www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 06

 

DỊCH NỘI-TRÚC

 

   

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 72)

 

8/ Tượng-Nghĩa

象義

 

Trong giai-đọan phôi-thai tức thời Thượng-cổ (Tam-Hoàng-Dịch) và Trung-cổ (Liên-sơn, Quy-tàng), Kinh Dịch hoàn toàn phát-triển trên mặt tượng. Xin quư-độc-giả đọc lại CHƯƠNG I: TAM HOÀNG DỊCH và CHƯƠNG II: TAM ĐẠI DỊCH.

Dùng bát-quái thủ tượng, tinh-nghĩa quả nhập-thần mốt cách bất khả tư ngh́. Hán-nho bàn về Dịch không bao giờ dời khỏi tượng-số. tiếc rằng sách của họ ngày nay đă tán-dật, không sách nào c̣n nguyên. Người đời Đường tôn-sùng Vương Bật nên ít nói đến tượng. Về sau, đời Tống th́ có Thiệu-tử với Hoàng-Cực Kinh Tế, Chu Tử-phát, Lâm Hoàng Trung, Trịnh Cương Trung, Khương Phú Quốc, đời Nguyên th́ có Hồ Nhât Quế, Hùng Dữ Khả, Hùng Lương Phụ, Vương Thân Chi, Đổng Chân-Khanh, Long Nhân Phu, đời Minh th́ có Lai Tri Đức với Dịch Kinh Lai Chú Đồ Giải (273), Tiền Nhất-Bản vói Chu Dịch Tượng-Tượng Quản Kiến (275), Ngố Quế-Sâm, đệ-tử của họ Tiền với Chu Dịch Tượng-tượng Thuật (276), Hoàng Đạo Chu với Dịch-Tượng-Chính và Tam-Dich Đỗng-Ky(277), đời Thanh th́ có Điêu Bao, tự Mông Cát, Lư Quang-Đị, tự Hậu-am, với Chu-Dịch Chiết-Trung (278) và Chu-Dịch Thông-Luận, Hồ-Vị, tự Hiểu-thương, với Dịch-đồ Minh-biện, Huệ Đống, tự Định-vũ, với Chu Dịch Thuật (279) và Dịch Hán-học (264 ), Vạn Đàn Phong, Tiêu-Tuần với Dịch Thông-Thích chuyên-trị Hán-học, Kỷ Đại-Khuê với Dịch-Vấn và Quan Dịch Ngọai-biên chuyên-trị Tống-học, đều có sáng tạo ra rất nhiều tượng. Riêng hai nhà trị Dịch Diêu Phối Trung với Chu Dịch Diêu-thị Học, và Đoan-Mộc Quốc-Hồ với Chu Dịch Chỉ (220), chuyên lấy tượng từ Bản-Kinh-truyện mà không dựa vào tượng của các đời trước, thật là trác-tuyệt, gây hứng-thú cho người học Dịch không ít.

Phàm đă nói đến Dịch-tượng phải căn cứ vào Dịch-nghĩa, với thể là bất-dịch và dụng là giao-dịch và biến-dịch. Cho nên tượng của bát-quái không tượng nào là không giao-thác để thấy rơ nghĩa. Nên Kiền là ṿng hiển-hiện nơi Khôn, Ly là mặt trời mà ánh sáng phản-xạ qua mặt trăng. Chính thu là phương tây mà mặt trời di-chuyển nơi miền đông. Chất xuất hiện nơi phương đông mà mặt trời lại chuyển động sang miền tây. Chấp một bề mà bàn tượng, ắt tượng chẳng thấy. Nệ một nghĩa mà bàn tượng, ắt tượng chẳng thông.

Nói đến tượng, đừng quên số: trời 1, đất 2, trời 3, đất 4, trời 5, đất 6, trời 7 đất 8, trời 9, đất 10. Từ Hoàng-đế trở về sau, người ta thường lấy can chi làm cương-kỷ. Quẻ có định-vị tức có định-số. Như Khảm tư 1, Cấn sửu 2, dần 3, cho chí Đoài dậu 10 trong khi Kiền tuất, hợi không có số. Dịch-số, Kiền nguyên dụng cửu, ắt trời 1 không dùng mà dùng đất 2 cho đến đất 10. Số định mà tượng chưa định, ắt có thể nhân số mà định tượng. Cho nên xem tượng ắt dựa vào số, như thể vật tất chuẩn vào độ-lượng. Đo độ xa, ắt bằng vào giác-độ. Bỏ số mà nói đến tượng, ắt tượng mơ hồ như giơ tay bắt gió. Phàm nói đến tượng, không thể không hiểu rơ thể của tượng. Thể là chủ của dụng. Cho nên bốc-phệ cũng chỉ là thủ dụng cho từng hào một. Lấy sở dụng làm chủ-động, rồi sau mới xét tới các hào khác, hoặc theo, hoặc chống, hoặc động, hoặc tĩnh, có lợi, có hại, có cát, có hung, mới có thể bắt đầu quyết đoán được.

