www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 81)

 

Đoan-Mộc Quốc-Hồ Dịch-Lệ

端 木 國 瑚 易 例

  

Nguyên Thủy Yếu Chung:

Hệ-Hạ IX/1 nói: "Dịch chi vi thư dă, nguyên thủy yếu chung dĩ vi chất dă; lục hào tương tạp duy kỳ thời-vật dă. = Sách Dịch th́ suy-nguyên từ trước, kết yếu về sau, để làm cái chất; sáu hào cùng trộn lẫn, đó là sự vật cuả từng lúc". Hào tương-tạp nói:

"Văn là 10 số cuả trời đất". Có tạp là có 10 số cuả Khôn. Văn chẳng tạp th́ "Dịch nguyên thủy yếu chung", tây-bắc chung thủy, mà trời khuất tây-bắc là vô, Kiền bèn

là chất. Cho nên 10 số cuả trời đất khởi đầu từ bắc tư-sửu, trời 1, đất 2. Kiền tiên-thiên đảm đương đông-nam, th́n tị ở trên, trời 5 đất 6 ở giữa, tây thân-dậu trời 9, đất 10 ở cuối, mà Kiền hậu-thiên tây-bắc là vô. Nói khác đi, Kiền khuất tây-bắc thành vô. Vô là nguồn cuả hữu. Chất là văn của đất. Kiền-hoàn xuất tự tây-bắc, khôn vuông chung nhi phục thủy, cho nên tạp-hợp (chữ tạp nghiă là đi giáp một ṿng). Mười số cuả trời đất, có tạp, có hợp. Kiền ở trên, hoàn chu phục-tạp để mở mang mọi vật (khai vật thành vụ), trời 1, đất 2; trời 5, đất 6; trời 9, đất 10. Thủy-trung-chung. thiên-điạ hợp, sáu hào hoàn chu phục-tạp mà Kiền khai-vật, mười số cuả trời đất, đóng rồi lại mở. Cho nên Thủy đông quẻ chấn, hoả nam quẻ ly. Lôi-hoả Phong là tượng cỏ thi (cỏ thi tận-dụng số 49 thành quẻ Phong w). Nam quẻ ly (hoả), đông quẻ chấn (lôi), hoả-lôi Phệ-hạp U. Phệ-hạp là tượng cỏ thi (Trong quẻ Di [ có vật là quẻ Phệ-hạp U, Di linh-quy Phệ-hạp là ăn : ruà ăn). Cho nên, Kiền năm ngôi quyết âm, tức thị thi-quy để quyết-đoán hiềm nghi, là quẻ Kiền, "lành dữ cuả con người cùng hợp với rủi may cuả quỷ-thần" (Kiền Văn-Ngốn 30), để năm ngôi cuả Kiền hợp với số cuả trời đất. Nói cách khác,  Phệ-hạp tức thị hợp với cái đức cuả trời đất, hợp với cái sáng cuả đôi vầng nhật-nguyệt, hợp với tŕnh-tự cuả bốn muà, hợp với rủi may cuả qủy-thần (Kiền Văn-Ngốn 30), đều do Phệ-hạp quy-hợp, chẳng cần hành-động mà phong-phú-hoá chăng ? Huống chi người ! Huống chi quỷ-thần. Cho nên 64 quẻ 6 hào, có tạp, có hợp, đều là Kiền-hào tạp-hợp cả. Đều là Kiền chất-hợp Khôn vi văn mà thành tạp-quái. Nguyên thủy yếu chung, sáu hào tương-tạp, số có, số không, mà Dịch chung thủy đều là tạp-quái cả. Thành thử ra, nhân thiết-quái quan tượng mà phép xem tượng 64 quẻ có thể suy ra từ đó. 

Quái-Biến (Hexagram derivation):

