnh không giúp đỡ; quẻ Tụy thuận thiên-mệnh = thuận theo mệnh trời). Tụy "Lợi hữu du văng". Tốn văng-quái lai, bèn là tây-bắc kiền văng-kư, kư-văng mà tốn đông-nam lai-dĩ, dĩ lai phản thành lai-quái văng. Tốn "Lợi hữu du văng", thiên-điạ văng lai khởi từ Cấu-Phục nam-bắc, mà nơi "hữu du văng" nói Phục, không nói Cấu (Cấu : Hữu du văng, kiến hung). Bèn nơi Phục không nói chấn, mà nơi Cấu, nói tốn để chấn văng bất phục tức Bác bất lợi, Cấu văng bất phục tức Vô-vơng bất-lợi (Phục, Vô-vơng: cương lai). Ấy là lấy quẻ "Lợi hữu du văng": Hạ-Kinh kết-thúc bằng Tốn, Thượng-Kinh bắt đầu bằng Phục, Tốn đông-nam để đối Kiền tây-bắc, đạo phản-phục, thiên-điạ văng phục lai, nơi bắc tư-sửu, trời đất có số để bắt đầu (Tư-sửu, khảm cấn tần tần). Là "Tần Tốn lận" (Tốn thuận phiền-phức, đáng hối tiếc), là "Tần Phục lệ" (Trở lại mấy lần, gặp nguy-hiểm). Ấy là văng phục lai, lai phục văng, là Phục cuả chung thủy "Lợi hữu du văng", là Tốn "Lợi hữu du văng" vậy. Ấy là lấy Truân trồi ra khỏi mặt đất đi lên tứ, tiến lên th́ tốt, không ǵ là chẳng lợi. Tây-nam, ngọ-mùi, Tấn trồi ra khỏi mặt đất đi lên ngũ, là tiến lên th́ tốt, không ǵ là chẳng lợi vậy. Dịch-lệ "Lợi hữu du văng" này mà Thoán-truyện đề-cập, phàm quái-hào nói đến, đều có thể biết được vậy. 

Nhu thừa cương: (220, Tập VIII, tr. 266-269 ; 268, 408-411)

Trong Kinh Dịch, phàm 'nhu thừa cương' đều là các hào nhị-tam-ngũ, khởi đầu từ hào lục-nhị quẻ Truân, âm-dương thủy-giao mà nạn sinh. Chữ thừa (cưỡi) ở đây, phải hiểu là hào nhu lục-nhị cuả Khôn cưỡi hào cương cửu-nhị cuả Kiền, chứ không phải là nhị cưỡi sơ. Thừa là lấy nhu địch cương, nhu che trùm cương. Phàm hào 'nhu thừa cương', khởi đầu, quẻ nhu gặp cương, gặp cương mà không cho là khác, dần dần nhu giăm lên cương, giẵm lên cương từ từ mà không ngừng, tức 'nhu thừa cương' vậy. Thừa cương từ từ không ngừng, rút cuộc nhu biến ra cương. Lúc đó nhu biến cương, mà các nhu thừa các hào nhị-tam-ngũ, bèn nhu thừa ngũ cương, chứ không phải là thượng thừa ngũ ở dưới. Cuối cùng, 64 quẻ, nơi nhu biến cương, cương bèn quyết nhu vậy. Bắt đầu nhu gặp cương mà nhu cấu tráng, gặp cương, chấn khởi mà nhu cấu tráng khởi tráng, không cấn-chỉ nó, mà chấn khởi đều thừa cương hào  vậy. Nhị-tam-ngũ thừa cương hào, tam nhân hào cuả thiên-điạ, Khuê không Đồng-nhân, gặp cương địch cương, mà thừa cương không c̣n ǵ xấu hơn cấn không ngừng hào tam. Nên chi, thừa cương bắt đầu từ Truân lục-nhị, cưỡi ngựa, ngựa xuất tiến tới Tỉnh, Tỉnh nhi-tam-ngũ là cương-hào, không thể cho nhu thừa. Tỉnh mà để cho nhu thừa, ắt cương bao trùm, bèn là Tỉnh nhị-tam-ngũ không thể nhị-tam-ngũ cuả Phệ- hạp nhu hào thừa, thừa tức Phệ-hạp lấy trùm Tỉnh, tức bắt đầu Tỉnh nhị lấy Phệ-hạp nhị cương trùm cương, nhu thủy nạn sinh, mà thiên-điạ Tỉnh-hậu minh nhật, nguyệt là tượng Phệ-hạp thực thừa cương. Ấy là lấy Tỉnh thừa mă tỉnh thủy, thủy chấn dụng cửu cương xuất để đ́nh-chỉ dụng lục nhu thừa mà nhu lấy chấn khởi bất-cấn-chỉ tức đều thừa cương, tức Truân kiến hầu, Chấn thủy nạn sinh (Kiển là nạn), mà nạn cuả lục-nhị là bắt đầu thừa cương. Ấy là lấy Chấn lục-nhị thừa cương, Phệ-hạp lục-nhị thừa cương. Thiên-điạ thừa cương-hào, nạn cuả lục-nhị bắt đầu, tức nạn mà tại tam-ngũ, là Tỉnh tam-ngũ cương Kiển-nạn, mà Khuê tam-ngũ nhu để thừa Kiển-nạn tam-ngũ. Thiên-điạ nhị-ngũ cương trung-hào là Khảm cương bao trùm nhị-nhu-thừa. Nhị-nhu-trung nơi ngũ-nhu-thừa, ngũ-nhu-trung, mà nơi tam-nhu-thừa, tam-cương-bất-trung để tam-nhu-bất-trung thừa nó. Là Cấn cương bèn che trùm thiên-điạ đẩu cương mà để thừa nó. Khuê không Đồng-nhân gặp cương địch cương là để gặp cương thụ-địch, không c̣n ǵ xấu hơn hào tam, là lấy nhị-thừa cương, Truân kiến hầu, thiên-điạ dương chưa xuất, Khảm nguyệt minh, khó sinh hữu, nhật phản-thường.

