www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 06

 

DỊCH NỘI-TRÚC

 

   

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 71)

 

5C/ Du-Diễm Quái-Biến-Đồ卦變圖

 

Du-Diễm , tự Thạch-giản 石澗, là một dịch-gia sống khoảng giao-thời Tống-Nguyên. Trong Dịch-Ngoại Biệt-Truyện, ông có sáng nghĩ được "Tiên-thiên lục-thập-tứ-quái Trực-đồ", không bị trùng-phức như trong các dịch-đồ cuả Lư Chi-tài và cuả Chu-tử. Du Diễm nói:

"Kiền, Khôn thuần âm, thuần dương, Khảm, Ly âm dương giao thác. Kiền thuần dương là trời, nên trấn-ngự chính giữa bên trên; Khôn thuần âm là đất, nên trấn-ngự chính giữa mé dưới. Khảm, âm ngậm dương, là mặt trăng; Ly, dương ngậm âm , là mặt trời, nên đứng giữa Kiền, Khôn. Kỳ dư 64 quẻ, đều tương-tự. Từ Phục, nhất dương sinh trong Khôn cho chí ngũ dương, ắt thăng đến cực-điểm mà thành Kiền thuần dương. Từ Cấu, nhất âm sinh trong Kiền cho chí ngũ âm, ắt giáng đến cực-điểm mà thành Khôn thuần âm. Một thăng, một giáng, trên dưới qua lại tuần-hoàn.

Dưới đất đă như vậy, trong nhân thân cũng in hệt. Giờ tư, chân-khí đến huyệt vỹ-lư, giờ sửu, dần đă tại giữa lưng. giờ măo. th́n tại tích-lă (xương sống), sang giờ ngọ đă lên tới nê-hoàn (năo-thất ba), giờ mùi-thân-dậu đă ở hoàng-cách-mô, giờ tuất-hợi hẳn quay về giữa bụng.

Hô-hấp cũng tương-tự: thở ra, không-khí từ dưới thăng lên, hít vào th́ không-khí từ trên giáng xuống.

Trên trời chuôi sao bắc-đẩu chỉ giờ tư-ngọ, dưới đất ắt thủy-triều của mặt trăng lên xuống theo nhịp giờ tư, giờ ngọ, bởi chưng tư-ngọ ở khoảng giữa trời đất". Tham-đồng-khế nói: "Phù-hợp đi chính giữa". Cũng nói: "Vận di không đánh mất chính giữa". Lại nói: "Bềnh bồng giữ tâm khuôn tṛn, con người mà biết được trung-tâm thân ḿnh để hợp với trung-tâm của trời đất, ắt lúc đó Kiền, Khôn không ở tại trời đất mà ở tại chính thân ta vậy".

Cái học tiên-thiên của Hi-Di xuất phát từ Tham-đồng-khế là cái học đích-truyền. Những lời của Ngụy Bá-Dương toàn là nói về đan-đạo. Ông nói: "Dụng-cửu, dụng-lục không có hào-vị. Chu-lưu khắp sáu cơi. Qua lại đă bất-định, trên dưới hẳn vô-thường". Vậy nên. mượn cương-nhu thượng hạ văng lai của Dịch để hiểu rơ khí âm-dương thăng-giáng của nhân-thân, khác với tôn-chỉ Thoán-truyện của Phu-tử mà Lục-thập-tứ-quái Tương-sinh-đồ của Lư Chi Tài tuyệt nhiên không dính dáng ǵ với đan-đạo cả. Trộm nghĩ Mục Tu học nơi Hi-Di chỉ có Phản-đối-đồ mà thôi, c̣n Tương-sinh-đồ ắt Lư Chi Tài chế-tác ra với nghĩa-lư của nho-gia, cho nên đồ ấy phảng-phất đồ của Ngu-Phiên, phần nhiều tương-hợp với Thoán-truyện.