Thác-quái, tạp-quái minh-hoạ quái-biến. Thiên-điạ biến-hoá, Kiền biến, Khôn hoá : Khôn âm lấy dương mà hoá, Kiền cương lấy nhu mà biến. Cho nên hào biến-động : Kiền-hào dụng-cửu biến, ắt Khôn-hào dụng-lục động. Khôn lục-nhị động, Kiền cửu-nhị biến. Hào đề-cập biến, lấy Kiền "Tham ngũ dĩ biến = Bầy đếm hàng ba, hàng năm cho nó biến" (Hệ-Thượng X/3), tam-tham tức ba lần ba là chín, năm lần năm hăm nhăm, đều là số cuả Kiền. Dịch chủ Kiền-hào biến. Nên 64 quẻ Dịch đều suy từ Kiền-hào biến. Quiái-biến cuả Dịch bắt rễ nơi hào-từ. Tỷ như quẻ Khôn, quái-biến từ Kiền sơ-cửu, ra quẻ Phục, rồi ra quẻ Khôn, "Tiên mê thất đạo = Lúc đầu nhầm nên lỗi đạo" (Khôn, Thoán-truyện 4), v́ sơ mê Phục vậy. Kiền cửu-nhị là quẻ Sư biến Khôn, Khôn là đám đông, Sư cũng là đám đông. Nhị là Tập-Khảm, nên Khôn lục-nhị mới nói: "Bất tập vô bất lợi = Không phải đợi học-tập, mà không ǵ là chẳng lợi". Kiền cửu-tam là quẻ Khiêm biến một hào. Khôn tam giữ đạo bầy tôi với Kiền, nơi Kiền tam, vương-sự không dám thành, không dám nói lời khiêm-tốn. "Hữu chung = Có điều trọn vẹn" cuả Khiêm thay thế "Hữu chung" cuả Khôn vậy. Kiền cửu-tứ là Dự biến một hào, thành Dự, rồi thành Khôn. Bạn cuả Khôn có được nơi tây-nam (Lời Thoán quẻ Khôn), bởi nơi đây có sự vui vẻ, có được nhiều, đừng ngờ vực, bầu bạn đến họp mặt đông đủ (hào-từ cửu-tứ quẻ Dự). Không biện luận do lai nên dần dần mất bạn ở mé đông-bắc. Đó chính là Khôn "quát nang = thắt miệng túi". Kiền cửu-ngũ là quẻ Tỷ biến một hào, ra quẻ Tỷ rồi ra quẻ Khôn. Khôn nội là nội cuả nội-tỷ (gần gũi với bên trong), Khôn ngoại là ngoại cuả ngoại-tỷ (gần gũi với bên ngoài). Trời đất hợp đức, Kiền-Khôn quần áo huyền-hoàng là tượng quẻ Tỷ. Kiền thượng-cửu là quẻ Bác biến một hào, thành quẻ Khôn, ắt quẻ Kiền sang điạ-phận quẻ Khôn hỗn-chiến nên hào-từ thượng-lục quẻ Khôn mới bảo: "Long chiến vu dă, kỳ huyết huyền hoàng = Rồng đánh nhau nơi hoang dă, máu đen máu vàng chẩy lênh láng". Bác lạn nghiă là mục nát, quẻ Bác đă đi đến đường cùng, máu mê lênh láng, nửa vàng nửa đen. Chúng ta vừa xét quái-biến cuả sáu hào quẻ Khôn, mà coi hào tam cuả Khiêm biến ra Khôn làm cốt cán. V́ sao? Bởi v́ toàn-kinh, nơi hào cửu-tam quẻ Kiền thấy xuất-hiện hai lần tên quẻ liên-hệ: "Quân-tử chung nhật kiền kiền = Người quân-tử suốt ngày nhanh nhẹn". Như quẻ Truân, lấy Tùy biến Truân làm chuẩn. "Tùy, Nguyên Hanh Lợi Trinh" tức thị "Kiền, Nguyên Hanh Lợi Trinh" vậy. Tả-thị nói: tứ-đức cuả Tùy tức Kiền-nguyên, trưởng-tử tùy thời thủ-xuất, tức Nguyên Hanh Lợi Trinh cuả Truân, kiến hầu khởi đầu. Cho nên, Tùy 'hưởng hối', cũng như Tùy tứ 'tại đạo dĩ minh' cũng như Truân tứ 'thảo muội' đều là minh vậy. Như quẻ Mông, quái-biến lấy Cổ biến Mông làm chuẩn. Cổ là bao Mông, phụ dựng (đàn bà có mang), có mang mà nuôi, Cổ để 'chấn dân dục đức = nâng cao dân-trí, dân-t́nh' (Đại-tượng quẻ Cổ), Mông để 'quả hạnh dục đức = quả quyết trong việc làm và nuôi lấy đức tốt'. Như quẻ Nhu, lấy Tiểu-súc biến Nhu làm chuẩn. Tiểu-súc nói: 'Mật vân bất vũ = Mây kín đặc trời mà không mưa' là Nhu vậy. Như quẻ Tụng, lấy Lư biến Tụng làm chuẩn, Lư 'hổ điệt nhân = hổ cắn nguời' là 'hữu phu điệt' cuả Tụng đó (Mă-Dung có lư khi thay chữ trất bằng chữ điệt ). Như quẻ Sư, lấy Lâm biến Sư làm chuẩn, Sư 'ưu chúng' là Lâm 'kư ưu' vậy. Như quẻ Tỷ, lấy Truân biến Tỷ làm chuẩn, Truân 'kiến hầu nhi bất ninh = dựng tước hầu mà cũng chưa yên' chính là Tỷ 'bất ninh phương lai = kẻ nào ở phương chưa yên, sẽ lại với ḿnh' đó. Quái-biến bên trên, tên quẻ đôi đều có dẫn-chứng: 64 quẻ biến-hào đều có điều-lệ hẳn hoi. "Hào là nói về biến" (Hệ-Thượng III/1). Sở dĩ "Dịch, về lời nói th́ chuộng lời, về hành-động th́ chuộng biến-hoá" (Hệ-Thượng X/1). Thông thường, quẻ chỉ biến một hào lẻ, đủ để ta lĩnh-hội đạo biến-hoá cuả quẻ: đó là Kiền cương lấy nhu mà biến, biến chấm dứt nơi hào thượng, ứng với quẻ bác, Bác chính là nhu biến cương. Kiền cương biến bèn là Khôn nhu biến. Kiền 'tham ngũ dĩ biến', 3 là 9 cuả tham tức chấn, đều là chấn dụng-cửu để biến. 5 là 5 cuả 25 tức quẻ Bác, đều là chấn dụng-cửu để biến. Kiền, thiên-số 5, năm hào đến  25 (hào thượng) là chí-biến. "Nếu không phải là sự rất biến cuả thiên-hạ, th́ đâu được dự vào điều ấy" (Hệ-Thượng X/3). Quái-biến-đồ lấy âm dương đệ-thăng, bảo là quẻ này từ quẻ kia lại, kỳ thực vô-quan. Quẻ [4 âm, 4 dương] trùng-hợp với quẻ [2 âm, 2 dương], Đại-tráng trùng với Đại-quá,  Đỉnh-Cách-Ly trùng với Quan. chẳng hoá ra là Di-Truân-Mông-Khảm biến từ Lâm-Độn sao ? Quẻ [1 âm, 1 dương] sở-biến tức là quẻ [5 âm, 5 dương] sở-biến. Quái-biến lại biến từ Phục-Cấu hay sao ?  Biến từ Quyết-Bác hay sao? Đă biết ḿnh nhầm lẫn, hẳn phải hiểu là phản-đối-quái không phải là quái-biến mà là văng-lai-quái vậy. 

Phản-Phục (Local Reflection): 

