www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 07

 

DỊCH NGOẠI-HÀM

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 77)


Dịch ngọai-hàm là tất cả những tinh-ba của Dịch nội-trúc vốn uẩn-súc bên trong, đột nhiên phát tiết ra ngoài, như là Ngũ-Dịch của Trọng-thị, Dịch vi-ngôn đại-nghiă, hỗ-biến tiên-hậu-thiên v.v. và cuối mà không kém, Quát và Hoàn.

Tiên-Thiên-Thuyết先天

Bát-quái Tiên–thiên được định-nghiă từng đôi đối-xứng xuyên-tâm trong Thuyết-quái-truyện (Chương III, Tiết 1):  "Trời đất định ngôi, núi đầm thông hơi, sấm gió xô-xát nhau, nước lửa không nhàm chán nhau, tám quẻ giao nhau." (天地定位,山澤通氣,雷風相薄 水火不相射, 八卦相錯)Định ngôi nên mới có sấp, có ngửa, có âm, có dương. Thông hơi nên mới có sinh, có thành. Xô sát nhau nên mới có thăng, có giáng. Không nhàm chán nhau nên mới có lạnh, có nóng. Đó là tượng của tám quẻ.

Mặt khác, trong Chính Kinh, ta có thể nói chữ “Phu ” là “da” gồm 2 lớp: lớp ngoài là biểu-b́ tức thượng-b́ (epidermis), lớp trong là chân-b́ tức hạ-b́ (hypodermis). Trong hào-từ và tiểu-tượng-từ, chữ “Phu” xuất-hiện cả thẩy 8 lần và lần nào cũng biểu-tượng hai quẻ đi sát nhau trong Bát-quái Tiên-thiên, như biểu-b́ với chân-b́ vậy:

1) Hoả-Lôi Phệ-hạp U(3-4) hào-từ Lục-nhị: Phệ phu diệt tỵ 滅鼻 (Cắn miếng thịt mềm, sứt cái mũi);

2)  Sơn-Địa Bác W(7-8), hào-từ Lục-tứ: Bác sàng dĩ phu 剝床以 (Cắt giường lấy đến da);                            

3)  Hoả-Trạch Khuể W(3-2), hào-từ Lục-ngũ: Quyết tông phệ phu 厥宗噬 (Cùng ḍng họ, cắn da để hợp nhau);                            

Ba thí dụ trên do Vương Hằng Trai đề ra và đựợc Chu Tuấn Thanh lập lại trong Lục-Thập-Tứ Quái Kinh Giải (218). Nay xin thêm ba thí dụ nữa:

4)  Trạch-Thiên Quyết k(2-1), hào-từ Cửu-tứ: Đồn vô phu 臀旡膚 (Mông đít không da);

5) Thiên-Phong Cấu l(1-5), hào-từ Cửu-tam: Đồn vô phu 臀旡膚 (Mông đít không da).

Tương-tự, chữ “Cách ” nghĩa là da thú, da thuộc, đă xuất-hiện trong:

6) Trạch-Hoả Cách q(2-3), hào-từ Sơ-lục: Củng dụng hoàng-ngưu chi cách 鞏 用黃牛之革 (Giữ bền ḷng như dùng da con ḅ vàng).

 

Hậu-Thiên-Thuyết後天

Luôn tiện cũng xin nói qua về Bát-quái Hậu-thiên.

Thiệu-tử nói: "Ngôi quẻ nơi đây do Văn-Vương định ra, đó là cái học Hậu-thiên vậy". ( 定。所 Thử quái vị năi Văn-vương sở-định. Sở vị hậu-thiên chi học dă.) 