H́nh 6.32 Du-Diễm Tiên-thiên Lục-thập-tứ-quái Trực-đồ

Trong Trực-đồ của Du Diễm, trên Kiền, dưới Khôn mà Khảm, Ly lơ lửng nơi giữa, chính được đỉnh-khí của Kiền, Khôn với ngụ-ư Khảm, Ly làm dược-vật, lại dựa vào Thuyết "Thiên-căn, nguyệt-quật" của Thiệu-tử. Từ nhất dương sinh của Khôn thăng lên đến ngũ dương là khắc thành thuần dương của Kiền. Từ nhất âm sinh của Kiền giáng đến ngũ-âm là rốt cuộc tạo được sáu hào âm của thuần Khôn. Một thăng, một giáng, thượng hạ văng lai, vẫn-hợp với nghĩa của Bá Dương. Vả chăng, các quẻ đều xuất-phát từ phụ mẫu Kiền, Khôn trong khi tiểu-phụ-mẫu Cấu, Phục không ăn nhằm ǵ cả. Du Diễm tuy không gọi Trực-đồ nầy là Quái-biến-đồ, nhưng v́ đồ này không phỏng theo Lục-thập-tứ-quái Thứ-tự-đồ cũng như Lục-thập-tứ-quái phương-viên-đồ của Thiệu-tử. Xin nhắc đến bài thơ của Thiệu-tử trong "Kích-Nhưỡng Tập 擊 壤 集" minh-họa Thuyết "Thiên-căn, nguyệt-quật" của Ngài:

耳 目 聰 明 男 子 身   Nhĩ mục thông-minh nam-tử thân.

洪 釣 賦 予 不 為 貧   Hồng-quân phú-dữ bất vi bần.

須 探 月 窟 方 知 物   Tu thám Nguyệt-quật phương tri vật;

未 躡 天 根 豈 識 人   Vị niếp Thiên-căn khởi thức nhân.

乾 遇 巽 時 觀 月 窟   Kiền ngộ Tốn thời quan Nguyệt-quật;

地 逢 雷 處 見 天根    Điạ phùng Lôi-xứ kiến Thiên-căn.

天 根 月 窟 閑 來 往   Thiên-căn Nguyệt-quật nhàn lai văng,

三 十 六 宮 都 是 春   Tam thập lục Cung đô thị xuân. 

 

Xin tạm dịch là:     

Tai thông, mắt sáng, chí nam-nhi,

Tạo-hoá sinh ra chẳng nghèo chi.

Hang Nguyệt nên thăm cho biết vật;

Gốc Trời chẳng niú có hay ǵ?

 

Kiền đi với Tốn xem Hang Nguyệt;           

Điạ sánh cùng Lôi thấy Gốc Ky.

Hang Nguyệt, Gốc Trời qua lại măi,

Ba mươi sáu Quẻ rạng xuân-th́.
 

Nguyệt-quật là nhất âm sinh trong Kiền A biến hạ-quái quẻ này thành tốn ) nhâp; thiên-căn là nhất dương sinh trong Khôn B biến hạ-thể quẻ này thành chấn ' động.

Chung quy, sau khi thuộc ḷng bài thơ này rồi, chúng ta đọc trở lại liên-văn của Tiên-thiên Lục-thập-tứ-quái Trực-đồ, chúng ta sẽ hiểu phần nào hay ho của Quái-biến-đồ ngọan-mục này.


5D/ Chu-tử Quái-Biến-Đồ卦變圖
 

Sách Bản-nghiă Đồ-thuyết nói: "Thoán-truyện thường lấy quái-biến để lập thuyết, nay lấy quái-biến-đồ để cắt nghiă. Nghiă trong Dịch phải vẽ quẻ mới mong thấy bản chỉ". Phàm một quẻ có một hào dương hay một hào âm đều do Phục, Cấu mà ra:

Bác W, Tỷ  H, Dự P, Khiêm O, Sư G, Phục X.

Quyết k, Đại-hữu N, Tiểu-súc I, Lư J, Đồng-nhân M, Cấu l.

Phàm một quẻ mà có hai hào dương hay hai hào âm đều do Lâm, Độn mà ra. Mỗi quẻ Lâm và Độn cho ta 15 quẻ:

Di , Truân , Chấn , Minh-di , Lâm . Mông , Khảm , Giải , Thăng . Cấn , Kiển , Tiểu-quá . Tấn , Tụy . Quan .

