www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 06

 

DỊCH NỘI-TRÚC

 

   

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 65)

 
Quái-Số卦數

Dịch-truyện nói: "Vật sinh ra rồi mới có tượng, có tượng rồi sau mới sinh sôi nẩy nở, sinh sôi nẩy nở rồi sau mới có số đông". Cho nên có trời đất rồi sau mới có vạn-vật, số cuả vạn-vật đều là cuả trời đất cả. Vua Phục-Hi ngửa trông văn trời, cúi xét lẽ đất, khai-sinh tám quẻ, nhân quẻ mà định tượng, do tượng mà sinh ra số. Văn-vương, Khổng-tử kế-thừa mà làm ra đạo Dịch, ra Kinh Dịch, mở mang mọi vật, bao trùm đạo cuả thiên-hạ, mà xét cớ-sự cuả dân, bỏ số đi th́ c̣n ǵ nữa đâu? Duy số không phải con người không biết, cho nên nhân trời cho ba, chia đất cho hai để sinh ra con người tức là nhân ba chia hai mà dựa vào số vậy. Ḷng người linh hơn vạn-vật, tâm vừa chớm động mà số đă sinh. Vật vô cùng tận mà số lượng ḷng người cũng vô cùng tận nữa. Tức biết 1, 2, 3, 4 là số th́ cũng biết thiện, ác, phải, trái cũng là số nữa. Đă biết cộng, trừ, nhân, chia là số, lại biết tiến, lui, qua, lại cũng là số nữa. Số để ghi việc, cũng để ghi vật. Vật sinh ra vô-tận, sự biến đến vô cùng, duy số đủ để điều-hành và thống-nhất. Cho nên số cốt để giúp tượng sinh sôi, tượng cốt để giúp số diễn-đạt vậy. Tượng kèm theo lời thoán, lời hào để diễn -số. Kiền, khôn, khảm, ly, chấn, tốn, cấn, đoài bao hàm số cuả tượng đấy. Cho nên có số cuả quái-hào, đó là thể cuả dịch-số, có số đại-diễn, đó là dụng cuả dịch-số. Mà số cuả quái-hào cũng như số đại-diễn đều là gốc chung cuả thiên-điạ-số.
 

Thiên-Điạ-Số天地數

Chương IX cuả Hê-từ Thượng-truyện như sau: 

Trời số một, đất số hai, trời số ba, đất số bốn, trời số năm, đất số sáu, trời số bẩy, đất số tám, trời số chín, đất số mười.

Chú-ư: Câu trên là tiền-thân cuả định-đề Peano cuả Đại-số-học.

Số trời có năm, số đất cũng có năm, năm ngôi cùng tương-đắc mà cùng có phối hợp; số trời là hai mươi nhăm, số đất là ba mươi, phàm số cuả trời đất là năm mươi nhăm, cái số ấy để làm nên biến-hoá và hành-động như quỷ-thần.

Số đại-diễn là năm mươi, mà dùng chỉ có bốn mươi chín, chia đôi để tượng hai nghi (trời đất), treo một để tượng tam-tài (trời, đất, người), đếm bốn (amod 4) để tượng bốn muà, dành cái lẻ thừa về một bên để tượng tháng nhuận, năm năm hai lần nhuận nên hai lần dành lẻ ra rồi mới kẹp vào.

Thẻ cuả kiền là 216, thẻ cuả khôn là 114, cả thẩy hợp với số ngày cuả một năm b́nh-dân.

Thẻ cuả hai thiên là 192 x 36 + 192 x 24 = 6912 + 4608 = 11,520 10,000, hợp với số cuả muôn vật.

Cho nên bốn lần tráo trộn mà thành biến đổi, mười tám lần biến mà thành ra một quẻ kép.

Tám quẻ đơn hoàn thành, gọi là tiểu-thành.

Dẫn mà suy rộng ra, tiếp-xúc với từng loại mà phát-triển ra, th́ mọi việc hay trong thiên-hạ đều thâu tóm được hết.

Làm rơ rệt đạo, thần, đức, hạnh, nên có thể cùng ứng đối, cùng giúp cho cái công thần-hoá vậy.