Bát-quái này bắt nguồn từ Chương V, Thuyết-quái-truyện, chuyên nói về muôn vật theo chân Đấng Chủ-tể mà ra vào. Tiết I nói: "Đấng Chủ-tể ra ở Chấn (đông), thanh-khiết chỉnh-tề ở Tốn (đông-nam), thấy nhau ở Ly (nam), làm việc ở Khôn (tây-nam), vui nói ở Đoài (tây), đánh nhau ở Kiền (tây-bắc), khó nhọc ở Khảm (bắc), xong việc rồi nói ở Cấn (đông-bắc)" ( 震,齊 巽,相 離,致 坤,說 兌,戰 乾,勞 坎,成 艮。Đế xuất hồ chấn, tề hồ tốn, tương-kiến hồ ly, trí-dịch hồ khôn, duyệt ngôn hồ đoài, chiến hồ kiền, lao hồ khảm, thành ngôn hồ cấn.) 

Tiết II chỉ là tán rộng Tiết I mà thôi:

Muôn vật ra ở phương chấn, chấn là phương đông. Sạch sẽ chỉnh-tề ở tốn, tốn là đông nam, tề là nói muôn vật chỉnh tề, sạch sẽ. Ly là sáng, muôn vật đều thấy nhau; thánh-nhân xoay mặt về phiá nam mà nghe thiên-hạ, hướng về phiá sáng mà trị, tượng lấy ở chỗ đó vậy. Khôn là đất, muôn vật đều được nuôi nấng, nên mới bảo: làm việc ở Khôn. Đoài là chính thu, muôn vật đều vui vẻ, nên bảo rằng: nói năng vui vẻ ở Đoài. Đánh nhau ở Kiền, Kiền là quẻ tây bắc, là bảo âm dương xô xát nhau vậy. Khảm là nước, là quẻ chính bắc, là quẻ khó nhọc, muôn vật đều quy về đó, nên mới nói khó nhọc ở Khảm. Cấn là quẻ đông bắc, là nơi muôn vật làm nên cuối và làm nên đầu, nên mới nói rằng làm nên nơi phương Cấn. 

Văn-ngôn quẻ Kiền nói: "Nguyên là trùm mọi điều thiện, Hanh là tập-hợp các điều hay, lợi là ḥa-hợp các điều nghĩa, Trinh là cỗi rễ mọi việc"

Lư Đỉnh-Tộ nói: "Nhân chủ xuân sinh, lễ chủ hạ dưỡng, nghĩa chủ thu thành, trí chủ đông tàng". 

Thiệu-tử nói: "Kiền Khôn dọc mà sáu quẻ con ngang (H́nh 7.1), là gốc của Dịch vậy . Chấn Đoài ngang mà 6 quẻ dọc (H́nh 7.2) là dụng của Dịch vậy". (乾坤 縱而 六子橫,易之本也。震兌橫而六卦縱,易之用也。Kiền Khôn tung nhi lục-tử hoành, Dịch chi bản dă. Chấn Đoài hoành nhi lục-quái tung, Dịch chi dụng dă). (HCKTS , 022, Q. 7, tr. 96-98).


H́nh 7.1  Bát-quái Tiên-thiên      H́nh 7.2  Bát-quái Hậu-thiên


Tiên-thiên là đối-đăi để lập thể, nên chủ kiền-khôn v́ cho rằng kiền-khôn là trời đất vậy. Hậu-thiên chủ thời để thành dụng, nên chủ chấn-đoài v́ cho rằng chấn-đoài là xuân thu vậy. Thể thành chủ nơi trời đất; thời biến chủ nơi xuân thu. Đó là muốn so sánh để phân-biệt Dịch Tiên-thiên với Dịch Hậu-thiên.
 

Ngài cũng nói: "Cái học Tiên-thiên là cái học của Tâm; cái học Hậu-thiên là cái học của h́nh-tích vậy". (先天學心也。後天之學跡也。Tiên-thiên chi học tâm dă. Hậu-thiên chi học tích dă.) HCKTTT, Q 7, tr.98. Xin xem Hoàng-cực Kinh Thế Thư truyện nơi CHƯƠNG 14: HOÀNG CỰC KINH THẾ NGÔN SỐ. 