Đại-quá , Đỉnh , Tốn , Tụng , Độn . Cách , Ly , Gia-nhân , Vô-vơng . Đoài , Khuê , Trung-phu . Nhu , Đại-súc . Đại-tráng .

Phàm một quẻ mà có ba hào dương hay ba hào âm đều do Bĩ, Thái mà ra. Mỗi quẻ cho ta 20 quẻ:

Tổn , Tiết , Quy-muội , Thái . Bí , Kư-tế  , Phong . Phệ-hạp , Tùy . Ích .

Cổ , Tỉnh , Hằng . Vị-tế , Khổn . Hoán . Lữ , Hàm . Tiệm . Bĩ .

Hàm , Lữ , Tiệm , Bĩ . Khổn , Vị-tế , Hoán . Tỉnh , Cổ . Hằng .

Tùy , Phệ-hạp , Ích . Kư-tế   , Bí . Phong . Tiết , Tổn . Quy-muội , Thái .

Phàm một quẻ mà có bốn hào dương hay bốn hào âm đều do hai quẻ Đại-tráng, Quan mà ra. Mỗi quẻ cho ta 5 quẻ (Trường-hợp hai hào âm hay hai hào dương ta đă gặp ở bên trên):

Đại-súc , Nhu , Đại-tráng . Khuê , Đoài .

Trung-phu . Ly , Cách . Gia-nhân . Vô-vơng .

Đỉnh . Đại-quá . Tốn . Tụng . Độn .

Tụy , Tấn , Quan . Kiển , Cấn .

Tiểu-quá . Khảm , Mông . Giải . Thăng .

Truân , Di . Chấn . Minh-di . Lâm .

Phàm một quẻ mà có năm hào dương hay năm hào âm đều do Quyết, Bác mà ra. Mỗi quẻ cho ta 6 quẻ (Trường-hợp một hào âm hay một hào dương ta đă gặp ở bên trên rồi):

Đại-hữu , Quyết . Tiểu-súc . Lư . Đồng-nhân . Cấu .

Tỷ , Bác . Dự . Khiêm . Sư . Phục .

Trong Tượng-số-luận họ Hoàng nói: "Chu-tử bảo là lấy Thoán-truyện mà khảo quái-biến đươc 19 quẻ. Hoặc là bảo thành-quái là do Thoán-truyện mà không bảo là do quy-tắc, hoặc là không nói đến hào-biến". Đó là Chu-tử nói về quái-biến của ḿnh mà không dẫn-giải. Hệ-Thượng III/1 nói: "Hào giả ngôn hồ biến giả dă. = Hào là nói về biến". Trong Dịch không có quẻ là không nói đến biến. Lời có lúc ẩn, lúc hiển mà lư luôn luôn ngụ ở bên trong. Tuy nhiên, Thoán-truyện không dừng ở 19 quẻ. Chu-tử thấy rơ điều đó, nghĩa là không có định-pháp cho biết một quẻ từ quẻ nào mà ra.
 

6/ Hào-Thần爻辰

 

Chúng ta đă bàn nhiều về hào-thần ở Bài Kỳ 57. Ở đây chỉ xin lược-thuật một vài ư kiến mới lạ.

Tiên-thiên bát-quái, lấy âm-dương thăng-giáng để ứng-hợp với nhật-nguyệt hối, sóc, huyền, vọng phối-hợp với nạp-giáp. Quẻ kép có sáu hào, quẻ nạp can c̣n hào nạp chi, như vậy hào-thần ở đâu ra? Hào-thần là thứ-xá của 12 cung thiên-độ, mỗi cung 300. Mà ta biết là có 12 chi ứng với 360 thiên-độ. Hán-nhân nói về hào-thần có hai người là Trịnh-Huyền và Kinh-Pḥng đưa ra hai thuyết khác nhau. Trịnh-Huyền th́ lấy Kiền dương, Khôn âm, 12 hào giao-thác thuận-nghịch để ứng với 12 tháng. Rồi lấy hào của 64 quẻ, hợp với Kiền, Khôn, phân ra độ-số của 28 Tú, tinh-tượng hợp với tượng của quái-hào để thích-kinh. Sách của họ Trịnh đă thất-truyền từ lâu nay chỉ c̣n di-tích trong "Chu Dịch Tập-Giải" của Lư Đỉnh Tộ và vài Chú-sớ khác mà thôi. Dịch-gia đời Thanh Đới Thường căn-cứ vào "Cam Thạch Tinh Kinh" và "Khai Nguyên Chiêm Kinh" (114), dựa vào Thoán, Tương và Hệ-từ có hàm chứa tinh-nghĩa mà bổ-túc cho Trịnh-nghĩa và viết ra sách "Hào Thần Bổ" nhưng chỉ ngai ngái với tượng-số của Kinh-văn.