Dụng cũng có lớn, có nhỏ. Nhân tượng nhỏ mà làm cho nhỏ lại; nhân tượng lớn mà làm cho lớn lên. Như quẻ Kiền, lớn là trời, nhỏ là trái cây. Như quẻ Khôn, lớn là đất mà nhỏ là vải thô, là cái búa. Như quẻ Khảm, lớn là sông cái, nhỏ là lạch ng̣i. Như quẻ Ly, lớn là đại-minh, nhỏ là lửa leo lét. Lớn nhỏ vô-phương-hướng. Tất cả đều tùy-thuộc vào thể. Có rơ thể mới đạt được dụng. Tượng của dụng vô cùng, vô-tận vậy. Phàm bàn về tượng phải t́m cho bằng được tại sao lại như vậy. Ba chữ dĩ (Bất phú dĩ kỳ lân = Không giầu mà cũng có hàng xóm theo, hào-từ lục-tứ quẻ Thái; Bác sàng dĩ túc = Chặt giường lấy chân, hào-từ sơ-lục quẻ Bác; dĩ kỳ quốc-quân hung = Đến như ông vua trong nước th́ xấu, hào-từ thượng-lục quẻ Phục), dữ (với) cập (kịp) nghĩa tương-tự. Nhân chồng quẻ đơn lên thành sáu hào, chẳng qua là đă chia thành hai tượng, một tượng làm chủ động mà ban nghĩa cho tượng bị-động kia. Nếu tượng ban thiện th́ duyên may lành. Nếu bất-thiện, ắt là điềm xấu. Mà thiện ác ắt phân biệt lớn nhỏ, xa gần. Hệ-truyện nói: "Viễn cận tương thủ nhi hối lẫn sinh; t́nh ngụy tương-cảm nhi lợi-hại sinh = Xa gần cùng hợp nhau mà hối tiếc sinh ra; t́nh ngay, t́nh dối cùng cảm nhau mà lợi hại sinh ra" (Hệ-Hạ XII/6). Lại nói: "Phàm Dịch chi t́nh cận nhi bất tương đắc, tắc hung hoặc hại chi. Hối thả lận = Phàm cái t́nh trong Đạo Dịch, gần nhau mà chán ghét nhau, ắt xấu mà hại nhau đấy. Hối và tiếc" (Hệ-Hạ XII/6). Tất xem tượng ban thiện ác, lớn nhỏ cùng là t́nh ngay, t́nh dối, t́nh xa, t́nh gần, rồi sau mới thấy lành dữ sinh mà hối tiếc rơ, thứ đến mới có thể bắt được dụng của tượng.

Phàm bàn về tượng phải xét cho bằng được do đâu mà có. Hệ-Thượng III/5 nói: "Từ, các chỉ kỳ sở chi = Lời là bảo cái nơi phải đến". Văn-ngôn bảo: "Thần sát kỳ quân, tử sát kỳ phụ, phi nhất triêu, nhất tịch chi cố, kỳ sở do lai giả tiệm hỹ, do biện chi bất tảo biện dă. = Bầy tôi giết vua, con giết cha, nguyên-do không phải từ một buổi sớm hay một chiều, nó từ một thời-gian dần dà đă lâu, tại kẻ lo toan không biết lo toan sớm vậy" (Văn-ngôn quẻ Khôn). Hơn cả, hào sơ quẻ Khôn "Lư sương kiên băng chí = Đi trên sương th́ biết rằng: băng dầy sắp đến". Đó là chỉ đan cử một hào-lệ cho cả 384 hào. Xem tượng nghĩa là minh-định ngay từ đầu thể-tượng ở đâu và từ đâu đến.

Như quẻ Kiền biến thành thiên-phong Cấu, nếu dùng tượng Kiền là trời, ắt hạ-quái tốn là gió, gió ấy từ Kiền đến. Kiền là quẻ tây-bắc, tức thị gió tây-bắc. Kiền là băng, là lạnh, ắt gió lạnh. Cử một hào lệ, ta có thể suy ra các hào-lệ khác. Không xem nguyên do, làm sao mà định tượng!