Đức Khổng-tử nói rằng: "Hễ biết đạo biến-hoá th́ biết việc làm cuả thần minh chăng?"

 

Thiên-Điạ-Phạm-Vi-Số天地範圍數

Tương truyền, thiên-điạ phạm-vi-số chính là Liên-sơn quái-số, nhân v́ lấy quẻ cấn làm thủy-chung dựa vào câu: "Lấy sự biến-hoá trong trời đất làm khuôn mẫu mà vẫn giữ được đạo trung, uốn nắn nên muôn vật mà chẳng sót" (Thượng-Hệ IV/4).
 

Thiên

nhất

Điạ

nhị

Thiên

Tam

Điạ

tứ

Thiên

Ngũ

Điạ

lục

Thiên

thất

Điạ

Bát

Thiên cửu

Đia

thập

Giáp

nhất

Ất

nhị

Bính

tam

Đinh

tứ

Mậu

ngũ

Kỷ

lục

Canh

thất

Tân

Bát

Nhâm

cửu

Quư

thập

Bảng 6.11 Thiên-điạ Phạm-vi-số 

Giáp số 1, giáp mộc sinh bính hoả, cấn nạp bính, nên quẻ cấn số 1, thống-lĩnh hai chi sửu, dần.

Ất số 2, ất mộc sinh đinh hoả, đoài nạp đinh, nên quẻ đoài số 2, thống chi dậu.

Bính số 3, bính hoả sinh mậu thổ, khảm nạp mậu, nên quẻ khảm số 3, thống-lĩnh chi tư.

Đinh số 4, đinh hoả sinh tỵ thổ, ly nạp kỷ, nên quẻ ly số 4, thống chi ngọ.

Mậu số 5, mậu thổ sinh canh kim, chấn nạp canh, nên quẻ chấn số 5, thống chi măo.

Kỷ số 6, kỷ thổ sinh tân kim, tốn nạp tân, nên quẻ tốn số 6, thống hai chi thin, tỵ.

Canh số 7, canh kim sinh nhâm thủy, Kiền ngoại-quái nạp nhâm. Lăo-dương không có số 7, v́ 7 là đường cùng cuả quẻ. Nên Dịch nói: "Sáu hào phát-huy đạo cuả tam-cực. Hơn nữa canh là thay đổi, 64 quẻ đại-thành, nơi số 7 không có quẻ.

Tân số 8, tân kim sinh quư thủy, Khôn ngoại-quái nạp quư, nên quẻ khôn số 8, thống hai chi mùi, thân.

Nhâm số 9, nhâm thủy sinh giáp mộc, Kiền nội-quái nạp giáp, nên quẻ Kiền số 9. thống hai chi tuất, hợi.

Quư số 10, quư thủy sinh ất mộc, Khôn nội-quái nạp ất. Lăo-âm không có số 10, v́ 10 là số kết-thúc. Số đến 9 là ngừng. 10 đă là việt-vị, nên 10 chính là 1 vậy. 10, 100, 1000, 1000 đều là 1 cả. 

H́nh 6.09 Bát-quái-số Phạm-Vi Thiên-Điạ

Trong H́nh 6.09, Cấn bắt đầu bằng 1 mà kết thúc cũng bằng 1, mà lại lấy Cấn 7 làm dụng nên mới mang tên Liên-sơn Dịch-số. Vị tất cấn đă là Liên-sơn, nhưng tượng cấn đă liên-quán được cả tiên thiên lẫn hậu-thiên. Mà số lại hợp với cả Hà-đồ, Lạc-thư. Đối với nạp-giáp, nạp-âm lại dụng-hội và quán-thông được cả hai, như thế hẳn là tuyệt diệu rồi. Dương-số (số lẻ) cực-đại ở 9, âm-số (số chẵn) cực-đại ở 6. Dương là trời. Dụng cuả trời ở nơi đất, nên dụng đất 6 mà thể toàn, nhờ đó 6, 7 cuả dụng được lưu-hành. Thái-âm không có 7, thái-dương không có 10, mà cấn kiêm-dụng được cả 1, 7, 10, bắt đầu bằng 1, kết-thúc bằng 10, hẳn là 7 bao gồm cả dụng cuả thành chung, thành thủy vậy.