Thuyết nạp-thần của Kinh_Pḥng xưa nay thường được các thuật-gia tôn-dụng. Có dẫn-chứng hẳn hoi từ Thóan, Tượng của Thập Dực. Các nhà Kinh-học thường hay bàn đến. Mới vỡ lẽ ra rằng ngũ-giáp, lục-tư, tam-nguyên, cửu-cung của Hoàng-Đế đă thám-hiểm bí-mật của tạo-hóa, hiểu ranh giới giữa trời và người, tế-thế lợi-dân chứ không cứ chỉ dùng cho việc bói toán thôi đâu. (Xin đọc lại Bài Kỳ 57-58).

Trịnh-Huyền sống thời Hán-mạt, sách Dịch của Thi-Thù, Mạnh-Hỉ, Lương Khâu-Hạ mất mát dần. Chỉ c̣n sách của Phí-Trực, nhờ Dịch-thuyết giản-ước nên c̣n truyền lại. Trịnh-Huyền lượm lặt các sách tàn khuyết, rồi thêm vào ngũ-hành, luật-lịch, tinh-tượng để thích hào.

Có người hỏi: "Khi Trịnh Huyền thuyết Dịch, ông thường dùng tinh-tượng để chứng-minh hào-từ, nay sách xưa đă thất-truyền, làm thế nào kiểm-chứng được?”. Xin thưa: “Nay nếu ta duyệt lại chú-sớ của Lễ-kư và Kiền_Tạc-Độ ta sẽ thấy lủng củng”. Đầu thế-kỷ 20, Đới-Thường có sọan ra sách “Trịnh-thị Hào-thần-bổ”, trong đó 384 hào của Dịch được thích-nghĩa bằng các tên sao rút từ “Cam Thạch Tinh-kinh” để ấn-chứng hào-từ, điều mục nào cũng đều kháp-hợp. Mượn vạch của Phục-Hi và lời buộc của Văn-Vương, nhất nhất đều quát-hợp với thủ-tượng, làm sao lại có xảo-hợp tinh-vi đến như thế? Xin đáp: Lúc Phục-Hi vẽ quẻ, văn-tự chưa có, đồ dùng c̣n thô-sơ, làm sao có được tên sao? Một vạch khai-thiên, chẵn lẻ đă sinh, ngửa lên xem tượng trời, cúi xuống xét lẽ đất, pháp-tượng trời đất, biến-thông bốn mùa. Âm-dương cương-nhu, động-tĩnh biến-hóa, mà kháp-hợp với số-lư tự-nhiên của tạo-hóa. Mà trời đấ vận-hành, nhân-vật phô-diễn, không thể nào vượt khỏi thường-quỹ ấy được. Cho nên làm trước trời mà trời không nỡ phụ. Đến đời Hoàng-đế lấy hoàng-chung (nốt đô) làm định-luật, để chuẩn độ-lượng, định quyền-xung, đặt cỗi rễ cho quẻ của Phục-Hi mà nḥm trời xét đất, dùng nhật, nguyệt, tinh, thần để cương-kỷ tuế-thời, tự nhiên trời đất bao la vô bờ bến, đă biết lấy tượng-hạn làm thiên nghi để phân triền-độ thứ xá, nên không thể nào không có tên để gọi cho đúng. V́ vậy mới dùng tượng-số của bát-quái mà định-danh. Cho nên sao trên trời phần nhiều lấy từ quái-tượng, không phải lấy quái-tượng mà cưỡng-hợp với tên sao. Trịnh-Huyền khi dùng tên sao để ấn chứng hào-nghĩa, đă làm đảo lộn nhân với quả, đuổi theo hào mà cầu tượng nơi tên sao, rồi lấy hào-từ phụ-hội thêm vào, cốt sao cho hợp với một chữ, một nghĩa, bất kể hợp ít, hợp nhiều, không phát-huy nghĩa kinh được ǵ nhiều. Đáng tiếc thay!