Ngũ thừa cương, Dự kiến hầu, thiên-điạ dương đă qua, Khảm nguyệt tật bất-tử (đau mà chẳng chết, Dự lục-tam), có nhật trung-vị-vong, là Dự lục-ngũ thừa cương vậy.

Duy tam-thừa cương, Khổn cương che trùm vậy. Là đẩu cương, thiên-điạ chiến Kiền, Khuê bất Đồng-nhân, tam gặp cương địch, thiên-điạ lấy nhu thừa cương ắt bác biến mà nhu biến cương, tức Quyết quyết chi mà cương giải-quyết nhu, bèn chiến Kiền mà nhu giẵm lên cương, vũ-nhân bèn lấy ba hào chí-khí cương cuả Khuê-Kiển mà giải-quyết làm tam-thừa cương bèn tam Kiền-Kiền, cương-hào tại Khổn mà đẩu-cương che trùm, tức Tỉnh xuất thừa mă, tượng mất Kiền dương mà lấy Tỉnh cương nhị-ngũ, Phệ-hạp mà che trùm. Nhật-nguyệt trùm thực-Tỉnh khốn cùng là Khổn lục-tam thừa cương vậy. Bèn là Cấu nhu-tráng để gặp cương-chấn-khởi bất-cấn-chỉ.

Cương-chấn-khởi xấu, tức Phệ-hạp nhu nhị-tam-ngũ để thừa mà tốn-phục, mà nhu thừa cương là ngũ nơi ấy Bác-cấn không chận đứng được, tức có Tỉnh cương nhị-tam-ngũ để thừa mà chấn-khởi, mà cương-quyết khử nhu, là ngũ không quyết đoài không xong, ngơ hầu chận đứng. Ắt thừa là quyết ngũ đa công, tam đa hung. Tam-ngũ là hào thừa nguy cương thắng, mà nguy chính là tam. Cho nên, Dịch thừa cương không ǵ xấu hơn hào tam, tức thị Khổn lục-tam thừa cương. Ấy là lấy Khổn tương-ngộ phục-phản cũng như bắt đầu. Nhu gặp cương trong trời đất, mà cương-hào nhị-tam-ngũ cuả Tỉnh không lấy cương trùm Tỉnh thông, mà Khổn tương-ngộ, mà Khổn tương-ngộ bèn kết thúc tại cương quyết nhu đằng sau vậy. Phệ-hạp, nhu nhị-tam-ngũ không tốn-phục làm Bác mà nhu thừa ngũ cương là ngừng, tức Tỉnh cương nhị-tam-ngũ, không chấn-khởi thành Quyết mà giải-quyết nhu thừa ngũ cương, cũng là ngừng. Điều ấy tại cương-hào tam-cấn-chỉ, ắt là Tỉnh, cương-hào nhị-tam-ngũ không bao trùm, tức là Phệ-hạp nhu-hào nhị-tam-ngũ không ăn tiền. Dịch âm-dương minh nhật-nguyệt, không ăn tiền, mà Khôn nghi dương đánh nhau làm tượng Kiền tiêu-vong vậy.Là nơi quẻ nhu thừa cương giới-pḥng mà thôi. Là nơi hào nhị-ngũ, ngũ thừa cương giới-pḥng mà thôi, mà tam thừa cương lại là Kiền Kiền chung nhật (suốt ngày mau mắn) đề cao cảnh-giác mà thôi. Trên đây là phàm-lệ 'nhu thừa cương' cuả Dịch.

