www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 06

 

DỊCH NỘI-TRÚC

 

   

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 64)

 
 

Dật-Tượng 逸象
 

Tuân Cửu-gia tức Tuân Sảng có sưu-tập được 31 dật-tượng quẻ đơn:

4 tượng kiền   = Rồng, thẳng, quần áo, lời nói;

8 tượng khôn   = Con cái (con mái), mê hoặc, vuông, túi, xiêm, mầu vàng, gấm, thức uống;

3 tượng chấn  = ngọc,  chim hộc tức ngỗng trời tức thiên-nga, cái trống;

2 tượng tốn   = cây dương, chim quán (giống chim hạc mà đầu không đỏ, cổ dài, mỏ dài, suốt ḿnh mầu tro, đuôi và cánh đen, làm tổ ở trên cây cao);

8 tượng khảm = cung điện, luật, có thể, dui (hai hào âm tượng-trưng hai đầu dui dấu vào nóc nhà), bụi gai, mồ côi (côi cút), cây tật-lê, gông cùm.

1 tượng ly      = con trâu cái.

3 tượng cấn   = cái mũi, con hổ, con cáo.

2 tượng đoài = thường thường, xương mép và hai bên má. 
 

Mạnh-Hỉ cũng có truyền lại được một số dật-tượng phần nhiều cuả chính ḿnh hoặc giả mượn từ các dịch-gia khác hay chính từ bản-kinh và rất thích-dụng khi đọc bản-kinh: 

kiền    = ông vua, tiên-vương, minh-quân, con người, đại-nhân, thánh-nhân, hiền-nhân, quân-tử, quân-nhân, hành-nhân (lữ-khách), thay đổi, một vật, đứng, thẳng, kính, sợ, hết thẩy, nghiêm, cứng dắn, đạo, đức, thịnh-đức, đức-hạnh, tính, tinh, tín, thiện, dương-thiện, tích-thiện, tốt lành, ḷng nhân, yêu, giận, sinh, tường, khánh, thiên-thể, hỉ, phúc, giúp phúc (chúc phúc), lộc, trước, bắt đầu, biết, lớn, đầy, xum-xuê, béo (mập), tốt, thi-hành, lợi, trong, trị, đại-mưu, cao, cất lên, tông-tộc, cao-tông, họ, giáp, lăo, cũ, xưa, đại-minh, xa, ngoại ô, đồng ruộng, cửa, đạo-môn, trăm, năm, đỉnh, mầu son, áo, ngọc khuê, người già trên 60, dưa hấu, rồng, cái đầu, mở.  

khôn   = bầy tôi, thuận thần, dân, muôn dân, tên họ, tiểu-nhân, ấp-nhân, quư, h́nh, thân ḿnh, con cái, con mái, người mẹ, thân-thể, tôi, tự, đến, an, mạnh khoẻ, giầu, tiền cuả, tích-tụ, họp lại, nặng dầy, tới chốn, dụng, bao, cô-đơn, từ từ, doanh, dưới, dung, giầu có. rộng răi, hư, sách vở, gần, cương-giới, vô-cương, suy nghĩ, ác, lư lẽ, thể, lễ, nghiă, sự, nghiệp, đại-nghiệp, thứ-chính, tục, độ, loại, đóng, giấu, trữ, kín đào, bí-mật, lặng lẽ, thẹn, sỉ nhục, muốn, quá, hôi thối, tích-ác, mê muội, giết người trên, loạn, oán hờn, hại, cấm tiệt ác, chung, vĩnh chung, tệ, chết, chôn, mờ tối, tối tăm, nhiều, buổi chiều, chiều tối, chiều và tối, ất, năm, mười năm, nhà ở, nghiă-môn, cửa đóng, bế-quan, cánh cửa, đất, tích-thổ, bực thềm, ruộng, ấp, nước, nước nhỏ, đại-bang, vạn-quốc, dị-bang, phương, quỷ-phương, cái quần, dây thao đeo ấn, xe, xe lớn, nhíp xe, đồ vật, ṿ bằng đất nung, túi, con hổ, con tê-giác cái, ḅ vàng, ḅ cái.    