Tiên-thiên là nói đến cái học về công Tạo-hoá, từ tâm nẩy ra tích. Hậu-thiên là nói đến cái học của sinh-vật, từ tích t́m về tâm. Cho nên mới nói đến gốc của Dịch, dụng của Dịch. Thể dụng cần nhau. Nhưng dù xuất-xứ bất đồng, quy-điểm vẫn là một. Họ Hùng (Hùng Bằng-Lai, tự Dữ-khả) nói: "Cái học Tiên-thiên không thể truyền, chỉ có thể lấy tâm-ư mà lĩnh-hội. Cái học Hậu-thiên có thể khảo cứu được, nhờ văn-tự, bởi v́ có thể thấy được h́nh-tích".
                

Quẻ

Đơn

Kiền

!

Khảm

+

Cấn

-

Chấn

'

Tốn

)

Ly

%

Khôn

/

Đoài

#

Phương-

Hướng

Tây

Bắc

Chính

Bắc

Đông

Bắc

Chính

Đông

Đông

Nam

Chính

Nam

Tây

Nam

Chính

Tây

Tứ-đức 1

 

Trinh

 

Nguyên

 

Hanh

 

Lợi

Tứ-đức 2

 

Trí

 

Nhân

 

Lễ

 

Nghiă

Hành

Kim

Thủy

Thổ

Mộc

Mộc

Hoả

Thổ

Kim

Tiết-khí

Lập-

Đông

Đông-

Chí

Lập-

Xuân

Xuân-

Phân

Lập-

Hạ

Hạ-

Chí

Lập-

Thu

Thu-

Phân

Địa-bàn

Tuất

Hợi

Sửu

Dần

Măo

Th́n

Tị

Ngọ

Mùi

Thân

Thân

 

Tính-chất

Dương

thuỷ

Dương

sinh

Dương-

h́nh

 

 

 

Âm

thủy

Âm

sinh

Âm

h́nh

 

 

 

         Bảng 7.1 Ư-nghĩa Bát-quái Hậu-thiên cuả Phí-Trực

Hạng An-Thế nói: "Hai quẻ mộc chấn, tốn chủ xuân: chấn dương-mộc tại đông, tốn âm-mộctạ đông-nam, nên gần nam mà tiếp với âm-đoài và kền là hai quẻ kim, chủ thu. Đoài âm-kim chính-tây, Kiền dương-kim tại tây-bắc nên gần bắc, mà tiếp với dương-thổ, vượng tứ-quư (bốn cuối mùa). Cho nên khôn thổ ở tại giao mùa hạ-thu, cấn thổ ở tại giao mùa đông-xuân. Khôn âm-thổ ở tại âm-địa (ban đêm), Cấn dương-thổ ở tại dương-địa (ban ngày).

Trần Sâm nói: "Hỏa-khí cực nóng, không vật nào không do đó mà thành. Thủy-khí cực lạnh, không vật nào không do đó mà sinh. Duy thổ-khí rất ư là trung-ḥa, nên hỏa kim giao nhau mới có khôn thổ, thủy mộc giao nhau, mới có cấn thổ để cho muôn vật nương theo mà xuất-nhập vậy" (219, tr. 7b-8b).

Lư Quang-Địa nói: "Sấm sét là hỏa-phương phát, nên động ở mùa xuân, cùng hỏa lan rộng ra, nên khí của nó ắt vượng mùa hạ. Thấm ướt là thủy chưa thu vén, nên tản mát ở mùa thu, cùng thủy về nguồn cội, ắt vượng mùa đông. Thủy-hỏa là dụng của trời đất nên trụ tại tứ-chính (tư, ngọ, măo, dậu), để cầm trịch thời-lệnh. Kiền, tốn trực-đối nên là thiên-cương; khôn-cấn trực-đối nên là địa-kỷ. Thiên-địa là thể của thủy-hỏa nên trụ tại tứ-duy (dần, thân, tị, hợi), để vận-hành khu-trục. Thể-dụng chung lưng đấu cật, để sinh thành vạn-vật, ắt biết đạo của tạo-hóa. Thiên-địa thủy-hỏa là tất cả. Sáng lâu án-ngữ bốn phương, phân thành ba ngôi. Dương sinh nơi chính bắc, tây-bắc, ấy là khí khởi đầu vậy. Đạo kiền cai-quản mối đầu, nên dẫn đầu. Âm sinh nơi chính-nam, tây-nam, nên thành-h́nh nơi đó. Đạo khôn làm thành vật mà chiếm ngôi h́nh". 