Chung vô uông: (220, Tập VIII, tr. 269-270)

Uông nghiă là khập khiễng, gầy g̣. Phàm trong Kinh Dịch 'chung vô uông' đặc-chỉ ba hào nhị-tứ-ngũ khác lạ. Vạn-vật thấy khác lạ là thấy khập khiễng nơi góc tây-nam, Khôn vật thấy khác (Xem quẻ Khuê dị). Khôn là đạo bầy tôi, nhu mà lấy vật khác đời, là có trục-trặc chỗ nào. Bèn phải thừa-cương (Xem mục bên trên). Đông-bắc cấn chung-chỉ đấy. Lấy chung-chỉ Khôn-nhị-hào sao cho hết khác lạ, hết thừa-cương, mà để kết liễu 'chung vô uông'. Nên chi nơi thiên-điạ tây-nam Khuê khác mà kết-thúc nơi đông-bắc Kiển nạn, cho cấn ngừng nó. Ấy là lấy nơi hai chỗ : Khôn "tùng vương-sự = theo việc quân-vương" (Khôn lục-tam) và Kiển "vương-thần Kiển Kiển = như kẻ vương-thần hết mắc nạn này đến mắc nạn kia" (Kiển lục-nhị), đó là 'chung vô uông' vậy. Nên chi 'vô uông' nhị-tứ-ngũ, nơi thừa-cương nhị-tam-ngũ, quẻ này chấn-khởi là phản mà cấn-chỉ đấy. Mà thừa-cương, chung-chỉ đều là 'chung vô uông' cả, ấy là lấy Truân-nhị thừa cương vậy. Chấn phản cấn, Kiển nhị 'chung vô uông' vậy. Phệ-hạp nhị thừa-cương, chấn phản cấn, Lữ nhị 'chung vô uông'. Dự ngũ thừa-cương, chấn phản cấn, Bác 'chung vô uông' vậy. Thừa cương nhị-tam-ngũ 'chung vô uông', nhị-tứ-ngũ, trung tam-tứ phản-loại. Cho nên Khổn tam thừa cương vậy. Khổn phản-loại Bí, Bí tứ 'chung vô uông' vậy. Ấy là lấy 'vô uông' đều là nhị-tứ-ngũ nhu lấy cấn-chỉ, chứ không phải là nhị-tam-ngũ nhu lấy chấn-khởi bèn thừa-cương vậy. Nên  chi

'vô uông' đều là cấn-chỉ, thiên-điạ nhi-ngũ trung, cung trung vậy. Khôn là điạ-đạo, thê-đạo, thần-đạo, nơi trung (chính giữa) đều chủ 'vô uông'. Chữ uông gồm chữ     (hựu = tay phải) kèm theo chữ ất  . Đấy là cấn, là  , Kiền là  , Khôn là  Dịch thừa cương, là nhu Đại-tráng. 'Vô uông' là chấn phản cấn chỉ thành Đại-súc.   cấn, kiền là Đại-súc. Súc chỉ Đại-tráng (bảo Đại-tráng là dư phúc 輿輻 tức nan hoa bánh cỗ xe), mà hào nhị-trung-vô là tượng thừa cương, tại trung. Đại-súc là nhị-trung 'vô uông' vậy. Nên là trung-cung. Trung-vô-uông là 'chung-vô-uông',   cấn-khôn là sơn-điạ Bác. Khôn thần-đạo theo gót kiền vương-sự, nhị khôn trung, khôn thê-đạo theo gót khôn hậu sự (phụng-sự hoàng-hậu). Ngũ-khôn-cung đều lấy bất-thừa-cương cấn-chỉ, nơi thiên-điạ nhị-ngũ trung-ương-cung, trung-vô-uông là chung cuả Bác-ngũ, 'chung vô uông' vậy. Bèn là Dịch 'vương-thần Kiển Kiển', là gặp Bác, để Bí văn-minh làm Lữ, mà lấy trong Đại-súc súc-đức trung-vô-uông, mà đều lấy 'chung vô uông', mệnh-danh là Văn-Vương vậy. Mới biết rằng  'vô-uông' và 'thừa cương' tương-phản đấy ! 