 

Tam-Thiên-Số三天數
 

Số

Quẻ
      

Tiên

thiên

Bản-số

Tiên-thiên

Trung

thiên

Vị-số

Trung-thiên

Hậu

thiên

kiền

1

9

Canh 9

9

6

đoài

2

7

Tân 4

2

7

ly

3

3

Bính 7

Đinh 2

4

9

chấn

4

1

Giáp 3

5

3

trung

 

 

 

7

5

tốn

5

4

Ất 8

6

4

khảm

6

2

Nhâm 1

Quư 6

3

1

cấn

7

8

Kỷ 10

1

8

khôn

8

6

Mậu 5

8

2



Bảng 6.12 Tam-thiên-số

Ta biết rằng tiên-thiên-số lấy từ Hoàng Cực Kinh Thế cuả Thiệu-tử, trung-thiên-số lấy từ Dịch Nguyên Áo Nghiă cuả Bảo Ba đời Nguyên, c̣n hậu-thiên-số chính là chin số nguyên cuả Lạc-thư vậy. Về bản-số tiên-thiên, xin xem bên dưới (H́nh 6.11).

 

Tiên-Thiên-Số先天數
 

Kiền 1, đoài 2, ly 3, chấn 4, tốn 5, khảm 6, cấn 7, khôn 8 là số cuả Hoàng Cực Kinh Thế mà ta quen gọi là tiên-thiên-số. Tương truyền Thiệu-Ung (1011-1077), tức Khang-tiết Tiên-sinh, theo học Dịch với Lư Chi Tài (?-1045), ba năm mà vẫn chưa thấy được chỗ uyên-áo cuả Dịch, bèn khẩn-cầu họ Lư chỉ giáo cho yếu-chỉ. Ông này dạy cho tám chữ một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bẩy, tám, lúc đó Khang-tiết tiên-sinh mới vỡ lẽ ra rằng: kiền, đoài, ly, chấn, tốn, khảm, cấn, khôn chỉ là số thứ-tự thiên-nhiên cuả tám quẻ, quát hợp với tám số nguyên thiên nhiên. Mà âm-dương giao-thác, xuôi ngược, qua lại, ǵ ǵ cũng diệu-hợp. Phải nghiên-cơ kỹ càng mới quán-triệt được tương-quan giữa trời và người. Sau đó Ngài viết ra sách Hoàng Cực Kinh Thế. Tŕnh-Di (1033-1108) khen rằng: "Đây là cái học Nội Thánh Ngoại Vương (Trong ḷng là Thánh, ngoài mặt là Vua)". Trong Chu Dịch Bản Nghiă, Chu Hi mới đặt các Đồ tṛn, Đồ vuông ngay nơi đầu sách. Từ đó về sau, ai ai cũng lấy tiên-thên-số làm Dịch-số, tỷ như ta nói Mai-hoa Dịch-số. Nói số nơi quái, hào, Thoán, Tượng, đại để như "một mũi tên" (quẻ Phục), "một xe" (quẻ Khuể), bẩy ngày" (quẻ Phục), "tháng tám" (quẻ Lâm), "chín g̣" (quẻ Chấn), "mười năm" (quẻ Truân), đều là nói đến số tiên-thiên cả. Ngoài Kinh-truyện ra, các tư-kiến cuả các nhà không làm sao kiểm soát hết được.

Phàm tiên-thiên-số cuả Thiệu-tử, không ǵ là chẳng vẫn-hợp. Đặc-biệt là Ngài lấy 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 làm chuẩn, làm gốc như trong toán-pháp vậy. Kiền, đoài, ly, chấn, tốn, khảm, cấn, khôn chẳng qua chỉ là kư-hiệu. Hoặc giả dùng nhật, nguyệt, tinh, thần, thủy, hoả, thổ, thạch hay bất kỳ bộ tám nào cuả Hoàng Cực Kinh Thế (HCKT) cũng được. Trên thực-tế, Thiệu-tử chưa hề dùng HCKT để chú-thích Kinh Dịch, nhưng mượn quái, hào mà diễn số để suy ra số-lư, biến-hoá phân-hợp mà vẫn-hợp với Dịch. Chính là điều ta thường gọi là "đồng quy nhi thù đồ" (đồng-quy bằng các đường khác nhau), phép khác nhưng sự thật vẫn chỉ là một. Mỗi khi bàn về Dịch, ắt lấy Kiền, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn làm chuẩn. Tiên-hậu, thể-dụng, mỗi mỗi đều có số riêng. Nhưng mỗi số kể cả số cuả Thiệu-tử đều xuất-xứ từ "thiên nhất, điạ nhị"  (Thiên-điạ Phạm-vi-số) cả: 