7/ Hào-Chứng爻證


Hào-chứng là tất cả các chứng cớ ta bắt gặp bên lề các bài bàn về Hào như Lục-thân, Lục-thần và Lục-thuộc. Trong sách Hào-Chứng Quảng-Nghiă, Diêm Thọ Duơng, rất am-tường về Hào-thần cuả Trịnh Khang-thành, có nhận xét là hào-thần tuy hay đấy nhưng không dựa vào chứng cớ thực-dụng. Sáu hào chế-dụng phô bầy bất cùng, đều lấy ngũ-hành dương can, âm-chi làm cương-lĩnh, lấy sinh-khắc, h́nh-hại, thiếu-tráng, thịnh-hưu để chinh-phục cát hung. Lấy những ǵ liên-quan đến quái-hào, tượng-số lập thành hệ-thống đủ để suy ra chứng-tích biến-hoá văng lai cuả 64 biệt-quái. Vả lại, hệ-thống này có phát-minh nhiều điều ẩn-dụ trong Kinh-Truyện, mà quư-vi học Dịch nên biết. Những ai thích đọc trước-lục cuả sách Kinh-thị Dịch-truyện và tám pho Dịch-Vỹ, phân-tích sáu hào, ấn-chúng hào dụng, thức-giả có thể thưởng-thúc và bảo-tồn được cổ-nghiă, chẳng cũng bổ ích ru?

7A/ Lục-Thân 六親

 

Kinh-Pḥng nói: "Trong bát-quái, quan-quỷ (khắc ta) là hệ-hào, thê-tài (ta khắc) là chế-hào, thiên-địa tức phụ-mẫu (sinh ta) là nghĩa-hào, phúc-đức tức tử-tôn (ta sinh) là bửu-hào, đồng-khí tức huynh-đệ (tị-ḥa = giống ta) là chuyên-hào". Năm điều này hợp với bản-thân, là cái mà các thuật-gia đời nay gọi là lục-thân. Thân là thân-tộc, tương-truyền nghĩa đă có từ rất lâu đời, nghĩa đơn-giản mà gồm đủ, về mặt bói tóan không nên phế bỏ". Trong Chu Dịch Bản Nghĩa, Chu-tử lấy Dịch của Chu Công, Khổng-tử  mà dạy đời về cách dùng bốc-phệ, c̣n các phép bốc-phệ của Tiêu-Cống, Kinh-Ph́ng đều phế bỏ hết, chỉ giữ lại sáu hào động tĩnh mà bói: các lời vô-chứng-nghiệm này không có ǵ để bàn.

Gần xa không giống, ắt thân sơ hẳn khác. Dĩ nhiên ta phải giám-biệt cẩn-thận, không được khái luận.
 

7B/ Lục-Thần 六神

tức Lục-Thú 六獸


Thần là vi-diệu của muôn vật. Quá hóa tồn thần, muốn cầu thần cần phải kiếm t́m tích-tượng. Lục-thân chứng-thực, c̣n lục-thần chứng-hư. Chu-lưu sáu cơi, không chỗ nào là không tới cả. Khí âm-dương dàn hàng thành ngũ-hành, cơ-chế huyền-vi. Đại-truyện nói
: "Thần gốc ở âm-dương mà lập quẻ; nhờ âm-dương biến-hóa mà thần ngụ bên trong".
 