Phàm bàn về tượng, không thể không xét nơi an-tượng. Đức Khổng-tử nói rằng: "Quân-tử an kỳ thân nhi hậu động = Người quân-tử yên cái thân ḿnh rồi sau mới hành-động" (Hệ-Hạ V/13). Xem tượng là đă xác-định chủ thể ở đâu, có đắc-vị hay không? Đă đắc-vị, ắt xem có đắc-thời, đắc-dụng không? Lúc đó mới có thể bắt đầu bàn đến tượng. Chẳng hạn, quẻ tốn là mộc, ắt xem ngôi nó là giáp-ất, hoặc là bính-đinh-nhâm-quư, hoặc là canh-tân. Nếu là canh-tân tất ngôi đáng, là bính-đinh tất tương-dữ. Là nhâm-quư tất sinh. Là canh-tân tất tử. Ngôi đă đáng và tương-dữ là sinh, lại càng phải ứng-sát suy-vượng cùng là nguyên-do cung-cầu. Có như thế tượng-t́nh mới hoàn-bị. Như tốn mộc gặp giáp là cương-mộc xuất-phát từ kiền, tất là cây quả kiên-cường. Nếu do cấn cung-cấp tất là vườn trái cây. Nếu là tráng Khôn (tháng tứ-quư tức các tháng cuối mùa: th́n tuất sửu mùi) th́ là khu đất rộng. Nếu suy th́ là cái chậu, cái giệm, cái ṿ. Cứ thế mà suy.

Phàm bàn về tượng, không thể không biết tiêu-tức. Tiêu ắt diệt, tức ắt thấm nhuần. Mười hai tiêu-tức-quái là: Phục, Lâm, Thái, Đại-tráng, Quyết, Kiền, Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn. Kiền tức Khôn, Khôn tiêu Kiền. Chúng là đại-nghĩa của âm-duơng, là ḷ cừ của tạo-hóa, nhân-sự không vượt ra ngoài được. Vật không có to nhỏ, sự không có lớn bé. Nói về tượng trước tiên phải rơ lư-do tiêu-tức doanh-hư. Phàm bàn về bản-thể tiêu-tức của một quẻ, hoặc bàn về thời, hoặc luận về ngôi. Đương lúc tiêu, tượng tuy cát, chưa thể nói là phúc. Đương lúc tức, nếu tượng hung, hẳn là họa gần kề. Triết-lư "Đi trên sương th́ biết rằng: băng dầy sắp đến" quan-trọng thay!.

Đại để tượng là như vậy. Ôi! Âm-dương xuôi ngược, ngũ-hành hưng-phế, khí-số thịnh-suy không thể nào không biện-biệt. Biết Dịch để chỉ-đạo âm dương, để hiển thị tượng của trời đất, để thông đức của thần minh, để phân-lọai t́nh của muôn vật. Không số th́ làm sao mà bàn Dịch, không lọai th́ làm sao rơ tượng? Tỷ như sơn--phong) Cổ R, sáu hào th́ bốn hào nói về cha, một hào nói về mẹ:

Sơ-lục: Cán phụ chi cổ = Sửa trị việc đổ nát của cha.

Cửu-nhị: Cán mẫu chi cổ = Sửa trị việc đổ nát của mẹ.

Cửu tam: Cán phụ chi cổ = Sửa trị việc đổ nát của cha.

Lục-tứ: Dụ phụ chi cổ = Khoan-dụ về việc đổ nát của cha.

Tại sao vậy?

Đó chẳng qua chỉ là áp-đồ (mapping) của Dịch: áp Tiên-thiên-đồ (H́nh 6.33) vào Hậu-thiên-đồ (H́nh 6.34). Cấn -, Tốn ) tiên-thiên ứng với Kiền ! (cha), Khôn /

(mẹ) hậu-thiên. Lại như Tượng-truyện hào cửu-ngũ quẻ thiên!-hỏa%Đồng-nhân M: "Đồng-nhân chi tiên, dĩ trung trực dă = Cùng với người thời đầu tiên là hợp với đạo trung mà ngay thẳng". Chữ "trung" ở đâu ra vậy? Quẻ ly % trung hư của hậu-thiên ứng với quẻ kiền ! của tiên-thiên. Hóa ra vậy.