chấn   = Đế, chuá, tước hầu, con người, kẻ sĩ, người anh, người chồng, ngón chân, ra, khởi đầu, đi, chinh-phục, làm, thoả ḷng, kinh-tẩu, cảnh-bị, định, trăm, nói, lời nói, giảng nghiă, hỏi, tŕnh báo, thưa kiện, âm hưởng, tiếng, âm, kêu, đêm, bạn, răn, trừng phạt, RADAR, phản, sau, đời sau, theo, giữ, bên trái (trong bát-quái hậu-thiên, nếu ta day mặt về phiá nam sẽ thấy chấn nằm bên tay trái, sinh, nếm (thức ăn), từng trải, thong thả, khoan-nhân, ở trên, vui, cười, vui cười, cười nói, đạo, g̣ lớn, lăng-tẩm, tế, rượu nếp để cúng tế, cấy luá, bách-cốc, thảo măng (các loài cỏ), cái trống, giỏ tre vuông, con ngựa, hươu nai. 

tốn  = Mệnh, mệnh-lệnh, giáo-lệnh, hiệu-lệnh, báo cho biết, kêu gào, xử-nữ, đàn bà, người vợ, lái buôn, người chị, theo, vào, ăn ở, đối đăi, nhập-phục, lợi, đều, chỉnh-tề, cùng, bạn bè, tiến lên, thoái lui, muá, hang, cây cao, bao bọc, đài hoa, cây dương, cây ăn trái, cỏ tranh, cỏ tranh trắng, cây lan, cây cỏ, các loài cỏ, rau câu-kỷ, dây sắn và dây b́m, vợ lẽ, củi, người tầm-thường, rừng, dây trạc, gấm, thắt lưng, con rắn, con cá, con cá giếc. 

khảm = thánh, mây, mây đen, sông, sông ng̣i, sông cái, trái tim, chí, suy nghĩ, lo sợ, lo âu, mưu toan, sợ sệt, nghi ngờ, hiểm trở, khó khăn, cứu giúp, hối hận, đi xa ra, quên, mệt nhọc, thấm ướt, ốm (bệnh), bệnh-tật, lầm lỗi, tai-hại, tai-hoạ, nghi-tật, phá hoại, tội, mê hoặc, muốn, dâm đăng, trộm cướp, bạo, độc, mương nước,  bằng phẳng, tin, phép, phạt, ngục, phép-tắc, kinh, tập, nhập, trong, tụy, xương sống, cầu xin, mông đít, đêm khuya, năm, ba năm,  thây, mỡ, thuốc cao, rượu, lùm cây, bụi gai, cây tật-lê, cây gai, cây, cung, cung đạn, xe (lội nước), ngựa. 

ly    = gíáp, mầu vàng, con gái,đàn bà, có mang, kẻ ác, thấy, bay, tước, mặt trời, sang, đời trước, mậu, thủ-cấp, cái buá, mũi tên, mũi tên bay, mũi tên mầu vàng, lưới, cái lưới lớn, con chim, con chim đang bay, chim dữ, chim đại-hồng, chim quán (giống chim hạc mà đầu không đỏ, cổ dài, mỏ dài, suốt ḿnh mầu tro, đuôi và cánh đen, làm tổ ở trên cây cao), cái ṿ, cái hũ. 

cấn    = em, tiểu-tử, quân-tử, hiền nhân, trẻ con, đồng mông, đồng bộc, quan, bạn, cửa cung, người canh cửa, thời-gian, phong-phú, ngôi sao, quả núi, cẩn-thận, sáng lờ mờ, tiếng sét đánh, tiết, chờ đợi, chế, cầm giữ, nhỏ, nhiều, dầy, lấy, bỏ, cầu, thực, đạo, ở lỗ, ḥn đá, cái thành, cung-thất, môn-khuyết, nhà tranh, cửa sổ, ở cửa ngơ, nhà tông-miếu, xă-tắc, cái mũi, cánh tay, cái lưng, bắp chân, da, dạ dày (bao tử), cây nhỏ, quả lớn, con báo, con chó sói, con cáo, con chồn nhỏ, đuôi. 