Phản-quái là lật ngược toàn quẻ, c̣n phản-phục-quái chỉ lật ngược hoặc thượng-quái hoặc hạ-quái mà thôi. Trong loại-quái thiên-điạ thượng-hạ, có loại tương-đương, có loại tương-phản. Quẻ tám phương thiên-điạ định-vị, kiền-khôn Ly-khảm nam-bắc, đông tây, cư tứ chính (tí-ngọ-măo-dậu), chấn-tốn, cấn-đoài, đông-bắc, tây-nam, tây-bắc, đông-nam, cư tứ-ngung (dần-thân-tỵ-hợi). Quẻ tứ-chính không thể lật ngược được, trong khi các quẻ tứ-ngung chấn-tốn-cấn-đoài lật ngược lại sẽ thành cấn-đoài-chấn-tốn. Từ đây trở xuống dưới, khi nói thượng-phản có nghiă là chỉ lật ngược thiượng-quái, khi nói hạ-phản có nghiă là chỉ lật ngược hạ-quái. Tỷ như TruânC, thượng khảm không phản, mà hạ chấn hạ-phản thành cấn cho ta Kiển g nạn vậy. Truân, thủy-giao-nạn thành Kiển nạn, là Truân bất-ninh hầu vậy. Như quẻ Mông D hạ khảm bất-phản, thượng cấn thượng-phản chấn là giảih-hoăn. Kiển mà mông-nạn là hoăn-truân, vật mới sinh c̣n mông-lung, vỏ quả nứt ra, mông quả dục, giải mà phát mông, nên mới thoát khỏi gông cùm (Mông sơ-lục). Như quẻ Tiểu-súc, hạ kiền bất-phản, thượng tốn thượng-phản đoài thành ra Quyếtk, là quyết tâm thi-ân cho kẻ dưới quyền. Tiểu-súc I Thoán th́ nói: ""Mật vân bất vũ = Mây dầy đặc mà không mưa" là v́ chưa thi-hành. Quyết cửu-tứ th́ nói: "Khiên dương, hối vong = dắt dê mà ḿnh đi sau, hối-hận mất đi"; Tiểu-súc cửu-nhị th́ nói: "Khiên phục, cát = dắt nhau trở lại đạo lư th́ tốt" (Dê là tiểu-súc, là gia-súc nhỏ). Như quẻ Lư, trên kiền bất-phản, hạ đoài hạ-phản tốn thành Cấu ltrángb, phi lễ Lư đều cấu tráng, biện thượng-hạ lư hữu lễ tảo-biện, ấy là thượng-thiên hạ-trạch. Như quẻ Khiêm, thượng khôn bất phản, hạ cấn hạ-phản chấn thành Phục. "Phục, là nền móng cuả đức-nghiệp" (Hệ-Hạ VII/2), tức "Khiêm là cán cuả đức tính" để hạ nhân-hạ, thượng bất-phục, dụng hành sư bất lợi. Khiêm phản mà phục, thượng dụng hành sư lợi vậy. Như quẻ Dự, hạ khôn bất-phản, thượng chấn thượng-phản cấn, thành Bác. Thiên-điạ thượng hữu Bác, Dự tiên kiên-hầu, hạ hũu phục, không thể do-dự, mà khôn do Tiệm đến nơi Bác vậy. Chính là Dự kiến-hầu. Như quẻ Tùy, hạ chấn hạ-phản cấn, thành Hàm, "Hàm, chấp kỳ tùy" vậy. Thượng đoài, hạ-phản tốn, thành Ích. "Lập chí vật hằng", ắt Hàm chí tại Tùy-nhân. Như quẻ Cổ, hạ tốn hạ-phản đoài, thành Tổn, Cổ là Kiền-Khôn kỷ-sự, cổ-tật, cổ-sự vậy. Chính là "tổn kỷ sự" (Tổn sơ-cửu), "tổn kỳ tật" (Tổn lục-tứ) đó thôi. Thượng cấn thượng-phản chấn, thành Hằng, "Cổ, hữu tử khảo" (Cổ sơ-lục), "Trinh tật hằng bất tử" (Dự lục-ngũ), "Hằng chung tắc hữu thủy", "Cổ thiên hành chung tắc hữu thủy" vậy. Như quẻ Lâm, thượng khôn bất-phản, hạ đoài hạ-phản tốn, thành Thăng. Sơ-lục: "Doăn Thăng, đại cát". Lâm là đại vậy. Lâm tiêu không lâu, lâm thăng thượng, tiêu bất-phú vậy. Như quẻ Quan, hạ khôn bất-phản, thượng tốn thượng-phản đoài, thành Tụy. "Tụy, quan kỳ sở tụ", Tụy thượng tốn vậy, là quẻ Quan vậy. Sáu mươi tư quẻ, thượng-hạ phản-quái đều như các lệ kể trên. Tứ-chính-quái bất-phản, tứ-ngung-quái phản-phục. Đều bắt rễ từ bát-quái, mà 64 quẻ phản-phục khôn cùng, đều có thể thấy được. 

Chung Thủy Hữu Vô:

Thượng-Kinh, Kiền dẫn đầu, Khôn nối đuôi; Hạ-Kinh, Hàm dẫn đầu, Hằng nối đuôi. Kiền tây-bắc là thiên, là vô, Hàm cũng là vô. Khôn tây-nam là điạ, là hữu. Hằng là hữu vậy. Thượng-Kinh Thái, Hạ-Kinh Tổn (Tổn hạ Ích thượng là Tổn Thái) ; Thượng-Kinh Bĩ, Hạ-Kinh Ích (Tổn thượng Ích hạ tổn Bĩ). Bĩ, Thái là phản kỳ loại. Tổn-Ích thịnh-suy chi thủy dă (Tạp-Quái-Truyện). Thượng-Kinh Ly, Hạ-Kinh Tiết. Vật không thể chung-ly hoài, nên mới nối-tiếp bằng Tiết. Tiết là dừng lại. Thượng-Kinh dừng lại ở Ly #30; Hạ-Kinh dừng lại ở Tiết #30. Sáu mươi tư tiết cuả trời đất, hoàn-thành cùng bốn muà. [Thiên-điạ-tiết khởi từ Chấn, kết-thúc nơi Cấn (quái-hậu), 60 di-tiết ngừng ở Di. thượng-hạ phất-kinh, dương phản Thượng-hạ-Kinh, phục-thủy ở Trung-phu], mà Trung-phu tiếp nối Thượng-Kinh Kiền, Tiểu-quá tiếp nối Thượng-Kinh Khôn. Trung-phu phục-khởi trung-khí Kiền nhị; Tiểu-quá, quá bất-cập, phục-khởi không nổi Khôn tam, mà Kư-tế-Vị-tế phục-phản thành Truân-Mông cuả Thượng-Kinh. Vật không thể cùng, mà chung cuộc phản thủy. Kiền tây-bắc ngậm vô, phục-phản thành Khôn đông-nam. Hằng là hữu, thiết-lập tượng 64 quẻ chung-thủy hữu vô. Cho nên, cái đă qua là tiên-thiên, cái lại đến là hậu-thiên. Tây-bắc Kiền-Hàm là vô, tây-bắc ngảnh đông-nam, là quẻ tiên-thiên định-vị. Đông-nam đoài, tây-bắc cấn, là Hàm vậy. Kiền-hoàn, Hàm mau mắn mà muôn vật nhập vô, đều do Hàm đới Kiền mà ra cả. Tây-nam Khôn là Hằng hữu vậy. Tây-nam ngảnh đông-bắc, là quẻ tiên-thiên định-vị. Đông-bắc chấn, tây-nam tốn là Hằng vậy. Khôn vuông, Hằng cửu mà muôn vật xuất hữu đều do Hằng đới Khôn mà ra cả. Thượng-Kinh Kiền-Khôn mà là Thượng-Kinh Khảm-Ly tương-tiếp với Hàm-Hằng cuả Hạ-Kinh, mà là Ly tương-tiếp với Hàm. Quẻ Thiên-điạ định-vị thác, bốn muà thác-hành đều là 64 quẻ tự-quái thượng-hạ thác. Tứ-thời tự-quái để thác Lư, Lữ. Cho nên, Lư, Lữ thác để tiếp sức Hàm có chỗ thác trên dưới, ngơ hầu các quẻ Thượng-Hạ-Kinh ráp nối nhau. Ly và Hàm tương-thác-cận trên dưới mà là kiền-hoàn. Ly là nhật, Hàm mau mắn, mà ly nam-phương, ngọ mau mắn mà nhập tuất, ắt là Hàm vô là tượng Ly-Hàm chết [đột như, tử như = như đột-ngột, như chết (Ly cửu-tứ)]. Khảm với Hằng thượng-hạ tương-thác-viễn mà là khôn vuông. Khảm là nguyệt, Hằng cửu, mà khảm bắc-phương tư cửu mà xuất th́n, ắt là Hằng hữu (chấn-tốn hằng-phương), Đó là tượng Khảm-Hằng bất-tử (Dự lục-ngũ). Chính là tượng 64 quẻ thượng-hạ xuất-nhập hữu-vô tử-sinh. Vậy nên trong Dịch quái-tự khộng thể chấm dứt ở Ly. Chấm dứt ở Ly, tất 64 quẻ cùng. Dịch cùng ắt biến, biến ắt thông, thông ắt lâu dài vậy (Hệ-Hạ II/5), đều là ở đấy cả. Ấy là 64 quẻ chung thủy bao quanh đều ở quẻ. Tự-quái trên dưới, nói Hằng, không nói là Hàm, có thể thấy được trời đất muôn vật. Thuyết "Chung Thủy Hữu Vô" đầy đủ hết nơi Tự-quái-truyện.