 Tiên-Thiên Bát-Quái               Hậu-Thiên Bát Quái
H́nh 6.33                          H́nh 6.34

Có người hỏi: "Tốn vi cận lợi thị dĩ tam bội = Tốn là ở gần chợ, có lợi gấp ba lần." (Thuyết-quái-truyện XI/4), là tượng lấy ở đâu ra vậy? Xin đáp: tượng đó vi-diệu vô cùng. Nếu không thông mọi quẻ mà xét th́ chỉ có thể xem ba vạch quẻ tốn, th́ chẳng bao giờ t́m ra nghĩa câu này cả. Tốn là nhập, có vào mà không có ra. Lẫm tật xấu keo cú của khôn. Mà khôn nhu-thuận, nên tuy keo lận cũng chưa đến nỗi tham-lam. Mà thể của tốn là thể "kiện" (khỏe mạnh) của kiền. Lấy thể "kiện" của kiền, thể "lận" của khôn hợp bản-tính "nhập" của chính ḿnh thành thử ra keo lận hóa thành tằn-tiện. Nhưng chung quy, tượng "ở gần chợ, có lợi gấp ba lần" lấy ở đâu ra? Điều đó cần phải xem xét phương-vị của tám quẻ. Trong bát-quái hậu-thiên, tốn ở đông-nam, đằng trước, phương đông, có chấn, đằng sau, phương nam, có ly. Ly và chấn họp lại thành hỏa%-lôi' Phệ-hạpU. Hệ-Hạ II/4 nói: "Giữa ban ngày họp chợ, bàn dân thiên-hạ đem hàng-hóa đến, trao đổi xong, ai nấy ra về, ai ai cũng được toại ư, là lấy tượng ở quẻ Phệ-hạp. Bây giờ nhờ vào phương-vị, tốn bàng bạc nơi thượng-hạ-quái của Phệ-hạp. không phải là "lợi gần chợ", th́ là ǵ? Cho nên tượng của thánh-nhân, một chữ, một nghĩa nhất nhất đều có căn-cứ. Chăm chăm t́m kiếm mới mong thấy được chỗ kỳ-diệu.

Tốn cũng có nghĩa là "mắt trắng dă", xưa kia đă có người cắt nghĩa rồi. Ly nhu đứng ở giữa, có nghĩa là mắt ngay ngắn. Tốn) hào âm ở dưới hai hào dương có nghĩa là mắt nhiều ḷng trắng. Hai hào dưới của tốn chính là hai hào trên của ly trong khi hai hào trên của đoài# chính là hai hào dưới của ly% (bán-tượng). Hai quẻ thiên!-trạch#J và lôi'-trạch Quy-muộiv đều đề-cập "mắt chột". Hào-từ lục-tam quẻ Lư nói: "Chột mắt c̣n có thể thấy được". Hào-từ cửu-nhị quẻ Quy-muội nói: "Chột mắt mà vẫn c̣n thấy đường". Cho nên Kinh mới bảo đoài là "mắt chột".

Lư và Quy-muội đều chứa đoài nên đều nói: "Chột mắt mà vẫn c̣n nh́n thấy được". Lấy đoài mà phô bầy ra tốn, ắt tốn cũng nghĩa là: "tai điếc". Duy tốn cũng là mầu trắng nhờ hai hào dương ở trên cùng. Nói khác đi, mầu trắng đă chiếm hai phần ba con mắt, không phải là mắt nhiều ḷng trắng, th́ là ǵ? Ng̣i bút hóa-công thật là tài-t́nh !

Sau hết xin hỏi: Tượng nói về số, có phải là đề-cập "thất nhật lai phục" (Lời Thoán quẻ Phục), "bát nguyệt hữu hung" (Lời Thoán quẻ Lâm), và "thập niên năi tự" (Hào nhị quẻ Truân), "thập niên vật dụng" (Hào tam quẻ Di) không? Không phải thế. Đó là bàn về số của quẻ, của hào. Dịch là sách trong đó "Tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số = Nhân trời với hai, chia đất cho ba mà dựa vào số". Ba vạch thành quẻ là tham-thiên; hai quẻ đơn chồng lên nhau là lưỡng-địa. Sáu hào phân thành tam-tài cũng là tham-thiên; tam-tài "dùng đắp đổi cứng mềm" cũng là lưỡng-địa. Dụng-cửu, dụng lục chính là tham-thiên lưỡng-địa. Nên chi Dịch lập-ngôn không ǵ là chẳng dựa vào số. Lấy lời ngắn gọn mà năng nói hết tận. Tượng dựa vào số, không thể dời khỏi âm-dương: dương-số là tham-thiên, âm-số là lưỡng-địa. Số tham-lưỡng thường gốc ở "thiên nhất" đến "địa thập" của mật-số 55, mà tẽ ra ngũ-hành, phân gởi vào tượng. Cho nên tượng nói về số, phần đông căn-cứ vào ngũ-hành, cửu-cung.  Mà ngũ-hành mỗi mỗi đều phân thành khởi-sự, trưởng-thành và chung-kết. Số lại có phân-biệt hẳn hoi. Dịch cùng ắt biến, biến nơi số vậy. Cho nên muốn hiểu rơ số của tượng, tất trước nhất cần phân-biệt thời-vị. Thời chia làm ba hậu (sơ, trung, mạt), vị chia thành ba đẳng (sơ-đẳng, trung-đẳng và thượng-đẳng). Hiểu được như thế là đă đi được quá nửa đường rồi.
 