đoài   = em gái, diệu, người vợ, bạn bè, bầu bạn, giảng-tập, h́nh, tội-phạm, nhỏ, nhỏ tuổi, mây kín, thong suốt, thấy, bên phải, dưới, biết ít, giao kèo. 

Biệt-bản c̣n thêm:  khảm = thiết-tượng (tượng trộm), tốn = hệ-tượng (tượng buộc), đoài = khuy-tượng (tượng nh́n lén); hầu như trong dật-tượng c̣n có đật-tượng nữa. Duy tượng vốn dĩ không có phương-sở, ư động là thành tượng, hiểu ư có quyền quên tượng, ắt cũng có thể thành tượng. Dịch bao chùm trên Đạo cuả thiên-hạ, lấy tám quẻ động chạm nhau, âm dương phản-phục mà có thể "uốn nắn nên muôn vật mà không sót" (Thượng-Hệ, IV/4), chính là lấy tượng mà biến-hoá đến vô-tận, uyển-chuyển ứng tràn đầy trời đất bao la, chỉ là muôn vật sinh hoá không ngừng mà thôi. Vạn-vật sinh sôi nẩy nở, ngày chồng tháng chất, tượng trải qua đếm không xuể. Cho nên, trong sách Trọng-thị Dịch (5AAB), Mao Kỳ-Linh mới dẫn 270 dật-tượng cuả vài dịch-gia. Không kể dật-tượng cuả Ngu-Phiên, ông c̣n phục-tập cả thẩy được 1471 dật-tượng.
 

Bổ-Tượng補象

Các sách Chú Dịch như sách Lai Chú Dịch-Kinh Đồ-Giải cuả Lai Tri-Đức đều có bổ-tượng. Toàn là lời trích từ Thoán-tượng cuả Thập-Dực, rồi nghĩ-nghị mà bổ-túc. Kỳ thực quảng-tượng cuả thuyết-quái giản-dị mà bao quát, các tương cuả quái thoán. hào không tượng nào là không hội-thông diễn-dịch được. Vô h́nh trung, chỉ là nặn chữ ra tượng để thêm thắt, nghiă là nệ tượng bàn dịch, làm cho Dịch càng mù mờ thêm mà thôi.
 

Tham-Tượng參象 

Tham-tượng là tám quẻ âm-dương giao-biến, chưa thể lấy một quẻ làm bản-tượng, hoặc giả biến tượng mà tận-ư. Nhân tham-hợp tượng cuả hai quẻ mà hội-thông. Các thí-dụ đă thấy nơi mục quảng-tượng. Trong sách Dịch-phổ Xúc-loại Dẫn-thân, Trịnh Thuận-Đức đă dẫn-chứng từ những lời chiêm-nghiệm rút từ cổ-sử (như Tả-truyện, Hán-thư, Hậu-Hán-thư v.v.) liệt vào tham-tượng tưởng cũng bổ ích không ít cho người học dịch.

Ly biến cấn = lửa đốt núi, tượng cuả thất-bại. Đối với con người, là lời nói, là bại ngôn, là gièm pha. Cho nên cũng là tượng cuả lời gièm.

Khôn biến Kiền = lại thấy cấn, là "đ́nh thực lữ bách" (Tả-truyện, Trang-Công, năm thứ 22). Đời xưa bên Tầu, chư-hầu triều cống thiên-tử lễ vật bầy la-liệt trên sân Thiên-tử: như gấm vóc, ngọc cùng các báu vật khác trong trời đất v.v.. Kiền là ngọc, mà khôn là gấm.

Kiền biến đoài = là trời sụt xuống chằm, là tượng thiên-tử nghịch với chư-hầu tước công.

Chấn biến ly = lửa quay lại đốt cháy cây cối, là tượng con gái đă đi lấy chồng rồi quay về nhà làm hại mẹ ruột.