Quẻ

Phương

Hành

Lục-thú

Khởi nhật

Chấn

Đông

Mộc

Thanh-long

Giáp, Ất

Ly

Nam

Hỏa

Chu-tước

Bính, Đinh

Đoài

Tây

Kim

Bạch-hổ

Canh, Tân

Khảm

Bắc

Thủy

Huyền-vũ

Nhâm, Quư

Khôn

Trung-

Ương

Thổ

Câu-trần,

Đằng-xà

Mậu, Kỷ

 Bảng 6.20 Đặc-trưng Lục-Thú 

Trước Chu-tước, sau Huyền-vũ; tả Thanh-long, hữu Bạch-hổ. Thời cổ ngũ-hành đều có chuyên-quan quản-lư, công-đức nơi dân, dân không quên ơn. Gọi tên để biết công-dụng cho tiện việc. Thần-sát lành dữ, đều là ngụ-ư "Loại tộc biện vật = phân chia chủng-loại và biện biệt mọi vật" cả. Lục-nhâm, Thái-ất, Kỳ-môn Độn-giáp đặt tên cũng đều theo lệ đó cả.

 

7C/ Lục-Thuộc 六屬

 

Lục-thuộc là cho ngũ-âm phối-thuộc sáu hào. Nạp-âm và nạp-giáp nương tựa vào nhau làm thành thế ỷ-giốc. Ngoài mặt tùy-thuộc sáu hào nhưng bên trong phải tùy-thuộc nạp-giáp của sáu hào mà định-số. Cử-lệ như sau: 

Chi

Lục-thuộc

Hào & Lục-thuộc

Tư, Ngọ

Canh

Chấn sơ & Canh

Măo, Dậu

Kỷ

Ly sơ & Kỷ

Dần, Thân

Mậu

Khảm sơ & Mậu

Th́n, Tuât

Bính

Cấn sơ & Bính

Sửu, Mùi

Đinh

Đ̣ai sơ & Đinh

 Bảng 6.21 Đặc-trưng Lục-Thuộc 

Không nói đến Kiền, Khôn mà chỉ nói đến sáu quẻ con bởi v́ hào của chúng chẳng qua chỉ là hào của Kiền, Khôn. Thuyết-quái-truyên VI nói: "Gọi là thần bởi v́ làm đẹp muôn vật mà nói; làm chuyển-động muôn vật th́ không ǵ nhanh hơn sấm chớp; làm xáo trộn muôn vật th́ không ǵ nhanh hơn gió; làm cháy khô muôn vật th́ không ǵ khốc bạo bằng lửa; làm vui muôn vật th́ không ǵ hơn đầm; thấm nhuần muôn vật th́ không ǵ hơn nước; làm trọn vẹn cả sau lẫn trước của muôn vật th́ không ǵ bằng núi. Cho nên nước lửa cùng theo kịp nhau, sấm gió chẳng trái nhau, núi và đầm thông khí với nhau, rồi sau mới biến-hóa được mà làm nên muôn vật". Cái gọi là "thần" chẳng qua chỉ là âm-dương bất trắc như nói trong Hệ-Thượng V/9: "Âm-dương bất trắc chi vị thần = Âm-dương khôn lường th́ gọi là thần". Nói khác đi, cái gọi là "thần" tức thị âm-dương bất trắc của Kiền, Khôn chu-lưu trong sáu cơi. Thuyết nạp-âm tưởng là nông cạn mà hóa ra thâm sâu. Lư tinh-vi không thể lấy tích-tượng mà cầu được. Cái gọi là "âm" chính là hào-thần của Kiền, Khôn đi sang cả hai phía trái và phải, phổ thần vào sáu ngôi, tức thị lục-luật, lục-lă, gốc của tương-sinh, nên phân-thuộc sáu hào, mỗi hào nạp một thần, cho nên gọi là nạp-âm. Ngày nay, các thuật-gia bói Dịch, các nhà Kham-dư (Thầy Địa-lư) hay Phong-giác (Phong-giác Tinh-toán là một phép bói căn-cứ vào ngũ-âm của hướng gió thổi mà đoán cát hung) đều không dám phế bỏ nạp-âm tuy không hiểu tại sao. Nay chúng ta đă biết sở-thuộc của sáu hào, nên xin thử duyệt qua các nạp-âm-đồ của Nội-kinh, của Dương-Hùng và của Băo-Phác-tử để thức-giả hiểu rơ vấn-đề.