Trinh cát, hối vong: (220, Tập VIII, tr. 270-272)

Phàm hào 'trinh cát', hối vong' là nhị-tứ-ngũ, là hai quẻ Kiền-Khôn, khôn 'vô uông', kiền 'vô-hối', bèn là khôn nhu bất-thừa-cương 'vô uông', kiền cương bất-nhu-thừa 'vô-hối'. Là lấy khôn 'trinh cát', kiền 'vô-hối', tức thị khôn trinh nơi khảm mà 'trinh cát', kiền hối nơi ly mà 'hối vong', đó là tượng 'trinh cát', hối vong' vậy. Nên chi thiên-điạ nam-bắc ly-khảm, đổi nhật-nguyệt nhất-nhị minh-thủy mà thủy khôn, là hối kiền, là hối (khôn hối, kiền hối, thiên-tâm phản-chính, cái ǵ chính bền th́ tốt, cái ǵ tối-tăm th́ mất). Duy khảm là quẻ nhất-nhị chính bắc tư-sửu là trinh cát, mà lấy ly là quẻ trung nam-phương ngọ-mùi làm 'trinh cát' th́, nhất-nhị nhật-nguyệt minh là 'hối vong'. Cho nên, trong Dịch, quẻ  Khảm tư-sửu, chính bắc, cán thực là 'trinh cát', quẻ ly nam-phương ngọ-mùi, khôn Tấn 'hối vong', mà Tấn  là lấy hạ-tư-sửu nhị-sơ 'trinh cát', mà thượng-ngọ-mùi tam-ngũ nhật-nguyệt-minh 'hối vong'. Vậy nên, ly-khảm nhật-nguyệt, thủy-hạ tư-sửu ở bên trong, mà thượng-ngọ-mùi văng ngoại. Tư-sửu thủy-nhất ly nhật-vị, nhị khảm nguyệt-vị 'trinh cát', hối vong', nội sửu-tư, đương phản mà tu sửa nơi nhị-sơ, nhị 'trinh cát', sơ 'hối vong', là ở tromg, Gia-nhân là ở trong vậy. Mà về sau, sơ 'hối vong', ngũ  'hối vong', là văng-ngoại, Khuê là ngoại vậy. Tượng thiên-điạ nội-ngoại. Trong âm-dương, âm không được qua mặt dương. Nội âm tráng là không song. Nên  Gia-nhân trong có thê có Hằng mà không được có Tráng. Lấy nội-nhị 'trinh cát' làm chính, tức có hai 'hối vong' là trung, là lấy Gia-nhân hai 'trinh cát', mà Hằng hai  'hối vong'. Trong Dịch, Hằng hai chữ 'hối vong', tức Đại-tráng hai chữ 'hối vong'. V́ nhị-nội bất-tráng âm-chỉ, nơi ấy quẻ khảm chính bắc nội-chính mà quẻ ly chính nam 'vô hối', có thể Đại-tráng văng ngoại. Đó là Đại-tráng nội-nhị 'trinh cát', mà ngoại tứ-ngũ 'trinh cát', hối vong' mà 'vô hối', được đấy. Thiên-điạ khôn thủy nhu bất-khả-tráng, tráng ắt thừa-cương. Khôn hữu uông, kiền phục cương bất-khả bất-tráng. Bất-tráng ắt nhu-thừa-cương. Kiền 'hữu hối' là lấy Đại-tráng nơi khôn nhu tráng-chỉ, nơi kiền cương tấn-tiến (Chữ lệ tấn  nghiă là mặt trời mọc th́ muôn vật tiến). Nam từ ngọ đến mùi là hạ-chí; bắc từ tư đến sửu là ngày đông-chí. Hai ngày chí tức là tấn. Bắc tư-sửu lớn là tráng mà nơi nam ngọ-mùi đại-minh là Tấn. Đại-tráng chính-đại-hoá t́nh cuả trời đất, có thể thấy được, mà nhị-tứ-ngũ 'trinh cát', hối vong', và 'vô hối' có thể hiểu được. Thế th́ trong Dịch, nơi nam-bắc ly-khảm bèn là thượng-hạ-quái cuả Vị-tế : khôn trinh nơi khảm mà 'trinh cát', kiền hối nơi ly mà 'hối vong'. Đại-tráng nhị-tứ-ngũ là hào cương-nhu, tức Vị-tế ly-khảm cương-nhu-hào. Nên Đại-tráng nhị 'trinh cát', khảm 'trinh cát', Đại-tráng tứ 'trinh cát', hối vong', ly-khảm 'trinh cát', hối vong', Đại-tráng ngũ 'vô hối', ly 'trinh cát, vô hối', nam-bắc bèn là thiên-điạ Vị-tế ly-khảm, rút cuộc là 64 quẻ. Đó là hào nhị-tứ-ngũ khôn vô-uông, nhu-bất-thừa-cương khôn 'trinh cát', tức kiền 'vô hối' cương-bất-nhu-thừa. Kiền 'hối vong', hậu-thiên ly-khảm, tiên-thiên kiền-khôn định-vị nơi khôn tam-nội 'khả trinh', kiền thượng-ngoại 'hữu hối' là vong mà 'vô chung'. Sáu mươi tư quẻ ly-khảm Vị-tế là tượng thượng-hạ 'trinh cát', hối vong'. Nên phàm hào 'trinh cát', hào 'hối vong' có thể suy ra từ đó. 

Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh: (220, Tập VIII, tr. 272-275)

Trưóc khi đọc tiếp xin quư độc-giả xem lại định-nghiả các chuyên-từ 'khôn-trực-phương', 'kiền-đối-thời', 'kiền-hoàn-văng' nơi bài 81

Bốn chữ 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' cuả Thoán có mặt trong sáu quẻ: Kiền, Truân, Tùy, Lâm, Vô-vơng, Cách và vắng mặt trong sáu quẻ: Quan, Tấn, Khuê, Cấu, Tỉnh, Cấn. Dịch 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' là bốn quẻ chấn-nguyên, ly-hanh, đoài-lợi, khảm-trinh, là bốn muà xuân, hạ, thu, đông, là kiền hoàn-hành để thi-hành tứ-đức ấy. Nên nói: 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', là lấy Truân  kiến-hầu, 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', chấn hậu thủy mà thiên-hạ tùy thời, tùy 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' bốn muà. Truân kiến-hầu, thủy đại-hanh-trinh ấy, tùy thiên-hạ, tùy thời đại-hanh-trinh mà bốn muà lâm-hành, trung-hành-chính, Lâm 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', đại-lai đại-văng, văng nhi hành quá trung, vô-vơng đi về đâu (văng hà chi), Vô-vơng 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' tứ-thời văng, phỉ chính thiên bất hựu-hành vậy thay ! Lâm đại-hanh ấy để kiểu-chính Đạo cuả thiên-hạ. Vô-vơng đại-hanh để chính, là mệnh cuả thiên-hạ vậy. Lúc đó bốn muà cải cách đi. Nên chi canh cải 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' để 'trị lich minh thời = sửa sang lịch-số để làm sáng tỏ thời-vận' (Đại-tượng quẻ cách). Lúc vượt qua chính giữa mất chính đó, phải canh cải đi, Kiền 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' thi-hành tứ-đức ấy. Kiền bèn canh cải. Điều vừa kể đều là Kiền-hoàn-văng, tứ-thời văng, sáu quẻ: Kiền, Truân, Tùy, Lâm, Vô-vơng, Cách đều là văng-quái. Cho nên, bốn chữ Thoán 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' có liền một mạch, là tượng lấy Kiền-hoàn-văng làm văng-quái. Nên chi, phản lại, khôn-phương-lai là quẻ chấn-nguyên, ly-hanh, đoài-lợi, khảm-trinh, là bốn muà xuân, hạ, thu, đông, Kiền-hoàn-hành chứ không phải khôn-phương-lai đếm được đâu. Ấy là lấy xem xét trời bốn muà, xem xét khôn-phương-lai không phải là Kiền-hoàn-văng, không đếm Kiền 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', phương lai tấn chí-nhật, hậu lại, không phải là Truân-hậu đi, không đếm Truân 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', phương-lai Khuê không đồng-hành, không tùy-tùng cùng xuất-môn hành-văng, không đếm Tùy 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', phương-lai Cấu nhu bất dữ trưởng, không kể lâm dữ trưỏng văng-tiêu, không đếm Lâm 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', phương-lai Tỉnh trực-phương mùi-sửu, không kể Vô-vơng đối-thời tuất-th́n đi về đâu, không đếm Vô-vơng 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', phương-lai lại cấn trực-phương sửu-mùi không cải-cách minh-thời  th́n-tuất nơi đối-thời cùng là đi đâu. không đếm Cách 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', bèn là xem phương tiến ngày chí, bắc-tư-sửu, nam ngọ-mùi, Khuê giống mà khác, để đo-lường nam-bắc, trung-ương hậu-thổ, Cấu đi khắp bốn phương, mà trong bốn phương chính ngọ-mùi-tư-sửu, nam-bắc vẽ quẻ Tỉnh, cấn ở đúng chỗ cuả nó, bốn muà đều chính, mà khôn-phương-chính, kiền-hoàn-chính, không đếm 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' là được rồi. Điều kể trên đều là khôn-phương-lai, bất-kiền-hoàn-văng, tứ-thời văng. Sáu quẻ: Quan, Tấn, Khuê, Cấu, Tỉnh, Cấn đều là lai-quái (quẻ Tấn là đến nơi). Nên chi, không có được chữ nào trong bốn chữ 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh'. Ấy là khôn-phương-lai là tượng lai-quái. Vậy nên, xem xét dĩ-văng biết được tương-lai. Hào ngũ cuả hai văng-quái Vô-vơng-Kiền đối-thời nơi thiên (Đối kiền th́n-thời, ngôi 5, Thượng-Kinh từ Kiền đến Vô-vơng thiên-số là 25). Hào nhị hai lai-quái Tỉnh-Kiền trực-phương tại điền (Trực Kiền sửu-phương, hai ngôi Thượng-Kinh từ Kiền đến Tỉnh là 48, là Kiền phản Phục 24 mà văng phục 48 đều là văng-lai tại Tỉnh : 24 x 2 = 48). Kiền hào ngũ lên hào thượng, là 'Vô-vơng đi về đâu ?', là 'Cách lại đi đâu ?', là 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' kết-thúc nơi Cách. Kiền cửu-nhị đi xuống hạ-quái quẻ cách là xả-thời, là dưới vậy. Tỉnh ở chỗ cuả nó, cấn ngừng chỗ này. 'Vật dụng Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', mà bắt đầu và kết-thúc đều do cấn cả. 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', tứ-thời thượng Kiền văng, Nên chi ắt Cách mà cư-phương ở mé dưới, Cách, 'bất cải Tỉnh', mé dưới cấn ngừng chỗ ở, dưới Tỉnh cực-đại là 'Vật dụng Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh', mé dưới bèn là gốc cuả 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh'. Là lấy quan–thiên-đạo, nhị-chí nhật chí,  cấn chỉ sở, sáu văng-quái tại sáu lai-quái mà  nhị-chí nhật chí văng-quái là lai-quái vậy. Mà quan-văng tức tri-lai,  văng-quái tại lai-quái mà phục là văng-quái vậy. Được đấy ! Bèn là văng-lai Tỉnh Tỉnh, lai khả văng, cấn ắt ngừng ngừng, đi đi. Đó là sự có mặt hoặc vắng mặt cuả 'Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh' trong sáu quẻ vậy. 