Đa Dự, Đa Công:

Quẻ thiên-điạ thượng-hạ, lấy Kiền cửu-tam trùng cương mà bất-trung, cửu-tam trùng cương mà bất-trung tức-thị Kiền tam-tứ là hào cuả Tiểu-quá, là thiên-điạ thượng-hạ giới-pḥng, lấy cấn ngăn cản vạn-vật đừng quá, bèn là tam-tứ nhân-vị, là hào "tam đa hung = hào  tam nhiều cái xấu" (Hệ-hạ IX/6), "tứ đa cụ = hào tứ th́ nhiều sự sợ-hăi" (Hệ-hạ IX/6), lấy làm giới-pḥng. Sáu mươi tư quẻ đều lấy Tiểu-quá tam-tứ làm hạn-định, mà hào tam đa hung, ngôi chẳng đáng, chiếm số đông. Nên Trung-phu trên dưới lấy nghiă cuả Lâm-Quan. Lâm nơi hạ-quái cuả Tiểu-quá là Đại-quá, ắt dừng lại, Quan nơi thượng-quái cuả Tiểu-quá là Độn, ắt thoái lui. Ắt dừng, ắt thoái đều là hào cửu-tam bất-trung, cửu-tứ bất-trung, đa hung, đa cụ cả. Ấy là nơi tam-tứ bất-trung, nghiă cuả Lâm-Quan hoặc cho, hoặc cầu (TQT). Cho thượng-hạ, cầu trung (nhị và tứ): với tứ, bất-trung th́ cầu nhị trung. Tam với ngũ: tam bất trung th́ cầu ngũ trung. Phàm hào cương trung thượng-hạ, nhị-ngũ cầu được, ắt trung-phu cương đắc trung, mà Tiểu-quá th́ lấy nhu đắc trung, là tượng vô quá, bất cập vậy. Nên phàm 64 quẻ là tượng vô-quá bất-cập, mà có tượng-vị chính-trung, đều là Kiền cửu-tam, cửu-tứ, đều là quẻ trùng-cương giới-pḥng. Quẻ cầu thượng-hạ bất-quá, ắt được tượng-hào đa dự, đa-công cuả trời đất.

Lục-hào hành hành bát phương:

Quẻ 6 hào đi khắp 8 phương, Kiền hành-sự có cán (can), Khôn cư thể có chi, quẻ bốn góc (dần, thân, tỵ, hợi) có Khôn chi, đông-bắc cấn sửu-dần, tây-nam khôn mùi-thân, đông-nam tốn th́n-tỵ, tây-bắc kiền tuất-hợi. Bốn chính-quái noi theo kiền-cán: bắc khảm tư nhâm quư, nam ly ngọ bính đinh, đông chấn măo giáp ất, tây đoài dậu canh tân (Quẻ tứ duy theo sát thiên Thiên-văn-huấn cuả sách Hoài-nam-tử, 006, Tập Hạ, tr. 92-171). Trời đất hợp-tượng hoàn-phương. Bốn chính-quái đảm-đương kiền-hoàn là lấy tí-ngọ-măo-dậu, có nhâm-quư, bính-đinh, giáp-ất, canh-tân, kiền cán. Kiền cán là thiên-hoàn sở dĩ lưu-hành. Quẻ bốn góc đảm-đương khôn-phương, là lấy khôn-cấn-tốn-kiền với mùi-thân, sửu-dần, th́n-tỵ, tuất-hợi, khôn-chi. Khôn-chi là sở dĩ khôn-phương dựng lên. Như hào sơ quẻ Kiền, bắc khảm tí-nhâm-quư, là hai quẻ khảm-ly cư phương cùng chưa biết cực vậy. Sơ là thái-cực vậy. Ba hào góc đông là giáp-ất, là kiền-khôn phản kỳ loại, là tam-phản-phục đạo. Ngũ nam ly ngọ-bính-đinh, là hai quẻ cấn-đoài 'quy phất vi = ', huống chi là con người: ấy là 5 mà 'thiên phất vi = Trời không trái ư' vậy. Ngôi sơ-tam-ngũ cuả Kiền, Kiền-cán, mà thiên-hoàn sở dĩ lưu-hành vậy. Khôn nhị-tứ-thượng, khôn-vị, khôn-chi, khôn-phương, sở dĩ dựng nên. Kiền-vị sơ-tam-ngũ, kiền-cán, khôn-phương, tháp-tùng kiền-hoàn mà lưu-hành. Kiền nhị-tứ-thượng là khôn-vị, khôn-chi, lại là kiền-hoàn theo khôn-phương mà dựng nên. Sáu mươi tư quẻ văng lai ấy, qua lại bát-phương, đang lúc cấn đông-bắc có chi sửu-dần, đông-phương măo đều có can giáp-ất. Hào lấy nghiă từ kiền-khôn, giáp-ất. Nói giáp-ất mà không lấy kiền-nghiă là không lấy giáp-ất nữa. Theo tượng sáng suả không ǵ bằng nhật-nguyệt. Kiền giáp, khôn ất, chấn canh, tốn tân, là quái-tương cuả trời đất. Nếu Dịch bỏ huyền-tượng nhật-nguyệt, không nói đến nữa, ắt Dịch không thể hiểu được. Cho nên Kiền can, Khôn chi, 64 quẻ văng lai chỉ là như vậy mà thôi.