Tốn gặp cấn = là gỗ trên rừng; nếu biến kiền có tượng là thiên-quang chiếu xuống.

Khôn biến chấn = bảo rằng yên mà lại có thể giết hại, là tượng công-hầu.

Khôn biến khảm = khôn là chính, khảm là hoà. Hoà để tuân theo chính, là tượng có thể tin cậy được.

Chấn biến khôn = chấn là chân, khôn là tĩnh mà bất động, có tượng cuả chân đứng yên. Chấn là xe mà khôn là ngựa, nên chấn biến khôn cũng là tượng cuả xe chạy theo ngựa. Chấn là anh cả, khôn là mẹ, nên có tượng người mẹ chống lại anh cả. Cũng có nghiă là quần chúng, là quần chúng theo về.

Kiền biến khôn = phế-đế, là tượng cuối cùng hết được làm vua. Kiền là thiên-tử. Biến ra 3 hào cuả khôn, đều là từ kiền. Cũng có nghiă là tượng cả 3 phần đều xuất-phát từ thiên-tử.

Khảm biến tốn = là tượng chồng theo gió, gió đổ xuống đầu vợ. Cho nên gió có thể là bất cứ vật ǵ từ trên trời rớt xuống.

Chấn biến khảm = muà xuân mộc vượng là thời cuả long-đức, là khí cuả phế-thủy, đến thấy, thừa hành thêm vào, thăng dương chưa phân-bố, long-âm tích trở lại, khảm là h́nh-ngục, là tượng cuả ủng-lạm.

Kiền biến ly = là mặt trời xuất hiện giữa trời, là tượng có quang- hiển.

Ly biến cấn = là tượng mặt trời lặn sau núi tây (tây-sơn).

Cấn biến ly = là tượng mặt trời mọc từ đằng sau quả núi, là tượng sắp lên cao.

Cấn biến khảm = là tưông sơn-ngục biến thành biển.

Khảm biến cấn = là tượng hang sâu biến thành g̣ lớn.

Khảm là mặt trăng.  Biến chấn la tai-sinh-minh (trăng lưỡi liềm mùng 3 mới ló sáng). Biến đoài là trăng thượng-huyền (mùng 8), mà ta đă gặp nơi H́nh 2.10 Nguyệt-Quang Doanh-Khuy-Đồ cuả bài kỳ 5; biến Kiền là trăng nửa đêm rằm; biến tốn là trăng 18 lúc chập tối (nhám chấu); biến cấn là trăng hạ-huyền (hăm ba); biến khôn là ba-muơi không trăng (hối). Thế mới biết:

Bóng trăng tṛn khuyết dài dài,
Lục long: cấn, tốn, kiền, đoài, chấn, khôn.


Nguyệt-Quang Doanh-Khuy-Đồ
 

Nguyệt-Quang-Doanh-Khuy-Đồ 月光盈虧圖này của Ngụy Bá Dương 魏伯陽đời Đông-Hán, trích từ Tham-đồng-khế Chân-chỉ 參同契真指 (2AE, tr. 29). Đồ này chia thành 6 góc sáu (sextant) ứng với 6 kỳ-gian 5 ngày của mặt trăng tṛn-khuyết theo chiều lượng-giác: kỳ-gian I (00-600), kỳ-gian II (600-1200), kỳ-gian III (1200-1800), kỳ-gian IV (1800-2400), kỳ-gian V (2400-3000), kỳ-gian VI (3000-3600) và 5 ṿng kể từ trong ra ngoài: 1. ảnh-tượng (icons) kỳ-gian; 2. Quẻ đơn tiêu-biểu của mỗi goóc sáu (cấn -, tốn ), kiền !, đoài #, chấn ', khôn /); 3. Kỳ-gian 5 ngày (mồng ba, mồng tám, rằm, mười tám, hăm ba, ba mươi); 4. Đặc-tính tương-ứng (Dương để tam-lập 3 ngày mà chấn-động, Âm để bát-thông 8 ngày mà đoài-hành, ba lần năm mười lăm đức-tựu kiền-thể mới thành, cấn chủ tiến-ngừng để điển-thủ huyền-kỳ, 6 x 5 = 30 khôn thừa thế đúc-kết chung-thuỷ); 5. Hào-từ sáu hào quẻ Kiền A:

  • Sơ-cửu: Tiềm long vật dụng (Rồng lặn chớ dùng);
  • Cửu-nhị: Hiện long tại điền (Rồng hiện nơi ruộng);
  • Cửu-tam: Quân-tử chung nhật kiền-kiền (Quân-tử suốt ngày săng-sắc);
  • Cửu-tứ: Hoặc dược tại uyên (Hoặc nhẩy nơi vực);
  • Cửu-ngũ: Phi long tại thiên (Rồng bay trên trời);
  • Thượng-cửu: Kháng long hữu hối (Rồng bay lên cao quá, thiếu dưỡng-khí nên hối-hận).

Ly là mặt trời. Biến chấn là mặt trời mới mọc; biến kiền là mặt trời khi đứng bóng (chính-ngọ); biến tốn là măt trời lúc mới xế tà; biến cấn là mặt trời vừa khuất núi. Biến khôn là đă khuất dưới mặt đất từ lâu rồi.

Ly biến khôn = là mặt trời đă lặn dưới chân trời, là tượng đă về hưu, hoặc tượng bị thương.

Tốn gặp kiền biến đoài là tượng cây hoa bị ngựa phá gẫy.

Ly biến khảm = khảm thường lại theo vật, nên có tượng mặt trăng che mặt trời (nhật-thực). Quách Cảnh Thuần nói: biến khảm thêm ly là quyết tượng bất túc (nghẹt hơi làm choáng váng), ắt là có tượng khi-tệ.

Khảm biến ly = là trăng đi, mặt trời lại.

Ly là giáp-trụ, là tượng dùng binh lính. mà biến khảm là như ngộ hiểm trước mặt, lại là chẳng xuất-quân.

Khôn biến kiền là tượng từ mặt đất bay lên trời.

Cấn biến khôn là tượng bỏ nơi cao xà xuống chỗ thấp, dời ghập ghềnh đến chỗ đất bằng phẳng.

Khảm biến tốn là gió thổi lên mặt nước, có tượng sóng gió.

Khảm biến đoài là nước kiệt, tai điếc, là bầy tôi bịt tai lại không buồn nghe lời chủ nói.

Khôn biến khảm là đất bằng khai thông.

Đoài biến cấn: đoài là miệng-lưỡi, giảng hoà mà lại đ́nh-chỉ, là tượng muốn hoà mà không hoà được.

Kiềm biến ly là vật-dụng tṛn tṛn ở bên cạnh bếp, ḷ.

Khảm biến kiền là mây theo rồng. [Văn-ngôn quẻ Kiền: Vân tùng long, phong tùng hổ, thánh-nhân tác nhi vạn-vật đổ. = Mây theo rồng, gió theo hổ, thánh-nhân làm ra, muôn vật ngó vào.]

Tốn biến cấn là gió theo hổ.

Chấn biến ly: ly là mũi tên mà hoả lại đốt chấn mộc, có tượng giăng cung bắn lại.

Ly biến kiền: tại cung kiền là cùng trở lại, tại người cha là trở về giống ḍng (quy- tông).

Chấn biến cấn là tượng cây trở về núi (chở củi về rừng).

Khảm biến chấn, đoài biến chấn là cây trong chằm nước, như gặp khảm, ly đồng-vị là bởi v́ cây nó là tượng đun thuốc thang.

Khảm biến cấn là quản-ngục nghỉ việc, khó có thể thăng chức.

Cấn biến tốn là ở chỗ cuả ḿnh, mà gió tự truyền đi, mà lệnh tự phái đi.
 