9/ Dật-Tượng

 

Thời Tam-đại, Quan Thái-bốc chấp-chưởng dịch-tượng, mà ngay giữa thời nhà Chu đă thất-tán nhiều, rồi sang thời Đông-Chu chưa t́m lại được cố-vật. Thuyết-quái-truyện do Khổng-tử truyền lại cũng chỉ là tác-phẩm thập-di. Hồi loạn Vĩnh-gia (304-311) các giản sách bằng thẻ tre bị đốt cháy rụi. Sang thời Tây-Hán, Thuyết-quái-truyên cũng khuyết mất ba thiên. Khi Hà-nội nữ-tử t́m được trong phế-ốc cổ-thư, đó chính là Thuyết-quái-truyện mà ta có được ngày nay. Do đó quái-tượng tàn khuyết là chuyện không thể tránh được.

Dật-tượng cũng như tượng-nghĩa rất có ích trong công cuộc cắt nghĩa Kinh Dịch. Bổ-tượng của Tuân cửu-gia gồm có kiền 4 điều, đoài 2 điều, ly 1 điều, chấn 3 điều, tốn 2 điều, khảm 8 điều, cấn 3 điều, khôn 8 điều, cả thẩy là 31 điều. Chu-tử thâu nhập các dật-tượng này vào Chu Dịch Bản Nghĩa; Mạnh Hỉ dật-tượng gia tăng gấp bội gồm có: kiền 61 điều, đoài 9 điều, ly 19 điều, chấn 49 điều, tốn 20 điều, khảm 47 điều, cấn 37 điều, khôn 81 điều, cả thẩy là 323 điều, tromg đó có nhiều dật-tượng Ngu-Phiên thêm vào sau. Các hậu-nho như Hà-Ổn, Vu Linh-Thăng, Hầu-Quả, Chu-Chấn, Lai Tri-Đức, Mao Kỳ-Linh cũng đều có dật-tượng. Đại để là góp nhặt từ Thập-Dực. Dịch-đạo vỹ-đại, bao trùm tất cả, tượng đủ để tận vật, nhưng vật không đủ để tận quái. Chẳng qua chỉ là để giở một góc lên, c̣n giở ba góc kia lên là phần của thức-giả. Nay xin tuần-tự liệt-kê các dật-tượng chính góp nhặt được:  

Tuân Cửu-gia Dật-Tượng
 

Tuân-Sảng, tự Từ-minh, có viết ra Cửu-gia Dịch-giải (10 Q.) như thuật lại trong Tiền-Hán-thư của Ban-Cố. Có hai thuyết về Tuân Củu-gia. Văn-hiến Thông-khảo của Mă Đoan-Lâm đời Nguyên, dẫn họ Trần th́ nói rằng: do Hoài-nam-vương Lưu-An sai chín nhà soạn ra. Nhưng, trong Thích-văn Tự-lục, Lục Đức-Minh lại nói rằng: chín nhà soạn ra sách là: Kinh-Pḥng, Mă-Dung, Trịnh-Huyền, Tống-Ai, Ngu-Phiên, Lục-Tục, Diêu-Tín, Trạc-Nguyên và Tuân-Sảng. Tuy nhiên, chín nhà không sống cùng thời, vả chăng dịch-thuyết của họ lại tương-phản, khó ḷng hợp-nhất lắm.