Tượng Cáo T́nh Ngôn:

Tám quẻ Dịch dùng tượng để tuyên-cáo. "Hào và Thoán lấy t́nh mà nói" (Hệ-Hạ XII/5). Tượng-cáo tỷ như 'Sấm ở trong đất' (Đại-tượng quẻ Phục), làm sao biết? Lấy đậu 'Dưới trời có gió' (Đại-tượng quẻ Cấu), ắt biết 'có sấm trong đất'. Phục bèn là Cấu, dưới trời có gió là tháng Một cuả Cấu vậy (nên nhớ là muà đông gió … lạnh lùng, gió lạnh lùng). Mà trong đất có gió là điạ-lôi Phục vậy. Như 'Trạch thướng ư thiên = hơi đầm bốc lên trời' (Đại-tượng quẻ Quyết), chính là 'Vân thướng ư thiên = Mây bay lên trời' (Đại-tượng quẻ Nhu). Nhu là dương quyết khử âm, là trạch-thiên Quyết. Mà 'đầm ở trên trời' là thiên-trạch Lư vậy. Đầm đă ở trên trời, ắt trong đầm có sấm, chấn động bên trên, đầm ở trên trời, tất sấm cũng ở trên trời, là Quyết cuả Đại-tráng. Quẻ Đại-tráng quyết chí mà quẻ Quyết cũng có tráng-chí. Nên hào-từ cửu-tứ quẻ Quyết mới nói: "Khiên dương hối vong = dắt dê mà ḿnh đi sau, hối-hận mất đi" và hào-từ lục-ngũ quẻ Đại-tráng th́ nói: "Táng dương vu dịch vô hối = Đánh mất con dê nơi bờ ruộng, th́ không hối tiếc". Lấy tượng-cáo như 'trong đầm có lửa' (Đại-tượng quẻ Cách), 'trong đầm có sấm' (Đại-tượng quẻ Tùy), ta thấy cái ǵ? Tất trong đầm sấm động bên trên, hoả động bên trên, mà thành ra trên đầm có hoả, trên đầm có sấm, trên hoả dưới trạch. giống như trên thiên dưới trạch mà 'phi lễ phất lư = hễ cái ǵ không phải lễ, th́ chẳng làm' (Đại-tượng quẻ Đại-tráng), bèn thành ra 'trên đầm có sấm', đó là Quy-muội 'bả năng lư = khập khiễng mà hay đi' vậy, là lấy tượng mà tuyên-cáo vậy. Như thủy ở trên hoả, thủy làm sao ở trên hoả được? Tất khoảng giữa thủy-hoả, có Khôn là phủ (buá riù), mà lấy thủy ở trên hoả, ấy là tượng khảm-khôn tức thủy-điạ Tỷ nơi thượng-quái, trên quẻ Kư-tế, lấy Tỷ là lạc, Khôn là buá riù giết ḅ, cuối cùng loạn, chính là Kư-tế 'ướt đầu' (nhu kỳ thủ) [Kư-tế thượng-lục], Tỷ 'không đầu' (vô thủ) [Tỷ thượng-lục]. Như hoả ở trên thủy, hoả làm sao ở trên thủy được? Tất khoảng giữa thủy-hoả, có Tốn là mộc, mà lấy hoả ở trên thủy, khiến cho có tượng tốn-khảm tức phong-thủy Hoán nơi hạ-quái. Vị-tế, dưới lấy 'Hoán hữu khâu' (Hoán có g̣ đống) [Hoán lục-tứ], tốc là mộc 'thiệp đại xuyên = qua sông lớn', rút cuộc không khốn-đốn vậy. Vị-tế mà tế-độ, Hoán là mái chèo cứu rỗi vậy. Lấy tượng-cáo như vân-lôi Truân, lôi-phong Hằng, phong-lôi Ích, lôi vũ tác Giải (Giải Thoán), lôi-điện Phệ-hạp (Phệ-hạp Đại-tượng), lôi điện giai chí (Giải Đại-tượng), quẻ Phong tương-thông, tượng tương-loại ngơ hầu tượng-cáo để giăi bầy t́nh-tự. Tượng-cáo tức t́nh-ngôn. Tác-giả Kinh Dịch nói rằng Tiểu-súc, rằng Đại-hữu, rằng Đồng-nhân, rằng Phệ-hạp, rằng lời vậy. Quẻ tương-thông, t́nh tương-loại cốt để t́nh-ngôn. Đồng-nhân bảo hợp-đồng, ra khỏi Di, có vật là Phệ-hạp. Một hào trong Di là Dự-hạp, là Phệ-hạp. Đồng-nhân bảo là Đồng-nhân nói, âm dương đồng-thanh đều là như thế cả. Nên Đồng-nhân thành ra Dự tác lạc, giống như Thoán-từ 'vu Dự'. Thoán-từ 'Đồng-nhân thuận dĩ động Dự'. Dự thuận để động, Đồng-nhân bảo hạp-hợp, Phệ-hạp, hạp là Dự vậy, lấy t́nh mà nói vậy. Tỉnh-Tỉnh (Tỉnh Thoán), Kiền-Kiền (Kiền cửu-tam), Khảm-Khảm (Khảm lục-tam), Khiêm-Khiêm (Khiêm sơ-lục), Kiển-Kiển (Kiển lục-nhị), Quyết-Quyết (Quyết cửu-ngũ), đều là nói Tỉnh-Tỉnh cuả Tỉnh Thoán cả. T́nh cuả hào-thoán là lấy t́nh mà nói vậy. Di Thoán : 'quan Di', mà Lâm hào: 'hàm lâm' (Lâm sơ-cửu), Mông hào: 'khốn Mông' (Mông lục-tứ), Đoài hào: 'phu Đoài' (Đoài cửu-nhị), Lư hào: 'quyết Lư' (Lư cửu-ngũ), Trung-phu hào: 'hữu phu' (Trung-phu cửu-ngũ), đều là nói Di Thoán : 'quan Di' cả. Di Thoán : 'quan Di' tức thị Tỉnh Thoán Tỉnh-Tỉnh. T́nh-ngôn cuả hào-thoán  tuyệt đến thế là cùng. Như hai tiếng Nguyên-Hanh cuả Đại-hữu Thoán hoặc hai tiếng Lợi-Trinh cuả Đại-tráng Thoán. Sáu quẻ : Kiền, Truân, Tùy, Lâm, Vô-vơng, Cách có đủ bộ tứ-đức Nguyên-Hanh-Lợi-Trinh trong khi sáu quẻ : Quan, Tấn, Khuê, Cấu, Tỉnh, Cấn không có chữ nào cuả bộ này. Có quẻ chỉ nói suông : Mông là Mông vậy, Tỷ là Tỷ vậy, Bác là Bác vậy, hay như Tổn nhi bất dĩ, Ích nhi bất dĩ, Thăng nhi bất dĩ, xem hằng nơi nào, có thể thấy được t́nh cuả vạn-vật ; xem tụ nơi nào, có thể thấy được t́nh cuả vạn-vật. Đều là "Thánh-nhân chi t́nh hiện hồ từ = T́nh cuả đấng thánh-nhân hiên ra nơi lời nói" (Hệ-Hạ I/9). Ấy là lấy t́nh mà nói. Chính là bát-quái, hào-thoán tượng cáo t́nh-ngôn, có thể loại-suy mà bết được. 