Trong H́nh 6.10, Kiền 1 đối với khôn 8, hợp 9. Đoài 2 đối với cấn 7, hợp 9. Ly 3 đối với khảm 6, hợp 9. Chấn 4 đối với tốn 5, hợp 9. 4 x 9 = 36. Vạch dương kể làm 3 khúc, vạch âm chỉ tính 2 khúc v́ khuyết khúc giữa. Kiền 3 vạch dương tính thành 3 khúc dài, khôn 3 vạch âm tính thành 6 khúc ngắn, hợp thành 9 khúc. Đoài 4 vạch, cấn 5 vạch, hợp thành 9 vạch. Ly 4 vạch, khảm 5 vạch, hợp thành 9 vạch. Chấn 5 vạch, tốn 4 vạch, hợp thành 9 vạch, 4 x 9 cũng là 36. Bát-quái ma-sát nhau mà thành 64 quẻ kép.

H́nh 6.10 Tiên-thiên-số cuả Thiệu-tử 

Trừ Kiền, Khôn, Khảm, Ly, Di, Trung-phu, Đại-, Tiểu-quá không đổi ra, 56 quẻ c̣n lại đều là quẻ này là quẻ kia lật ngược lại. Thành thử ra 56 quẻ thu lại chỉ c̣n 28 quẻ.

Hợp với 8 quẻ bất-biến, cả thẩy ta được 36 = 62 quẻ. Nên Thiệu-tử bảo: "Tam thập lục đô thị xuân" (xem bài thơ cuối bài), nghiă là dùng 6 mà dấu 9. Giả dụ ta cứ y ngũ-hành mà nạp-giáp ắt thấy không hợp. Thành thử ra tượng nạp-giáp không dính dáng ǵ đến tiên-thiên-số cả. Hán-học-gia cố gắng biện-bác về tiên-thiên-số, nhưng không đi đến đâu. Bây giờ chúng ta thử ráp số tiên-thiên với số Hà-đồ, Lạc-thư xem sao (H́nh 6.11). Thánh-nhân cho Đồ-Thư vào khuôn khổ, vẽ quẻ, nên ta thấy rằng quái-số tức là số cuả Đồ-thư.

Các số 1, 6 cuả Đồ-Thư đều khởi từ dưới lên. Dương bắt đầu bằng 1, âm kết thúc bằng 6, đều quy-tàng ở phương bắc, chưa từng thấy ǵ khởi từ trên xuống. Số tiên-thiên cuả Thiệu-tử độc-ngộ "Dich nghịch-số dă" của Thuyết-quái-truyện III/2. Cho nên phản-dụng Đồ-Thư mà đếm ngược từ kiền, dấu 9 không dùng cho hai số đối-đăi nhau. Giống như Lạc-thư dấu số 10, diệu-dụng ở chỗ quẻ thuận ắt số nghịch, quẻ nghịch ắt số thuận, nên không trái với thiên-tắc dương thuận âm nghịch. Thác tổng biến-hoá, không ǵ là chẳng tương-thông. Như nếu luận bản-số cuả bát-quái tiên-thiên, ắt nên lấy phép cuả Hà-đồ, âm nghịch dương thuận để hợp nơi các cặp đối-xứng theo trục tung 1-6, 2-7, 3-8, 4-9 (trong đồ tṛn mới xuyên-tâm đối). Mà âm-dơơng tương-đối, đều là hợp-số 5. Như lôi-phong 1-4 hợp (amod 10) thành 5, thủy-hoả 2-3 cũng hợp thành 5, sơn-trạch 7-8 cũng hợp thành 5 , thiên-điạ 9-6 hợp cũng là 5 nữa (Xin xem kỹ H́nh 6.11 trước khi đọc tiếp).  