Ngũ-Hành-Tượng五行象

kiền kim        cương

khôn thổ        nhu    

cấn thổ         dương

đoài kim       âm       đoài là khảm, tinh-hoa cuả trăng, thiên-trạch

                                        minh-thủy, chân-thủy cuả thái-âm. 

chấn mộc cương   chấn được hào sơ cuả kiền dương, hoả cuả long-

                                    lôi (rồng-sấm-sét), chân-hoả cuả thái-dương.

tốn mộc        nhu

khảm thủy     dương

ly hoả           âm

Thủy, hoả, mộc, kim, thổ, phân âm, phân dương, có cương, nhu, có phối-ngẫu, cộng chung thành 10 tượng. Xưa xưng là bát-quá; thổ, kim mộc đều có cặp, duy thủy, hoả chỉ có một. Kỳ thực chưa biết chấn, đoài đều là dụng cuả thủy, hoả. Chấn, đoài là cửa ngơ ra vào cuả âm-dương. Là đường đi lối về cuả hai vầng nhật nguyệt; không cứ chỉ là nguồn sinh-hoá cuả ngũ-hành. Nếu ta tham-duyệt Hoàng-đế Nội-kinh, ắt âm dương thăng giáng, dụng cuả ngũ-hành sinh sinh hoá hoá lại càng thấy rơ ràng minh bạch hơn nhiều. 

Ư-Tượng意象
 

Ư-tượng xuất-phát từ học-giả nước Nhật-bản. Cái gọi là ư-tượng, chính như là chấn là thuyền, tốn là cái kéo, ly là cái gương soi, cấn là cái đ́nh, chỉ là tượng-h́nh, chứ chẳng có ǵ sâu-sắc cả.


Ảnh-Tượng
影象

Ảnh-tượng cũng xuất-phát từ học-giả Nhật-bản. Vốn gốc ở quái-ảnh cuả Trung-hoa. Thuật quái-ảnh có từ đời Tấn (265-420), đời Đường (618-907), mà thịnh-hành ở đời Nam-Tống (1127-1279). Nghiêm Linh-B́nh cũng có bàn nhiều về thuật này, nhưng nay đă thất-truyền. Nhưng cái người Nhật gọi là ảnh-tượng cũng na ná như cái người Tầu gọi là phục-tượng 伏象 (1’s complement). Duy không hạn-định ở quẻ chấn phục tốn, cấn phục đoài; đại-lược cũng giống như ư-tượng. Xin tham-khảo Dịch-học Tạp-chí cuả Đông-kinh Dịch-học Thảo-luận-hội, số ra mắt năm Đinh-tỵ (1917). Kinh-tịch Trung-quốc bắt đầu từ đời Đường, truyền sang Nhật-bản khá nhiều, nên chi người Nhật thường đề cao Chu-Dịch Tập-giải cuả Lư Đỉnh-Tộ. Phép bói cuả họ cũng dựa vào phép bói cỏ thi cuả Trung-hoa.