Cước-chú 

Lợi-trinh cuả kiền là tính-t́nh. Trinh nói về t́nh, lợi nói về tính. Kiền là thiên-đạo đi, nên tính cuả vạn-vật đều lanh lợi, có lư-do đi. Cho nên, phục-lai tức gốc ở lợi văng, là lai mà có gốc tích. Thiên-hạ nói về tính chằng qua là nói đến duyên-cớ mà thôi.  Duyên-cớ lấy lợi làm gốc. Biết duyên-cớ trí tàng-văng là trí thủy-hành vậy. Thiên-điạ thủy hành Tỉnh cửu-châu đều là gốc tích tự nhiên, vô-sự tạc dạ điều ḿnh ghét, đều ghi vào trong trí. Cấu hậu-thổ, Hậu là Hậu-thị, là Vua Vơ Nhà Hạ đấy. Vơ hành thủy (trị thủy), hành kỳ vô-sự, ắt trí cũng lớn. Là lấy quan thiên chí-nhật ngó lên trời cao, tinh-thần xa vời vợi. Nếu muốn biết duyên-cớ, có thể ngồi đó cả ngàn năm mà cũng chưa đi đến đâu. Theo họ Đoan-Mộc, trên đây là lời Thầy Mạnh-tử bàn về mấy quẻ ! 