H́nh 7.3  Bát-quái Hậu-thiên của Phí-trực
 

Hứa Quế-Lâm nói: "Mặt trời là thực-tượng cuả trời đất: tây-bắc cao mà đông-nam xiên tà xuống. Dựng đồ này lên coi, sẽ thấy kiền trên, tốn dưới, thiên-khí hoàn-chu. Tốn gió là thiên-khí vậy. Ở dưới thấp nhất mà tổng-thừa bẩy tượng chính là điều mà Kỳ-Bá, sư-phụ cuả Hoàng-Đế, gọi là 'Đại-khí cử điạ = Đại-khí dậy lên từ đất' vậy. Khôn, cấn đều hành thổ, cùng ngũ liên-cư chính-trung dựng thành tượng đất ở trong trời. Khí đă dậy đất, mặt trời và sấm sét đă ở trong khí, để thăng-giáng cử-lôi, cử nhật mà bao-quát chư diệu. Mặt khác, đoài-khảm hành thủy bên trên, ly-chấn hành hoả mé dưới, ắt các sách như Tham Đồng Khế đều dựa vào đó mà viết ra cả". 

 

Hỗ-Biến Tiên-Hậu-Thiên

先後天互變

 

Tương-quan Tiên-thiên/Hậu-thiên rất ư là mật-thiết. Hậu-thiên Ly "Hỏa tựu táo" bên trên là rập theo khuôn kiền nam của Tiên-thiên; Khảm "Thủy lưu thấp" bên dưới là rập theo khuôn khôn bắc của Tiên-thiên.

Cho nên Tiên-thiên kiền trời lấy mặt trời (nhật) làm chuẩn. "Lớn thay Kiền Nguyên" chính là "Ly Nhật" vậy. "Ly Nhật" Hậu-thiên lấy "Đế Chấn xuất" phương đông làm chuẩn. "Minh dụng vi đại tác" chính là "Đế Chấn xuất" vậy. Ấy là lấy "Đại minh Nhật Nguyệt đông Chấn khởi" ắt thấy đoài khởi từ phương tây, thành thử ra ly-khảm nằm theo chiều đông tây hẳn là chấn-đoài hậu-thiên vậy.  Trời đất chung-thủy, trước sau sáu ngôi kiền, khôn âm-dương, trên dưới, Kiền dương từ dưới xông lên, khởi đầu từ chấn chân từ sơ đến tam, thượng xuất chung thượng cấn chỉ. Kiền ba hào dương thành kiền. Khôn âm từ trên phóng xuống, khởi đầu từ đoài miệng, từ hào tam đến hào sơ, hạ-nhập-chung tốn phục. Khôn ba hào âm thành khôn. Cho nên quẻ tiên-thiên, chấn chân đông-bắc, khởi từ dưới mà xông lên, thành cấn chỉ của hậu-thiên vậy. Quẻ tiên-thiên, cấn chỉ tây-bắc, là chấn thượng xuất chung thượng Cấn chỉ mà ba hào dương của Kiền làm thành Kiền, mà kiền hậu-thiên mới trụ tại tây-bắc vậy. Quẻ tiên-thiên đoài miệng đông-nam hiện ở trên, mà ở dưới có tốn hậu-thiên ẩn-phục, Khôn hậu-thiên ba hào âm mới thành Khôn, mà hậu-thiên tây-nam bèn là quẻ khôn vậy. Đó chính là thiên-địa, nhật-nguyệt, trên dưới quẻ vạch, dưới Chấn là chân bắt đầu xông lên cấn chỉ, ở trên Đoài là miệng, nhập-hạ nơi tốn ẩn-phục, quẻ thiên-địa định-vị, quẻ Kư-tế định, ly, khảm nam-bắc là quẻ cư-phương. Tượng tiên-thiên biến hậu-thiên quả là như vậy.
 