Ky-Tượng

Ky có nghiă là đơn lẻ. Ky-tượng là tượng duy-nhất chỉ thấy ở nơi một quẻ hay nơi một hào nào đó mà thôi, tuyệt nhiên không thấy ở một nơi nào khác. Tỷ như "chim hạc" trong quẻ Trung-phu" (Hào-từ cửu-nhị: Minh hạc tại âm = Chim hạc kêu trong bóng mát.), "con hươu" trong quẻ Truân" (Hào-từ lục-tam: Tức lộc vô ngu = Đi săn con hươu mà không có người dẫn đường.), "con chim cắt" trong quẻ Giải (Hào-từ thượng-lục: Công dụng xạ chuẩn vu cao-dung chi thượng = Ông dùng bắn con chim cắt ở trên tường cao.), "con báo" trong quẻ Cách (Hào-từ thượng-lục: Quân-tử báo biến = Người quân-tử biến-hoá như con báo.), "con hổ" trong quẻ Lư (Hào-từ cửu-tứ: Lư hổ vỹ = Xéo lên đuôi cọp.) v.v. Hoặc như: hoàn-lục (sơn-dương sừng nhỏ,hào cửu-lục quẻ Quyết), phất (cái màn xe, hào-từ lục-nhị quẻ Kư-tế: Phụ táng kỳ phất = người đàn bà mất cái màn xe), nê (cái neo, cái chặn xe, hào tử sơ-cửu quẻ Cấu: Hệ vu kim nê = Ngăn lại bằng cái chặn xe), cưu (nét mặt, hào từ cửu-tam quẻ Quyết: Tráng vu cưu = Mạnh ở nét mặt) v.v. mai-cử không xuể, đều gọi là ky-tượng. Thánh-nhân làm ra Kinh Dịch, thấy lời không thể lột hết ư được nên mới đặt ra tượng để tận ư, chính v́ lời không thể chia hai ngả mà tượng lại có thể thông-biến được. Duy thông-biến sao cho xác đáng để đừng phụ công thánh-nhân lập tượng là tươm tất rồi. Cho nên có thể so-sánh, suy-loại, người chuộng Dịch phân-biệt phải trái. Huống hồ ky-tượng chỉ thấy mỗi một lần, không có túc-trưng, nên tinh-thẩm xác đáng không dễ dầu ǵ.


Nội-Tượng
內象, Ngoại-Tượng外象

Nội-tượng và ngoại-tượng đều xuất-phát từ Thiệu Khang-tiết. Ngài nói: "Do ở thiên nhiên, không được phép đổi. Nội-tượng là nội-số. Ngoài ra đều là ngoại-tượng cả. Ngoại-tượng tức ngoại-số." Lại nói : "Dịch có nội-tượng, đó là lư-số. Có ngoại-tượng chỉ định cái bất biến cuả một vật." Sách Hoàng-Cực Kinh Thế Thư Số (Đón coi CHƯƠNG 13: HOÀNG-CỰC KINH THẾ) có dành 12 Thiên cho Quan Vật Nội Thiên và 10 Thiên cho  Quan Vật Ngoại Thiên.


Lưỡng-Tượng Dịch
兩象易

Dịch là canh cải. Ta biết rằng một quẻ gồm có thượng-thể và hạ-thể, nên có lưỡng-tượng, lưỡng-tượng-dịch là lưỡng-tượng trao đổi nhau. Thuyết này xuất phát từ Ngu-Phiên.

Hạ-Hệ II/11 nói: "Thượng-cổ huyệt cư nhi dă xử, hậu thế thánh-nhân dịch chi dĩ cung thất, thượng đống hạ vũ, dĩ đăi phong vũ, cái thủ chư Đại-tráng = Người đời thượng-cổ ở trong hang đất giữa đồng nội, đời sau đấng thánh-nhân đổi chỗ ở thành cung thất, trên có rui nóc nhà, dưới có mái để pḥng bị lúc gió mưa, là lấy tượng ở quẻ Đại-tráng". Tập-giải dẫn Ngu-Phiên nói: "Lưỡng-tượng quẻ Vô-vơng đổi chỗ, Vô-vơng Kiền ở trên nên nói đời thượng-cổ. Cấn là ở lỗ, Kiền là đồng nội, tốn là nơi ăn chốn ở. Người kiền thời Vô-vơng đang trên đà phát-triển, nên nói: ở trong hang đất giữa đồng nội. Chấn là hậu-thế, kiền là thánh-nhân. Hậu-thế thánh-nhân ám chỉ Hoàng-đế. Cấn là cung-thất nên mới bảo: đổi chỗ ở thành cung thất …"

Xét rằng: "Quẻ Đại-tráng b, dưới kiền trên chấn, quẻ Vô-vơng Y, dưới chấn trên kiền, nên lưỡng-tượng quẻ Vô-vơng đổi chỗ thành quẻ Đại-tráng b. Vô-vơng nhị đến tứ  hỗ-thể cấn, sau khi đổi thành Đại-tráng, ắt kiền! cuả Đại-tráng ở bên dưới cấn- cuả Vô-vơng nên bảo rằng: người kiền vào cung."