H́nh 6.11 Bản-số cuả Tiên-thiên Bát-quái 

Bởi v́ lấy 5 làm bản lề trung-ương th́ 1-6 là điạ-lôi PhụcX, 9-4 là thiên-phong Cấul, 2-7 là thủy-trạch Tiết|, 3-8 là hoả-sơn Lữx. Cái gọi là bố-trí ngũ-hành nơi bốn muà, không ǵ là chẳng hợp. Hoà rồi sau trăng mới sinh, là lư-do dùng tượng tiên-thiên nhưng lại dùng số hậu-thiên. Lẽ này sở dĩ hơn ngh́n năm chưa ai phát-kiến được là v́ không biết số dương thuận âm nghịch vậy. V́ không biết số dương thuận âm nghịch, nên lấy số cuả Thiệu-tử mà cưỡng giải Dịch cuả Kinh-Pḥng, Tiêu-Cống th́ rối bời bời, không làm sao mà gỡ mối cho ra. Dương-số (số lẻ) thuận bắt đầu từ 1 v́ 1-3-5-7-9. Âm -số (số chẵn) nghịch bắt đầu từ 4 v́ 4-2-8-6. Từ đời Tống đến nay, mọi người đều dùng âm-số 2-4-6-8 là sai lầm từ gốc. Hàng Tân Trai đă sửa sai bằng phép "thừa lục" căn cứ vào đậu "Kiền thừa lục long乾乘六龍". Trước tiên biết cực-số mà định-tượng, thông-biến thành văn, tham ngũ thác-tổng đều dương thuận âm nghịch hết cả. Hàng Tân Trai đă cắt lọn nghiă diêu-thuyết này rút từ ư dương thuận âm nghịch cuả Phương Xuân Thủy方春 trong sách Phương Sinh Dịch Thuyết 方生易說và từ ư âm-số khởi từ 4 cuả Tứ Tấn-Thôi駟晉崔.

 

Trung-Thiên-Số中天數
 

Đại-để, Dịch bảo: "Nhất âm nhất dương chi vị Đạo" (Thượng-Hệ V/1). Kiền xưng cha, Khôn xưng mẹ. Kiền, Khôn sinh được sáu con, rồi sau mới có trật-tự nhân-luân, quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử, phu phu. phụ phụ. Từ đó sinh ra trung-thiên-số.

C̣n như trung-thiên vị-số là do thái-cực vận-hoá mà ra. Trung-thiên-số lấy số lẻ làm dương, lấy số chẵn làm âm. Bằng vào 1, 2 làm chuẩn, nên 1 sinh 2, tức thị về vạch là tượng thái-âm =. Một lẻ, một chẵn thành 3. Tức là quẻ điạ-thiên Thái. Tại sao quẻ cấn ngụ tại số 1-7 ? Bởi chưng khởi ở cấn mà dừng cũng ở cấn. Thuyết-quái-truyện nói: "Cấn là quẻ đông-bắc", là nơi muôn vật thành chung, thành thủy tức nguyên mà hanh, hanh mà lợi, lợi mà trinh, trinh mà nguyên. Đó chính là điều mà Chu-tử gọi là trung chính nhân nghiă, mà vượng tĩnh lập nhân-cực. Cấn và tĩnh chu-khởi tĩnh mà dừng lại tĩnh. Cái gọi là thái-cực vận-hoá chính là từ nguyên mà hanh, là phạm-vi cuả Trung-thiên vậy.
 

Hậu-Thiên-Số後天數
 

Vị-số hậu-thiên là số mượn cuả Lạc-thư trong khi hậu-thiên-số lại mượn cuả Hà-đồ.

                   H́nh 6.12 Hà-đồ                        H́nh 6.13 Lạc-thư

Đại khái lấy can làm gốc, lấy chi làm ngọn, do ngũ-hành trong cương có nhu, trong nhu có cương, tức thị trong dương có âm, trong âm có dương. Nói khác đi, đó chính là Lập Điạ-Đạo vậy. Để nhớ số hậu-thiên ta có câu lục bát:

Hậu-thiên tám số nhớ hoài,
Khàm, khôn, chấn, tốn, (trung), kiền, đoài cấn, ly.
 