Thiên-Địa Đại-Nghĩa Nhân Chung Thủy


 

Để đào sâu vấn-dề xin đề cập vấn-đề "Thiên-Địa Đại-Nghĩa Nhân Chung-Thủy" (H́nh 7.6, 220, tr. 42-45). Trước khi nhập-đề xin bàn qua về hai quẻ keo sơn: phong-hỏa Gia-nhân (H́nh 7.4, 239, tr. 302) và lôi-trạch Quy-muội (H́nh 7.5, 239, tr. 338).

Có người hỏi Văn-trung-tử về tượng quẻ Gia-nhân. Ông đáp: "Trong sáng sủa, ngoài chỉnh-tề nên là quẻ ly-tốn. Tượng nơi một âm, một dương tương-phối nơi giữa, có tượng phụ-mẫu, phu-phụ. Ư gốc nơi lời Thoán của Phu-tử. Tiêu Diên Thọ lấy hào thượng làm tông-miếu, hào ngũ làm ngôi vua (quân-vị), nay dùng cho quẻ Gia-nhân, ắt quân-vị là cung phụ-mẫu vậy. Đức Khổng-tử nói: Gia-nhân có nghiêm-quân đó, chính là phụ-mẫu". Oai ở tại hào thượng, đề-cao cảnh-giác ở tại hào sơ, cho nên hào-từ sơ-cửu mới nói: "Đề-pḥng ngay từ lúc mới có nhà, th́ hối-hận biến đi". Và hào-từ thượng-cửu mới nói: "Có tin thực mà oai-nghiêm vậy, sau được tốt". Hào tam cương cư cương (dương cư dương-vị), nên hào-từ cửu-tam tương-ứng mới nói: "Người nhà nghiêm-trang khó-khăn, tuy đáng hối-hận, có nguy, nhưng lại tốt; đàn-bà, trẻ con nhí nhảnh, dễ dăi, sau lại hối tiếc"

H́nh 7.4 Gia-nhân Tượng-đồ 

Chấn là trúc thương-lang dưới thực, trên hư, là tượng sọt vuông. Quẻ Quy-muội đồng-loại với quẻ Thái. Hai hào nhân-vị (hào 3 và hào 4) tương-giao, yểm-trợ cho nhau giống như hai ống tay áo thụng giao nhau vậy. Ở đây hào 5 là ngôi chính-thất, là ngôi cô dâu, c̣n hào 2 là ngôi thứ-thất, là ngôi cô phù dâu. Trong Dịch hảo dương là tốt, hào âm là xấu, hào dương sang, mà hào âm hèn, cho nên hào từ lục-ngũ mới nói: "Đế Ất đưa em gái về nhà chồng, cái tay áo của cô dâu không đẹp bằng cái tay áo của phù dâu, trăng tleo, tốt". Quẻ ở phương đông, dương. dời sang phương tây,

H́nh 7.5 Quy-muội Quân-đệ chi Duệ Đồ 

âm, mộc bị kim khắc-chế vậy. Tất trăng tleo (nguyệt cơ vọng), mà sau tốt, trăng rằm ắt âm địch dương, bị đất Thiếu-lăng cằn-cỗi của Đế Ất xưa tăng-trưởng nghèo hèn. Dịch vốn quư ở biến. Sở dĩ Lời Thoán quẻ Quy-muội chỉ nói: "Tiến đi th́ xấu, không có lợi" là chỉ để nói lên ư: hành-động mà không chính-đáng th́ không phải là công việc của thánh-nhân. 