Nạp-âm do Hoàng-đế sáng nghĩ, đă được ghi chép kỹ càng trong Nội-kinh: 12 luật lă phối-trí với 60 hoa-giáp của Kinh-Pḥng; cứ mỗi một luật là nạp 5 âm, 12 luật nạp 60 âm. Ngũ-âm của Nội-kinh khởi đầu từ Kim rồi truyền sang Hỏa, Mộc, Thủy, Thổ. Duơng-luật, âm-lă, cách bát tương-sinh. Cát-Hồng, tự Trĩ-xuyên, nói: "Nhất ngôn Cung với Thổ. Tam ngôn Chủy với Hỏa. Ngũ ngôn Vũ với Thủy. Thất ngôn Thương với Kim. Cửu ngôn Giốc với Mộc. Cho nên Tư, Ngọ 9; Sửu, Mùi 8; Dần, Thân 7; Măo, Dậu 6; thin, Tuất 5; Tỵ, Hợi 4".

 

Ngôn

Ngũ

Âm

Hành

Hoa-giáp

Hoa-giáp

Hoa-giáp

 

 

Nhất Ngôn

 

Cung

 

Thổ

Canh Tư

Canh Ngọ

Kỷ Măo

Kỷ Dậu

Tân Sửu

Tân Mùi

Bính Th́n

Bính Tuất

Mậu Dần

Mậu Thân

Đinh Tị

Đinh Hợi

 

Tam Ngôn

 

Chủy

 

Hỏa

Mậu Tư

Mậu Ngọ

Đinh Măo

Đinh Dậu

Kỷ Sửu

Kỷ Mùi

Giáp Th́n

Giáp Tuất

Bính Dần

Bính Thân

Ất Tỵ

Ất Hợi

 

Ngũ ngôn

 

 

Thủy

Bính Tư

Bính Ngọ

Ất Măo

Ất Dậu

Đinh Sủu

Đinh Mùi

Nhâm Th́n

Nhâm Tuất

Giáp Dần

Giáp Thân

Quư Tị

Quư Hợi

 

Thất Ngôn

 

Thương

 

Kim

Giáp Tư

Giáp Ngọ

Quư Măo

Quư Dậu

Ất Sửu

Ất Mùi

Canh Th́n

Canh Tuất

Nhâm Dần

Nhâm Thân

Tân Tị

Tân Hợi

 

Cửu Ngôn

 

Giốc

 

Mộc

Nhâm Tư

Nhâm Ngọ

Tân Măo

Tân Dậu

Quư Sửu

Quư Mùi

Mậu Th́n

Mậu Tuất

Canh Dần

Canh Thân
Kỷ Tỵ

Kỷ Hợi

 Bảng 6.22 Cát-Hồng Nạp-Âm-Đồ

Trong Thái-Huyền-Kinh, Dương-Hùng lấy thứ-tự Hỏa, Thổ, Mộc, Kim, Thủy, khác với Nội-Kinh. Giáp-tư, Ất-sửu là Kim, bảo là Giáp, Ất, Tư, Ngọ số 9; Ất, Canh, Sửu, Mùi số 8, Giáp, Ất, Tư, Sửu, tích-số 34 amod 5 cho 4 là Kim. Cứ thế suy ra như bảng dưới đây:
 