Trong 31 dật-tượng của Tuân-Sảng chỉ có hai dật-tượng không có trong Thoán-Tượng-Truyện là khôn là nước cốt và tốn là quán tức chim quán (giống con hạc mà đầu không đỏ, cổ dài, mỏ dài, suốt ḿnh mầu tro, đuôi và cánh đen, làm tổ trên cây cao). Các tượng khác là:

kiền = rồng, thẳng, quần áo, lời nói;

khôn = động-vật cái, mê-muội, vuông, túi, xiêm, mầu vàng, gấm vóc, nước cốt;

chấn = ngọc, chim hộc (ngỗng trời), cái trống;

tốn = cây dương, chim quán;

khảm =  cung điện, luật, có thể, xà ngang (rui, vô h́nh chung tượng này tiềm ẩn nơi quẻ trạch-phong Đại-quá: hai hào âm tượng trưng hai đầu rui giấu vào nóc nhà), bụi gai,  con cáo, cây tật-lê, gông cùm;

ly = con ḅ cái;

cấn = cái mũi, con hổ, con cáo;

đoài = thường, má và hai g̣ má.   

 

Mạnh-thị Dật-Tượng

 

Dật-tượng cuả Mạnh-Hỉ có thể lấy từ Dịch-truyện của Tiêu Diên-Thọ hay từ Dịch-truyện của Ngu-Phiên v́ kinh-sư thời Lưỡng-Hán thường lấy dịch-thuyết của thầy ḿnh. Các dật-tượng này đa-số lấy từ bản-kinh, tuy có vài chỗ khác. 

kiền = vua, tiên-vương, minh-quân, thần-nhân, con người, đại-nhân, thánh-nhân, hiền-nhân, quân-tử, vũ-nhân, hành-nhân, thay đổi, vật, đứng, thẳng, kính, sợ, oai, nghiêm, cứng cáp, đạo, đức, thịnh-đức, đi, tính, tinh, lời nói, tín, thiện, tích-thiện, lương, ḷng nhân, yêu, giận, sinh, điềm lành, mừng, thiên-thể, vui mừng, tốt đẹp, phúc, lộc, phúc lớn, đầu tiên, bắt đầu, biết, lớn, đầy, tốt tươi, béo (mập), tốt, thi-hành, lợi, mầu xanh, trị, đại-mưu, cao, cất lên, tôn kính, cao-tông, họ-hàng, giáp, già, cũ, xưa, đại-minh, xa xôi, ngoại-ô, đồng quê, cửa, đạo-môn, một trăm, môt năm, đỉnh, son, quần áo, ngọc khuê, người già lục-tuần trở lên, quả dưa , rồng.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: kiền = cao, tú  Cang, quẻ kiền, khô, khô ráo, hiểu rơ, già, tổ, đầy tớ, liền, chức-tước, ơn-huệ, thịnh, xa, thể-chất, thật, chỗ cao nhất, khắp ṿng. 

khôn = bầy tôi, thuận-thần, dân, muôn dân, họ, tiểu-nhân, ấp-nhân, quỷ, h́nh, thân, động-vật cái, người mẹ, thân ḿnh, ta, tự, đến, cái xe, an, khỏe mạnh, giầu, của cải, tích, tụ, họp lại, nặng, dầy, tới cùng, thể, dụng, bao, góa, thong thả, dinh, dưới, bao dung, đầy đủ, trống không, sách, gần, bờ cơi, vô-tận, nghĩ, ghét, lẽ,  lễ, nghĩa, sự, công-nghiệp, đại-nghiệp, chính-trị của nhà nước đối với dân (thứ-chính), tục, độ, lọai, đóng, cất giữ, dầy đặc, im lặng, xấu hổ, muốn, quá, hôi thối, xấu xa, tích ác, mê, giết, loạn, oán, hại, triệt ác, cuối cùng, vĩnh chung, rách nát, chết, chôn, tối tăm, đêm tối, chiều tối, buổi chiều, chiều và tối, ất, năm, mười năm, cửa, nghĩa-môn, đóng cửa, đóng cửa quan, sao chẳng? đất, tích-thổ, thềm bực, ruộng, ấp, nước, nước nhỏ, nước lớn, vạn-quốc, dị-bang, phương hướng, quỷ-phương, quần, dây thao đeo ấn, xe, nan hoa, đồ dùng, cái ṿ, cái túi, con cọp, con tê-giác cái, con ḅ vàng, con ḅ cái.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: khôn = mầu vàng, thường, tĩnh, ẩm ướt, quần áo, lụa dệt bằng tơ trần, than, yến tiệc, thây, mẹ xưa, một muôn, tiêu tan, thấp hèn, nghèo hèn, nhà, thiên-hạ, cung điện.  