Ta biết rằng trong Bát-quái tiên-thiên, quẻ Thiên-địa định-vị, gia-nhân ngôi chính–gia thiên-hạ định, là kiền trời, xưng là cha. Khôn đất xưng là mẹ. Chấn nhất-sách được làm trưởng-nam, là nhờ nhất-sách của kiền chuyển qua khôn, mà chấn lại ở bên trái Khôn. Tốn nhất-sách được làm trưởng-nữ, là nhờ nhất-sách của khôn chuyển qua kiền, mà tốn lại ở bên phải kiền. Đó là tiên-thiên chấn-tốn nam-nữ, chưa xuất chấn, tốn tề-chỉnh, kiền khôn thiên-địa chẳng giao, chấn-tốn vạn-vật chẳng dấy, mà Quy-muội thiên-địa đại-nghĩa khởi đầu từ đó và kiền-khôn thiên-địa qua lại từ đấy. Chấn chủ qua, chấn tiên-thiên đông-bắc qua đông, Đế xuất chấn; tốn chủ lại, tốn tiên-thiên tây-nam lại đông-nam, tề chỉnh nơi tốn. Bèn thành chấn tiên-thiên đông-bắc qua đông chiếm chỗ của ly, chấn-ly là lôi-hỏa Phong, gặp hôn-phối tức thị chấn xuất gặp tốn tề-chỉnh, trưởng-nữ vu-quy, tốn tiên-thiên tây-nam lại đông-nam chiếm chỗ của đoài, tốn-đoài là phong-trạch Trung-phu gặp địch, tốn tề-chỉnh được chấn xuất, trưởng-nam đối-địch với trưởng-nữ thành đôi lứa, đó là quẻ hậu-thiên chấn-tốn nam-nữ, chấn xuất, tốn-tề mà ly tương-kiến, chấn-tốn là lôi-phong Hằng, tốn-ly là phong-hỏa Gia-nhân, trưởng-nam, trưởng-nữ thành lứa đôi, Gia-nhân được Đạo Hằng, ngôi hậu-thiên nhờ tiên-thiên mà ngôi định. Chính-gia thiên-hạ định tại chấn-tốn Hằng, nam-nữ là gia-nhân được Đạo Hằng, đó là đại-nghĩa của Gia-nhân thiên-địa. Nơi đó chấn-xuất, tốn-tề, ly tương-kiến, nam-nữ ly-khảm âm-dương giao, kiền-khôn nam-bắc trung-thiên-địa chẳng giao rồi lại giao, hóa ra Gia-nhân tốn nữ là bụng lớn của Ly, tốn trưởng-nữ có tượng của người mẹ, sau khi ly-khảm giao, trưởng-nữ trở lại vị-trí tốn tiên-thiên, mà đă thành khôn là mẹ, khôn là bà lăo tức thị khôn hậu-thiên. Kiền, khôn thành nam, thành nữ, dương hữu dư, âm bất-túc, Chấn đông xuất-quái, sau khi ly-khảm giao, trưởng-nam lại đến ngôi của chấn tiên-thiên, c̣n được tượng của cấn hậu-thiên thiếu-nam, mà là chấn đông xuất, tượng dương hữu dư, lúc đó thiên-địa đại-nghĩa được Quy-muội. Tốn trưởng-nữ lấy đoài thiếu-nữ Quy-muội chấn, là đưa em gái về nhà chồng. Thiên-địa đại-nghĩa, đoài không phải là lấy chấn phương đông, mà là chấn thấy đoài phương tây lại ngỡ là tốn. Đoài thiếu-nữ tức là tượng tốn trưởng-nữ. Chấn không phải là hôn-phối của đoài phương tây, mà là đoài thấy chấn phương đông lại ngỡ là cấn. Chấn trưởng-nam tức là tượng Cấn thiếu-nam, mà Quy-muội tức là Đạo Hằng của Gia-nhân. Gia-nhân hữu hằng Quy-muội, lấy Hằng của Quy-muội ấy, chính là đại-nghĩa cùa thiên-địa vậy.