Mông: Sơ phệ cốc, tái tam độc: (220, Tập VIII, tr. 275-276)

'Mông, sơ phệ cốc, tái tam đôc = Mông, hỏi một lần th́ bảo, hỏi hai ba lần th́ nhàm' là lời cầu hỏi thần-linh khi bói. Bói một lần thần bảo, bói hai ba lần th́ nhàm thần không bảo, th́ cho là được đi. C̣n nơi hào nhị quẻ Mông, tượng trẻ thơ (đồng-mông), hỏi ông thầy. Hỏi lần đầu, ông thầy chỉ bảo, hỏi hai ba lần ông thầy không chỉ bảo, coi thế được sao ? Dần quẻ Mông, tư-sửu-dần ba đầu mối quẻ kiền xuất để bao trùm đạo cuả thiên-hạ. Nên đồng-Mông cầu Ta bao che Mông. Gọi quán-lễ, quán-phệ là phệ-tân (khách bói). Ta là khách bói sơ-phệ. Mông cầu ta nơi lễ chính, ta bảo cho. Ta là khách bói 'tái tam' cuả Mông, không bói (Răn khách bói mỗi lần chỉ bói một việc thôi). Ta cầu Mông nơi lễ nhàm. Ta không bảo viện lẽ, lấy quán-từ lần đầu bảo, hai ba lần nhàm không bảo. Bởi chưng hai ba lần sau cứ bảo, hoá ra là lễ nhàm, mất hết ư-nghiă đồng Mông thuở ban đầu (Nên không gọi là : tiên-sinh Mông nhàm). Vậy nên, quán là dần-cấn thành nhân-đạo. Dần-Mông tư-sửu-dần, 1-2-3, quán thủy-gia (bắt đầu thêm), tái-gia (thêm hai), tam-gia (thêm ba), thủy-quán là quán-truy-bố vậy. Dần-cấn-thủ thượng-gia-bố nơi đầu để thân-nguyên-phục thượng-gia thân-khôn  làm vải, là vải luạ thâm vấn lên đầu vậy. Tư-sửu-dần ủy-mạo là Đạo Nhà Chu. Chương-phủ là Đạo Nhà Thương/Ân. Mẫu-truy là Đạo họ Hậu Nhà Hạ. Dần-cấn-thủ thượng-gia-thân-khôn-bố, để thành khiêm-tôn quân-tử hữu chung (người quân-tử có điều trọn vẹn), là thêm vào, là tam-gia di-tôn. Điều vừa kể là dẫn-thân quán-lễ. Nghiă cuả 'Sơ phệ cóc, tái tam độc' quả thực là như vậy. 

Tỷ: Xả nghịch thủ thuận: (220, Tập VIII, tr. 276-277)

Xin nói qua về Bát-môn, đắc-dụng trong Kỳ-Môn Độn-Giáp (292, 293,  294, 295). Đời Tam-quốc, chính Khổng-Minh Gia-Cát-Lượng đă áp-dụng Bát-môn để dựng nên Bát-quái Trận-đồ. Bát-môn gồm tám cửa : Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai, Hưu, ứng với 8 quẻ hậu-thiên: cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài, kiền, khảm. Ba cửa tốt là cửa Sinh ở hướng đông-bắc, cửa hưu ở hướng chính-bắc và cửa Khai ở hướng tây-bắc.

Sách Thái-Bạch Âm-kinh cuả Lư Thuyên đời Đường chép rằng : "Hoàng-đế đặt ra bát-trận-h́nh : thiên-trận ở kiền là thiên-môn; điạ-trận ở khôn là điạ-môn; phong-trận ở tốn là phong-môn; vân-trận ở khảm là vân-môn; phi-long-trận ở chấn là phi-long-môn ; vũ-dực (bạch-hổ) ở đoài là vũ-dực-môn; điểu-tường ở ly là điểu-tường-môn; sà-bàn ở cấn là sà-bàn-môn. Thiên, điạ, phong, vân là 4 chính-môn; long, hổ, điểu, xà là 4 kỳ-môn. Kiền, khôn, cấn, tốn là hạp-môn; khảm, ly, chấn, đoài là khai-môn ". Sách Binh-lược Toản-văn th́ chép: "Hoàng-đế dựa vào tỉnh-điền mà lập ra bát-trận-pháp để đánh dẹp Si-vưu. Danh-tướng thời cổ biết phép này chỉ có : Khương Tử-Nha (Thái-công), Tôn-vũ-tử, Hàn-Tín, Gia-cát Khổng-minh và Lư-Tĩnh. C̣n danh-xưng 8 trận : thiên, điạ, phong, vân, long, hổ, điểu, xà là do chính Khổng-Minh đặt ra. ".

C̣n như các tên tỷ như "Phương, viên, tẫn, mẫu, xung, luân, phù, tự" hay "Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai, Hưu" đều là hậu-khởi. 