  Lục-hào tương-ứng:

Bát-quái lục hào tương-ứng gốc ở Thiên-điạ định-vị. Thượng-tam, cấn-đoài, sơn-trạch, cương-nhu ứng với tứ-sơ, chấn-tốn, lôi-phong, cương-nhu, đều ứng, ắt là ngũ-nhị, ly-khảm, thủy-hoả, chính mà vị đáng. Thượng-tam, cấn-đoài, tứ-sơ, chấn-tốn, ắt lại là ngũ-nhị, ly-khảm, hoả-thủy, tuy không đáng vị, cương-nhu ứng là đủ. Nhị-ngũ ứng vị ấy, tứ-sơ ứng-vị, bất đáng vị, ắt quẻ nhị-ngũ là vị tương-đương trong trời đất, bất luận cửu-lục đều là vị đáng. Cho nên nhị-ngũ không nói hào-vị bất-đáng, mà tứ-tam không nói hào-vị đáng. Duy Đại-tráng, ngũ nhu tiểu dụng tráng, không phải sở đương, mà nói vị không đáng vậy. Duy Lâm tứ cương-đại, không dùng tráng là đáng mà nói vị đáng vậy. Là lấy thống-kê vị bất-đáng, hào hay tại tứ-tam. Duy ngôi tam bất đáng, nhiều hung, là lẽ thường. Mà vị đáng, vị bất đáng không chuyên tại bản-quái-vị cương-nhu. Cho nên Khôn thượng-lục chưa đáng vậy. Nhu thượng-lục, tuy bất đáng nhưng chưa đến nỗi nào. Quái-hào văng-lai bèn là ngôi đáng nơi quẻ nào. Nhu thượng đảm đương ly-ngọ là Vị-tế thượng-quái tiểu, tuy bất đáng-vị, tiểu-thất, chưa đại-thất. Nhu thượng-lục mà nói, tuy bất-đáng-vị, chưa đại-thất đâu. Khổn thượng đảm-đương chấn-măo, là Kiền thượng chấn động, nơi ngũ trung-trực đắc đương là chưa đáng (Khổn ngũ, Phệ-hạp đắc-đương). Khổn thượng-lục mà nói 'chưa đáng vậy'. Ấy là tại quái-vị văng-lai nói không rơ văng-lai, mà lại nói vị đáng, vị không đáng. Cương-nhu đáng-vị, bất-đáng-vị là nói về bản-quái hợp phương-vị văng-lai-quái. 

Cấn Đẩu-Chỉ 艮斗指(Polaris as pointer) :

Trong bát-quái cấn kết-thúc và khởi đầu muôn vật. Trời đất muôn vật, lớn nhỏ qua lại đều chung thủy tại cấn đông-bắc sửu-dần, tức thị cấn là đẩu, là chỉ, để chỉ lối đi đến cho muôn vật ngơ hầu làm nên bốn muà. Nên quẻ bốn phương: khôn tây-nam mùi-thân th́ trực đông-bắc cấn, đông-bắc cấn chỉ-hướng mùi. Ắt khôn tây-nam mùi-thân làm thiên-điạ mùi văng, mùi lai, mà cấn-đẩu đông-bắc chỉ-hướng đi đến. Ắt trời đất có hai lối đi về: sửu-dần-măo là tả-văng mà hữu-chi, dần-sửu-tí là hữu-lai mà tả-chi. Chi mà văng, kiền tây-bắc hợi, lai tốn đông-nam tỵ, là văng kư-lai tỵ, mà đông-bắc ắt là văng-lai-thủy. Văng-kư-lai dĩ chung-phục là văng-lai-thủy. Cho nên,   là xuất vậy. Vạn-vật xuất-điạ, tây-nam là khôn, là đất. Cấn đông-bắc chỉ chỗ đi đến, mà khôn trực-phương-đạo (orthonormal path), 64 quẻ các phương đều tương-trực, muôn vật văng lai, "lúc đầu u-mê mà lỗi đạo" (Khôn Thoán), hiếm lắm. Là lấy Dịch đoài duyệt-ngôn, cấn thành-ngôn. Dịch Thuyết-quái: đoài khẩu duyệt, quẻ chỉ chỗ đi đến, cấn-thủ chỉ Thuyết-quái. Muôn vật thấy tượng nhật-nguyệt nơi đoài, quẻ chỉ chỗ đi đến, muôn vật cấn chẳng sai vạy, ắt là Đẩu. Cán Đẩu chỉ quẻ trực-phương. Cho nên quẻ Dịch, cấn là kính-lộ (geodesics), là môn-khuyết, muôn vật đều xuất-nhập do môn-khuyết, văng lai theo kính-lộ, dĩ-lai kư-văng, vị-văng vị-lai, đều ở cấn đông-bắc sửu-dần cuả dần, chỉ chỗ đi đến vậy. Dần, nhỏ đi, lớn lại, quẻ có lớn có nhỏ, "vô b́nh bất pha = không ǵ bằng phẳng măi mà không nghiêng ngả" (Thái cửu-tam), "Từ hữu hiểm dị, từ dă giả các chỉ kỳ sở chi= Lời th́ có hiểm-hóc dễ dàng, lời là bảo cái nơi phải đến" (Hệ-Hạ III/5), Hệ-Hạ I/9 nói: "Thánh-nhân chi t́nh hiện hồ từ = T́nh cuả đấng thánh-nhân hiên ra nơi lời nói". Mỗi mỗi đều chỉ bảo chỗ đi đến. Dịch-chỉ lấy tượng từ đó vậy. 