chấn = Đế, chúa, chư-hầu, con người, kẻ sĩ, anh, người chồng, nguyên-phu, ngón chân, đi ra, đi, chinh-phục, làm, trốn tránh, kinh-tẩu, cảnh-bị, một trăm, bách-cốc, lời nói, giảng-nghĩa, hỏi, ăn nói, cáo, âm-hưởng, thanh, âm, kêu, hót, đêm, giao, trừng-phạt, phản, sau, đời sau, theo sau, giữ, bên trái (nam-diện th́ chấn đông nằm bên tả), sinh, nếm, thong thả, khoan nhân, vui, cười, vui cười, tiếng cười, đạo, g̣, tế, rượu nếp để cúng tế, gieo giống, cỏ rậm, cái trống, giỏ tre vuông, con ngựa, hươu nai.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: chấn = dùng, nhẩy, đánh nhau, giết người trên, phát, đă qua, đánh giặc, xây dựng, mấy? khu-trừ, tuổi, tiến vua, canh (can thứ 7), yêu thương, thuốc men, sờ, toại ḷng, trèo lên, đóng, ăn mừng, quư, yêu mến, hiền.  

tốn = mệnh, mệnh-lệnh, giáo-lệnh, báo cho biết, cửa hiệu, kêu gào, xử-nữ (con gái c̣n trinh), đàn bà, người vợ, thương-lữ, đi theo, nhập, nhập-phục, lợi, chỉnh-tề, cùng, qua lại, tiến, lui, múa, hang, khúc gỗ dài, cây cói, cây dương, cỏ mao trắng, cây lan, cây cỏ, cỏ rậm, cây kỷ, dây sắn và dây b́m, củi, há? sao?, rừng, thừng, gấm, thắt lưng, thắt buộc, rắn, cá, cá giếc.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: tốn = rừng, cây dâu, cái gối, ngưng chất độc, đánh phá, rễ mọc chằng chịt, xưng, đầy đủ, buộc lại, đủ, nạp, tích, quyền, cây búa hộ-thân (tư-phủ) như trong quẻ khảm. 

khảm = thánh, mây, mây đen, sông (xuyên), sông cái, sông ng̣i (hà), trái tim, chí, suy nghĩ, lo tính, lo âu, mưu, sợ hăi, ngờ, khó khăn, què quặt, sót thương, hối tiếc, đi xa ra, quên, tội, mệt mỏi, thấm ướt, nước mắt, nước mũi, tai hại, tật, tật bệnh,  dịch-lệ, nghi-tật, tai, phá, tội, trái lẽ, muốn, dâm, trộm cướp, nạo, độc, mương nước, phép, phạt, ngục, ắt, kinh, tập, nhập, trong, tụ, xương sống, lưng, đít, mỡ, thuốc cao, đêm tối, năm, ba năm, thây, rượu, bụi cây, bụi gai, cây tật-lê, cây, xe, ngựa,cung đạn, cung nỏ, trường học.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: khảm = sâu, xâm lấn, biến đổi, thông suốt, u tối, tà vậy, sinh sôi, chim cắt, luật, cái huyệt, mất, rửa tay, róc rách, trở về. 

ly = con gái, đàn bà, có mang, ác-nhân, trông thấy, bay, tước-vị, con mắt, sang, trước tiên, giáp, mầu vàng, mậu (can thứ năm), chặt đầu, con dao, cây búa, cây búa hộ-thân (tư-phủ), mũi tên, mũi tên bay, mũi tên bằng vàng.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: ly = nh́n, dẫn đường, thực-hành, tạo, nhóm người, phúc, mặt, thật, diệt, lỗi lầm, lộng lẫy, một chiếc, sắc đen, đốt, trống không. 

cấn = em trai, tiểu-tử, quân-tử, hiền-nhân, trẻ em, trẻ thơ, tiểu-đồng, viên quan, bạn bè, lính canh cửa, thời-gian, giầu có, sao, sao nhỏ, tiếng sét đánh, quả núi, trái cây, cẩn-thận, tiết, chờ, kiềm-chế, cầm, nhỏ, nhiều, dầy, lấy, bỏ, cầu, thật, đạo, ở lỗ, đá, thành, cung-thất, môn-khuyết (lầu canh ở cửa cung), cái nhà, cửa sổ, ở, cổng ngơ, tông-miếu, xă-tắc, cái mũi, cánh tay, cái lưng, bắp chân, da, lớp da dính với thịt, cây nhỏ, trái cây lớn, con báo, chó sói, con cáo, con chồn nhỏ, cái đuôi.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: cấn = loại, chắc chắn, nghiên-cứu, nhổ lên, thành, thành tâm, c̣n lại, thân ḿnh, cùng, mạnh dạn, ngôi, nơi, hầu hạ, bó lại, nghĩ, khắc, năng, dám, dốc núi, một ngàn, khó khăn, g̣, thừa cơ, lật ngược, địch, săn được, nuôi gia-súc,  chuộng, nào, lặng lẽ, kiêm, dắt kéo, địch lại, hạn, bầy ra, khí, thịnh.   