Hào-từ cửu-ngũ quẻ Tỷ nói: "Hiển tỷ, vương dụng tam-khu, thất tiền cầm, ấp-nhân bất giới, cát = Làm cho rơ rệt sự gần gũi, nhà vua dùng phép bao vây ba mặt, để mất con chim bay đằng trước, dân trong ấp không sai khiến, tốt". Ư-nghiă câu này là ǵ ? Nói về tỷ-pháp bỏ nghịch-ác, lấy thuận-thiện, được đấy. Nói về tỷ-pháp lấy tam-khu sát-cầm, bỏ nghịch-ác không giết, mà lấy thuận-thiện sát, được sao ? Nên chi, tỷ tam-khu, bàn điền-lễ, lập xe khu-nghịch day lưng về phiá ta, không xoay mặt về phiá ta mà tiến tới, đuổi xe ngươc đó. Ấy là lấy tam-khu tỷ-phân thuận-nghịch, phân

H́nh 7.15 Bát-Quái Trn

 

âm-dương văng-lai mà so-sánh thuận-nghịch. Tam–khu-cầm nhập ṿng vây, tỷ-cầm đều tượng khôn âm lai, khôn âm là thuận, văng khôn âm là nghịch. Cầm từ phương nam đằng trước tiến về phiá ta, đối với khôn âm là thuận, là cầu dương sinh. Con thú đó là nghịch-lai, bèn bắc-diện thần phục ta: đó là loại "tiểu-nhân cách diện - Kẻ tiểu-nhân biến đổi ngoài mặt" (Hào-từ thượng-lục quẻ Cách). Mà ta mặt hướng về nam bắn mà giết nó, là ta nghịch-sát kẻ vô-tội. Ấy là cầm thuận mà ta nghịch-sát. Không lấy nghịch-sát đoan-chính. Xả nghịch-sát. Ấy là tỷ xả-nghịch mà sát vô hữu nghịch giả vậy. Sát vô hữu nghịch thuận  ắt sinh, mà người thuận thiện-mệnh trong thiên-hạ chẳng ai là không theo về. Cầm  từ phiá bắc sau lưng ta văng, đối với khôn âm là nghịch, ấy là phản-cầu âm-tử, cầm ấy đương cầm hoạch ngă là thuận văng tru (giết) nghịch. Bèn không bắc-diện day lưng dời xa ta, thuộc loại "độn vỹ = trốn đi sau lưng" (Độn sơ-lục), mà ta hướng về bắn đằng sau đuôi mà giết nó, là ta thuận-sát hữu tội, bèn là cầm nghịch mà ta thuận-sát. Thuận-sát, bậc vương-giả không bỏ mà lấy thuận-sát. Ấy là so-sánh thủ-thuận mà sát kẻ vô-bất-thuận. Sát vô-bất-thuận, nghịch ắt chết. Mà người nghịch thiện-mệnh trong thiên-hạ chẳng ai mà không giết. Xả nghịch thủ thuận, tam-khu thuận-nghịch ấy hiển nhiên là "hiển tỷ". Không hiểu lẽ Dịch âm-dương văng-lai là thuận-nghịch, mà so sánh thuyết "thuận-nghịch thủ xả", tuy là tam-khu điền-lễ rất rơ, th́ không biết nói làm sao nữa. 

Luận-Giả Án

Tam-khu: ba mặt vây (vi) kín, một mặt bỏ ngỏ (hợp khai). Xem xét tỷ-cầm (chim cuả quẻ Tỷ) phương tây-bắc, bậc vương-giả bỏ phương bắc, lập-biểu, nam-diện ly 'cảnh-môn', hợp-vi bắt đầu từ đông-nam tốn 'đỗ-môn', bậc vương-giả bỏ phương bắc khảm 'hưu-môn'. Cho nên người 'thuận-thiên hưu-mệnh = thuận theo mệnh tốt cuả trời' (Đại-tượng quẻ Đại-hữu), từ tây-nam hướng về ta tiến tới, là cấn 'sinh-môn', đông-bắc xoay lưng về phiá ta mà bỏ đi là khôn 'tử-môn', lúc đó ly tả-xạ đông-phương chấn là 'thương-môn', chim phương tây đoài 'kinh-môn', mà lưới vây phiá tây-bắc không hợp kiền  'khai-môn', tiền-cầm cuả Tỷ mất tại chỗ  'khai-môn' đó, mà lẩn trốn (độn) vậy. Đi đến đó có lượm được ǵ đâu !  'Khai-môn' cầm-hoạch ấy ắt là công-dụng cuả bát-quái.

 

  

 

 

Xem Kỳ 84

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com