Can Chi

Tích-

Số

Hành

Can Chi

Tích-

Số

Hành

Can Chi

Tích-

Số

Hành

Giáp Tư

Ất Sửu

34

Kim

Giáp Thân

Ất Dậu

30

Thủy

Giáp Th́n

Ất Tị

26

Hỏa

Bính Dần

Đinh Măo

26

Hỏa

Bính Tuất

Đinh Hợi

22

Thổ

Bính Ngọ

Đinh Mùi

30

Hỏa

Mậu Th́n

Kỷ Tị

23

Mộc

Mậu Tư

Kỷ Sửu

31

Hỏa

Mậu Thân

Kỷ Dậu

27

Thổ

Canh Ngọ

Tân Mùi

32

Thổ

Canh Dần

Tân Măo

28

Mộc

Canh Tuất

Tân Hợi

24

Kim

Nhâm Thân

Quư Dậu

24

Kim

Nhâm Th́n

Quư Tị

20

Thủy

Nhâm Tư

Qúy Sửu

28

Mộc

Giáp Tuất

Ất Hợi

26

Hỏa

Giáp Ngọ

Ất Mùi

34

Kim

Giáp Dần

Ất Măo

30

Thủy

Bính Tư

Đinh Sửu

30

Thủy

Bính Thân

Đinh Dậu

26

Hoả

Bính Th́n

Đinh Tị

22

Thổ

Mậu Dần

Kỷ Măo

27

Thổ

Mậu Tuất

Kỷ Hợi

23

Mộc

Mậu Ngọ

Kỷ Mùi

31

Hỏa

Canh Th́n

Tân Tị

24

Kim

Canh Tư

Tân Sửu

32

Thổ

Canh Thân

Tân Dậu

28

Mộc

Nhâm Ngọ

Quư Mùi

28

Mộc

Nhâm Dần

Quư Măo

24

KIm

Nhâm Tuất

Quư Hợi

20

Thủy

 

Bảng 6.23 Dương-Hùng Tích-Số Nạp-Âm-Đồ

Án: Giáp, Kỷ, Tư, Ngọ = 9; Ất, Canh, Sửu, Mùi = 8; Bính, Tân, Dần, Thân = 7; Đinh, Nhâm, Măo, Dậu = 6; Mậu, Quư, Th́n, Tuất = 5; Tị, Hợi = 4 (Bổ-túc 10 của ). Lư-luận về tích-số này c̣n nhiều mâu thuẫn nội-tại xin miễn bàn. Muốn có lối giải khả-quan hơn xin quư-độc-giả ṭ ṃ hăy đọc lại Bài Kỳ 59. Ta có thể tóm tắt cách tính như sau:

Can    

 

Giáp

Ất

Bính

Đinh

Mậu

Kỷ

Canh

Tân

Nhâm

Quư

a

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

a'

 

1

2

3

4

5

1

2

3

4

5

Thập Can 

Chi

Sửu

Dần

Măo

Th́n

Tị

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

b

1

2

3

4

5

6

7

8

8

10

11

12

b'

1

2

3

4

5

6

1

2

3

4

5

6

 Thập Nhị Chi

Thủy

 

Kim

Mộc

Thổ

Hỏa

0

 

1

2

3

4

Hành

Chẳng hạn. như ta muốn t́m hành của cặp Canh-Dần-Tân-Măo (a = 7; b = 3) ta chỉ cần áp-dụng công-thức:

H = [(2 a + 1) mod 10 + (2 b + 1) mod 12]  mod 5

Ở đây, với a = 7 và b = 3  ta có:

H = (2 x 7 + 1) mod 10 + (2 x 3 + 1) mod 12 = 5 + 7 = 12 2 (Mộc).

Nạp-âm, nạp-giáp cũng như thiên-can, địa-chi đều do Hoàng-Đế sáng nghĩ. Bởi chưng kể từ thời Phục-Hi vạch quẻ đến thời-đại Thần-Nông, Hoàng-Đế, càng ngày càng văn-minh, biến-hóa càng ngày càng phức-tạp, không phải chỉ một tượng-số đơn thuần của bát-quái mà có thể tế-dụng hết được, cho nên mới thêm vào các ư-niệm âm-dương, ngũ-hành v.v. Thiên ngũ địa lục, đón ngày suy lịch, bố toàn trắc địa để tận-dụng bát-quái. Đó chính là cái mà ta gọi là "Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu = Theo đạo dịch đă cùng thời biến, biến thời thông, thông ắt lâu dài" (Hệ-Hạ II/5). Nạp-giáp lấy từ tiên-thiên, pháp-tượng nhật-nguyệt, ngửng lên xem thiên-văn. Nạp-âm lấy từ tiên-thiên hợp hậu-thiên lấy số từ 12 tiêu-tức của âm-dương, để bố-trí ngũ-hành, cúi xuống để xét địa-lư. Cho nên Dịch của Kinh-Pḥng, Mạnh-Hỉ bắt nguồn từ đó. Trong "Tam Dịch Bị Di 三易憊遺", Chu Nguyên Thăng 朱元升 suy-diễn nạp-âm rất rơ, số của tỵ hợi tiềm-phục, 1 và 6 hợp nhau, để thành số của Quy-tàng.

 

  

 

 

Xem Kỳ 73

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com