Dịch Dụng Tự:

Chữ dùng trong Dịch đều có nêu rơ xuất-xứ từ quẻ nào, ngơ hầu lấy nghiă từ quẻ đó và đă thành định-lệ. Lấy chữ 'trung' làm chuẩn. Kế đến là: 'u-minh',  'xuất-nhập', 'nội-ngoại', 'tiến-thoái', 'tiểu-đại', 'ưu-lạc' (vui buồn), 'cầu dữ' (cho và t́m đến nhau), 'cùng thông', 'thường-biến', 'nan dị', 'tốc cửu' (sớm lâu), 'vơng', 'vô', 'cố', 'hữu'. Cho nên, phàm Dịch nói 'trung' là ám-chỉ quẻ Trung-phu. Ta có thể kể: 'u = khảm', 'minh = ly', 'xuất = chấn', 'nhập = tốn', 'ngoại = Khuê', 'nội = khôn' (trong nhà), 'tiến = Tấn', 'thoái = Độn', 'tiểu = Phục', 'đại = Lâm', 'ưu - Sư', 'lạc = Tỷ', 'cầu = Quan', 'dữ = Lâm ', 'cùng = Khốn', 'thông = Khảm', 'thường = Khôn', 'biến = Cách', 'nan = Kiển', 'dị = Kiền', 'tốc = Hàm', 'củu = Hằng', 'vơng-vô = Hàm', 'cố-hữu = Hằng'. Thuyết-pháp nhất-quán cuả 64 quẻ Dịch nghiă chữ hẳn đă nhất-định rồi.  

Thánh-Nhân chi t́nh hiện hồ từ:

Dịch-thuyết hẳn nằm cả trong Thập Dực. Thập Dực không thể bàn hết Dịch-thuyết mà chỉ đề-cập đại-phàm, đại-tiết trong liên-văn thượng-hạ bàn kinh, cốt chỉ bảo Dịch-pháp cho người học Dịch hội-thông. Khi làm ra Thập Dực, Đức Khổng-phu-tử tận ngôn, tận ư cáo nhân. Nói tóm lại, "T́nh cuả đấng thánh-nhân hiện ra nơi lời nói". Có thể lời giống mà nghă hơi khác. Có thể lời khác mà nghă na ná. Không chấp nhất lời một quẻ, hẳn t́nh cuả Thánh-nhân hiển-hiện nơi 64 quẻ. Phép thuyết Dịch đều dựa vào "T́nh hiện ra nơi lời", ắt từ-chứng cuả Thánh-nhân quẻ nào mà chẳng có. Mới hay Dịch chỉ là một trực-môn-kính, có thuyết-pháp cố-định, vô-phương-sở lấy từ hũu-phương-sở, có cố-tích nhất-định, vị-lai men theo dĩ-văng, mà thiên-điạ đại-vận, đế-vương đại-pháp, đều thông-hành từ trực-môn-kính đó. Không hiểu điều đó, cứ gán cho quái-từ, hào-từ đó gắn liền với cát hung đó, th́ Dịch chỉ là một quyển sách Bốc-phệ, một tuyển-tập dao-từ mà thôi. "Vi biên tam tuyệt, tất thư tam diệt = Trúc-giản đứt lề ba bận, trúc-giản viết bằng sơn đen tiêu-ma ba lần" mà làm ǵ ? Các Dịch-lệ dẫn-thượng đều lấy từ Thập Dực. Đôi khi có điều lấy từ Thập Dực không ai ngờ chi hết. Dịch-đạo lúc ấy cùng rồi. Nay dịch-lệ phô bầy minh-bạch, thánh-nhân  giải quẻ trước mặt, vạch quẻ trước mặt, nếu hiểu được hăy gắng nghiên-cứu đi. Dịch dấy lên cũng có thời vậy.

Dch chi thư Thánh-Nhân tạp-soạn nhi thành:

Sách Dịch do thánh-nhân tạp-soạn mà thành. Như Nguyên Hanh Lợi Trinh là tứ-đức cuả trung-hào quẻ Kiền : chấn nguyên, ly hanh, đoài lợi, khảm trinh. Bốn chữ ấy tạp-hành ắt thấy bốn muà, tạp-cư ắt có bốn phương, mà tạp, mà soạn đấy, ắt một đậu như 'hữu phu', nam-phương ly Đại-hữu, bắc-phương khảm Trung-phu. Hữu cuả nam Đại-hữu tạp phu cuả bắc Trung-phu, mà tạp, mà soạn đó, ắt hai chữ 'hữu-phu', chữ đại cuả nam Đại-hữu tạp chữ trung cuả bắc Trung-phu, mà tạp, mà soạn đó, ắt hai chữ 'đại-trung', Dịch-đạo cuả trời đất, nam-bắc khảm-ly thủ-vỹ tức tạp-soạn  tại trên dưới, chính giữa có hai chữ 'hữu phu' và hai chữ 'đại trung' làm thiên-điạ Dịch-đạo-trung vậy. Lời cuả Văn-Vương, Chu-Công, Khổng-tử cùng tạp-soạn nơi Dịch, một câu ráp nối quẻ nọ với quẻ kia, một chữ mà bàng-xuyên hào nọ với hào kia, tỷ-phụ 64 quẻ thành một quẻ, khiên-liên 384 hào mà đan-cử một hào. Thiếu một bước bách-đồ hỏng bét, thiếu một sợi tơ trăm mối rối beng. "Ngôn thiên-hạ chi chí trách nhi bất khả ố dă, ngôn thiên-hạ chi chí động nhi bất khả loạn dă. = Nói cái rất phức-tạp cuả thiên-hạ mà không thể chán, nói cái rất động cuả thiên-hạ mà không thể loạn." (Hệ-Thượng VIII/3). Dịch-chỉ toàn-chủ Thập Dực. Thuyết Dịch nhất nhất đều là Thập Dực. Lệ thuyết Dịch, khiên-liên nơi quái-hào, nói dị-giản, trời đất một hai, cùng thông một hai, rất phức-tạp, rất động, sách cuả thánh-nhân, một câu, một chữ cũng tham-thác mà đọc tiếp. Như ghi thiên Vũ-cống (Kinh Thư), ghi tên cuả sơn-xuyên tú-độ, sao Khuê, sao đẩu cách xa ngàn dặm mà văn khắng-khít, v́ sách không nói được hết lời. Dịch-chỉ t́m sơn-xuyên, trải qua tú-độ, lấy xích, lấy bộ, đếm dặm, đếm 10 dặm mà làm cho chặt chẽ mạch-lạc. Sách nói hết lời, lời nói hết ư, câu có nhiều lời v́ quẻ, hào cần nhiều lời, mà phản-phục, ráp nối, bàng-xuyên, chẳng như Kiền Tạc Độ nói dịch-vị, dịch-số, một rằng thánh-nhân, hai rằng dung-nhân suy vi. Dịch-chỉ cũng nói cái rất phức-tạp cuả thiên-hạ, cái rất động cuả thiên-hạ mà không nói được vị-số cuả thánh-nhân, dung-nhân. Dịch-lệ trộm theo Dịch. Dịch-từ chẳng qua là tạp-soạn mà thôi. 

Dịch Huấn-Hỗ易訓:

Huấn-hỗ (131, tr. 271-2), c̣n gọi là Hỗ-huấn. Huấn-cố, Cố-huấn, giải-thích ư-nghiă từ-cú trong cổ-văn. Hàm-nghiă hai tiếng 'huấn' và 'hỗ' khác nhau.  Dùng ngôn-ngữ thông-tục mà giải-thích là 'huấn'. Dùng tiếng đời nay mà cắt nghiă tiếng đời xưa là hỗ. Sách vở về huấn-hỗ đại-thể có thể chia thành hai loại : loại đầu chuyên về một loại kinh-điển nào đó. Tỷ như, Mao Thi Cố-âm-khảo (131, tr. 181) chuyên về Kinh Thi, Lăo-tử Vương-Bật Chú chuyên về Đạo-Đức-Kinh. Loại thứ nh́, quy mô hơn, sưu-tập tự-vựng, giải-thích nhất nhất. Trên thực-tế, đây là một loại tự-điển. Như đời Hán có Nhĩ Nhă (131, tr. 197), Do-hiên Sứ-giả Tuyệt-đại Ngữ-thích Biệt-quốc Phương-ngôn tức Phương-ngôn (131, tr. 150) cuả Dương-Hùng, Thích Danh (131, tr. 328) cuả Lưu Hi, đời Tam-quốc có Quảng Nhă (131, tr. 116-7) tức Quảng Nhĩ Nhă cuả Trương-Ấp. Đời Thanh có ba trước-tác nổi tiếng là Kinh Truyện Thích-Từ (131, tr. 232) cuả Vương Dẫn Chi và Trợ-tự Biện-lược (131, tr. 44) cuả Lưu-Kỳ cùng là Quảng Nhă Sớ Chứng (131, tr. 117) cuả Vương Niệm-Tôn.

Nếu ta huấn-hỗ Dịch bằng cách chắp nhặt sách vở Tiên-Chu-Tần có liên-quan ít nhiều với Dịch, ắt ta đă làm lu mờ mất bản-nguyên cuả Dịch. Dịch pháp-tượng, tiên thánh thủ-pháp và hành-sự, hào-tượng cuả Chu Công đều tiềm-ẩn trong lời. Cho nên lấy Lục-kinh (Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu) chú Dịch tức thị lấy Dịch chú Dịch vậy. Quái-hậu gốc nơi Chu-Công thời-huấn có, mà nơi Thông Quái Nghiệm cũng có.

Nhưng quan-thiệp đến quái-hào, nên không thể không dùng. Dật-tượng do Mạnh-Hỉ truyền lại (Xin xem bài 65) không phải là Thuyết-quái-truyện. Dật-tượng Bản Kinh do dịch-gia trước thời Mạnh-Hỉ nghĩ tượng, có thể lấy mà dùng. Nhĩ Nhă không những thích-hỗ, thích-ngôn mà c̣n thích thiên, thích điạ, vốn dĩ là sở-tại cuả Dịch (như thích-thiên có những chữ: vũ= vơ, tinh = cờ tinh, kỳ = cờ; thích-điạ có những chữ:

tháp = tỷ-mục-ngư, kiêm = chim kiêm-kiêm, một giống chim chắp liền cánh vào với nhau mới bay được). Thuyết-văn cuả Hứa-Thận chứa nhiều cổ-văn cuả Dịch, bàn-luận mà không nêu duyên-cớ, đôi khi có tương-thông với Dịch, như chữ h́nh giảng là đao thủ tỉnh, lao  giàng là lửa đốt cửa v.v. Các đời kế-tiếp c̣n có Phương-Ngôn cuả Dương-Hùng, Thích-Danh cuả Lưu-Hi, Quảng-Nhă cuả Trương-Ấp, nhưng không đủ chứng-cứ để thuyết-dịch. Dịch giải-tự thường dùng Nhĩ-Nhă, Thuyết-văn, cực chẳng đă mới tham-khảo ba sách vừa kể. Cái mà các dịch-gia sở truyền, chữ này lấy làm chữ kia, không dính dáng ǵ đến đại-nghiă cuả Dịch cả, cũng không nên dẫn nhập, trừ phi có phát-minh được ít nhiều dịch-chỉ. Chữ câu cổ-bản hoặc dư, hoặc khác mà thêm vào là sai vạy rồi. Khỏi cần bàn. Dịch-lệ này có thể coi như là phụ-lục cuả Thập Dực.

 

  

 

 

Xem Kỳ 83

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com