Ta có bảng và h́nh dưới đây: 

Què

kiền

khảm

cấn

chấn

tốn

ly

khôn

đoài

Số

6

1

8

3

4

9

2

7

Phương

hướng

Tây

bắc

Chính

bắc

Đông

bắc

Chính

đông

Đông

nam

Chính

nam

Tây

nam

Chính

tây

Bảng 6.13 Số Hậu-thiên 

Trong Bảng 6.13, ta nhận thấy rằng kiền-khảm tương-liên, 4 và 9 hợp; khôn-đoài tương-liên, 2 và 7 hợp; chấn-cấn tương-liên, 3 và 8 hợp; tốn-ly tương-liên, 4 và 9 hợp. Các số cuả cuả thủy hoả kim mộc đều phối-hợp. Duy có hai số 5 và 10 vắng mặt ? Chúng không vắng mặt đâu: khảm 1, ly 9, hợp thành 10, ứng với trung-ương mậu-kỷ thổ, mà khôn-cấn 2-8, cũng hợp thành 10, là sửu-mùi đều là số thổ 5-10 gửi ở trung-ương, hợp với phương-vị cuả Lạc-thư, mà số cũng kiêm ứng với nạp-giáp nữa.

Đó là điều ta đă gọi là 2-8 đổi chỗ (nhị ngũ dịch-vị), 2-5 cấu-tinh ở CHƯƠNG 5.
 

H́nh 6.14 Bản-số Bát-quái Hậu-thiên 

Ta nhận thấy rằng trong các H́nh 6.13 và 6.14 các số xuyên-tâm đối đều có tổng-số là 10. Đó cũng chính là ư-nghiă Ngày Mùng 10, Giỗ Tổ Hùng-Vương.

Khảm-ly, kiền-tốn, chấn-đoài, khôn-cấn đều đối nhau. Duy hai quẻ khôn-2 và cấn-8 đổi chỗ, 5 chiếm trung cung, mà 10 lại ám-ngụ ở tám phương trời. Đó chính là diệu-dụng cuả khôn-cấn đổi chỗ. Đạo-gia thờ́ bảo đó là "thần khu qủy tàng". Kỳ thực đây chỉ là "Thiên-căn Nguyệt-quật" cuả Thiệu-tử, chẳng qua ta chưa nh́n thấy rơ mà thôi.

   

耳目聰明男子身           Nhĩ mục thông-minh nam-tử thân.

洪釣賦予不為貧           Hồng-quân phú-dữ bất vi bần.

須探月窟方知物       Tu thám Nguyệt-quật phương tri vật;

未躡天根豈識人           Vị niếp Thiên-căn khởi thức nhân.

乾遇巽時觀月窟       Kiền ngộ Tốn thời quan Nguyệt-quật;

地逢雷處見天根           Điạ phùng Lôi-xứ kiến Thiên-căn.

天根月窟閑 來往       Thiên-căn Nguyệt-quật nhàn lai văng,

三十六宮都是春           Tam thập lục Cung đô thị xuân. 

                  擊壤集                        Kích-Nhưỡng-Tập
 

Xin tạm dịch là:     

Tai thông, mắt sáng, chí nam-nhi,

Tạo-hoá sinh ra chẳng nghèo ǵ.

Hang Nguyệt nên thăm cho biết vật;

Gốc Trời chẳng niú có hay chi?

Kiền đi với Tốn xem Hang Nguyệt;        

Điạ sánh cùng Lôi thấy Gốc Ky.

Hang Nguyệt, Gốc Trời qua lại măi,

Ba mươi sáu quẻ rạng xuân-th́.
 

Đến các sinh-vật hèn mọn như con đỉa y-học (Hirudo medicinalis), nhịp 36 ống tim cũng đập đồng pha theo khoá pha (phase-locking) với 36 cung của Thiệu-tử nữa là!

Xin đón xem CHƯƠNG 13.

 

 

  

 

 

Xem Kỳ 67

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com