H́nh 7.6 Thiên-Địa Đại-Nghĩa Nhân Chung-Thủy

Lúc ấy, đoài tây theo Chấn đông, tức đều tương-kiến, ly-khảm nam-nữ, ly-khảm âm-dương giao, trong thiên-địa, ly-khảm bèn tái-sách, tức tái-dung thành tốn nữ quy-muội trùng-hôn rằng trái gái lấy nhau, tức thị Đoài nữ coi Chấn nam như Cấn bèn là thiên-địa chung cấn, đoài cấu-tinh, ắt kiền khôn là đạo thành nam thành nữ, tam sách hoàn thành vậy, mà đoài thiếu-nữ diệu-hợp vạn-vật tục chung, trời đất bắt đầu có được người thiếp sinh con, đó là Quy-muội. Mà Chấn tiên-thiên được tượng cấn. Sau khi cấn hậu-thiên thiếu-nam, Ly-Khảm tái-giao, dương hữu dư là tốn suy trưởng-nữ, phụ-nữ được tượng người mẹ. Ngưới chồng chấn trưởng-nam kết-thúc cấn thiếu-nam lại được tượng kiền cha. Cấn thiếu-nam lại đi chiếm chỗ của cấn tiên-thiên, cùng là thành kiền cha, mà cũng là thành kiền là lăo-phu, tức thị quẻ Kiền hậu-thiên. Cho nên Kiền-Khôn nam-nữ âm-dương, quẻ khôn hào âm từ trên giáng xuống thuộc đoài của Quy-muội, quẻ kiền hào dương từ dưới thăng lên thuộc chấn của Quy-muội. đoài tiên-thiên đông-nam, hào âm từ trên đổ xuống thành tốn hậu-thiên, mà tốn tây-nam tiên-thiên của nó, hào âm từ trên giáng xuống thành Khôn hậu-thiên. Hào dương của chấn đông-bắc từ dưới thăng lên thành cấn hậu-thiên, mà hào dương của cấn tây-bắc tiên-thiên của nó từ dưới thăng lên thành kiền hậu-thiên, nam-bắc-đông-tây của nó chủ âm-dương giao. Nam-bắc kiền-khôn trung-ương giao thành ly-khảm hậu-thiên; ly-khảm đông-tây thượng-hạ giao thành chấn-đoài hậu-thiên, mà tiên-thiên nam-bắc quẻ thiên-địa đinh-vị bèn thành ra hậu-thiên đông-tây Đế xuất nơi quẻ chấn. Đế xuất, ắt là quẻ Đế Ất quy-muội (Quẻ Thái) vậy. Đó chính là Quy-muội Thiên-Địa Đại-nghĩa Nhân Chung Thủy. Thiên-địa nam-bắc không tiếp-tục chung nhân chung thủy tương-thừa đạo bất-tục. Ắt trời đất đổ nát vĩnh viễn. Thiên-địa nam-bắc bất tục-chung vậy, mà đông-tây chấn-đoài là chung-thủy của nhân-lọai vậy. Nhân-loại đă chung-thủy ắt tục-chung để thành Quy-muội vậy. Thiên-địa-nhân chung-thủy là để Quy-muội hằng-cửu vậy. Quẻ tiên-hậu-thiên nếu không có hai quẻ Quy-muội. Gia-nhân, đạo nghỉ, Kiền-Khôn nghỉ, thiên-địa chẳng giao, vạn-vật chẳng phấn-phát mà thiên-địa vạn-vât lấy Hằng tương-thừa ắt có quẻ Quy-muội vậy. Cho nên quẻ Quy-muội là đại-nghĩa của trời đất, là chung-thủy của con người.
 

  

 

 

Xem Kỳ 79

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com