đoài = em gái, diệu, vợ, bạn bè, bạn thân, giảng-tập, h́nh phạt, tội-nhân, nhỏ, ít, dầy đặc, thông, thấy, bên phải, bên dưới, biết ít, giao kèo.

Đoan-Mộc Quốc-Hồ bổ-túc: g̣ má, lời nói, hỏi, cáo, bàn bạc, biện-luận, bầy, công-lao, cánh tay, chương, ngậm, hại, bói cỏ thi, sử, thương, dưỡng, nuôi, phạt, xấu hổ, buồn, đẹp, diệu, điềm lành, hiền lương, kẻ cướp, hèn, trôm cướp, bạo tàn. 

Biệt-bản c̣n chua thêm các tượng: quẻ khảm = trộm, tốn = buộc, đoài = ngó trộm. Trong ẩn lại có ẩn. Nhưng tượng luống vô-phương, ư động mà thành tượng. Được ư có thể quên tượng, ắt cũng có thể thành tượng. Dịch bao trùm đạo của thiên-hạ, lấy bát-quái tương-thác, âm-dương phản-phục, năng uốn nắn nên muôn vật mà không sót, chính là dùng tượng mà biến-hóa đến vô cùng, vô-tận, buông thả ứng khắp trời đất, chỉ c̣n lại muôn vật sinh sinh măi không ngừng. Muôn vật sinh sôi nẩy nở, mỗi ngày mỗi nhiều, số đông không kể siết. Cho nên Mao Kỳ-Linh dẫn tượng được 270 điều, ngọai-suy từ Dịch-truyện của Ngu-Phiên và sưu-tập biệt-lục dật-tượng của các nhà trị Dịch khác được 1471 dật-tượng! (266, tr. 145-329). 
 

Kết-Luận


Dịch có tượng rồi sau mới có số, có số rồi sau mới có lư. Bàng bạc giữa tượng-số lại có khí. Khí là 12 quái-hậu của 12 khí tiêu-tức thành 64 biệt-quái văng lai. Cho nên Dịch của Ngu-Phiên đề-cập khí là nói đến 12 quẻ: Cấu, Phục, Độn, Lâm, Bĩ, Thái v.v. Đó đều là quái-hậu. Mười hai tích-quái, chủ-quái tiêu-tức từ Trung-phu đến Di mà thành tiêu-tức-quái. Khí-hâu của trời đất, âm dương trên dưới đầu đuôi, lấy các quẻ Trung-phu, Di mà minh-họa là nghĩa sáng sủa, không cần phải xem vạch âm dương trên dưới của quẻ, mà nghĩa đă lọn trong 12 tích-quái rồi. Hậu-nhân vũ-đoán vạch trên dưới 64 quẻ để tiêu-tức chúng: trong Dịch không nên làm như thế. Mười hai tích-quái Trung-phu, Di v.v. xuất-xứ từ Thông-quái-nghiệm để nghiệm quái-khí có nghĩa là 64 biệt-quái của Dịch nói về tượng tức thị nói về khí để nói đến số, nói đến lư, như thế không c̣n là dịch-lư nữa. Cho nên Dịch chỉ là trời luân-lưu nơi tượng của nhật-nguyệt, của bắc-đẩu cùng khí của ngày đêm nóng lạnh cùng là độ-số của trời đất muôn vật. Các quẻ văng lai, Kiền thiên hành kiện, cốt để thể-nghiệm tiêu-tức doanh-hư mà hiểu nhân-sự mà thôi. Hành-trang của người học Dịch vỏn vẹn chỉ gồm văng-lai-quái, thế-vị bát-quái, 12 quái-hậu tức tích-quái, và các dât-tượng thượng-dẫn (220, Quyển VIII, tr. 319-326).

Chú-Ư: Xin quư thức-giả đọc lại Bài kỳ 60, đầy đủ chi-tiết về tích-quái v.v.

 

 

  

 

 

Xem Bài Số 74

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com