Tương-tự, Hạ-Hệ II/12 nói: "Hậu-thế thánh-nhân dịch chi dĩ quan quách, cái thủ chư Đại-quá. = Đời sau đấng thánh-nhân thay đổi bằng cỗ áo quan và quách, là lấy tượng ở quẻ Đại-quá." Tập-giải dẫn Ngu-Phiên bảo rằng: "Trung-phu thượng hạ-quái đổi chỗ vậy thôi. … … Tốn là cây, là nhập chỗ; đoài là miệng, kiền là người. Cây mà có lỗ hẳn là quan-tài, người kiền chui vào nên có tượng tẩm liệm. Trung-phu }, thượng-hỗ cấn-, là g̣ trên núi, thượng-quái tốn) ở tại chỗ, cỗ áo quan chôn nơi g̣ trên núi, có tượng áo quan, nên nói lấy tượng nơi quẻ Đại-quá."

Xét rằng: "Quẻ Đại-quá \ dưới tốn trên đoài, Trung-phu } dưới đoài# trên tốn ), nên trong quẻ Trung-phu hai tượng đổi chỗ ắt thành quẻ Đại-quá. Trong quẻ này, hào nhị đến hào tứ hỗ kiền!, tốn mộc đang nằm trong miệng đoài#, nên nói người kiền chui tọt (vô săng !), nên có tượng quan-liễm (liệm vô ḥm). Trung-phu từ hào tam đến hào ngũ hỗ-thể Cấn -; trong quẻ Đại-quá, tốn đương ở bên dưới cấn, nên nói là ḥm chôn dưới g̣ núi, nên có tượng ḥm quách."

Tương-tự, Hạ-Hệ II/13 nói: "Thượng-cổ kết thằng nhi trị, hậu-thế thánh-nhân dịch chi dĩ thư-khế ; bách quan dĩ trị, vạn dân dĩ sát, cái thủ chư Quyết = Đời thượng-cổ thắt nút dây mà cai-trị, đời sau đấng thánh-nhân thay đổi việc ấy bằng thư-khế (công-văn) ; trăm quan lấy đó mà cai-trị, muôn dân dùng đó để xét, là lấy tượng từ quẻ Quyết." Tập-giải dẫn Ngu-Phiên nói: "Trong quẻ Lư J trên dưới đổi tượng. Tượng kiền! ở trên, nên lại nói : đời thượng-cổ. Tốn) là dây, ly% là mắt lưới, kiền! là trị, nên nói : thắt nút dây mà cai-trị. … … … Quyếtk bàng-thông (1’s complement) Bác W, Bác, khôn là văn-thư, đoài là khế, nên nói là : thay đổi việc ấy bằng thư-khế. … … Ba tác-dộng ‘thay đổi bằng’ cuả ba quẻ Đại-quá, Đại-tráng và Quyết, trực-tiếp suy từ lưỡng-tượng đổi chỗ, nên đều nói là ‘thay đổi bằng’."

Xét rằng: "Quẻ Quyếtk dưới kiền! trên đoài#, Lư J dưới đoài# trên kiền!, nên chi Lư chính là Lư trong đó lưỡng-tượng đổi chỗ. Lư hào nhị đến hào tứ hỗ ly%, nên nói ly là mắt lưới. Bác  W dưới khôn/ trên cấn-, bàng-thông với Quyếtk, nên nói là Bác, khôn là văn-thư.

Dịch-lệ cuả họ Ngu dùng lưỡng-tượng-dịch, phàm ba phát-kiến không có ǵ là xác  đáng cả. Mười hai "lấy từ tượng" cuả Hệ-truyện, hoặc dùng danh-nghiă cuả quẻ, hoặc dùng tượng cuả quẻ mà bàn. Quẻ Đại-tráng bảo vỹ-tráng cuả "trên có rui nóc nhà, dưới có mái để pḥng bị lúc gió mưa", ắt dùng tượng mà nói ; quẻ Quyết bảo minh-quyết cuả "trăm quan lấy đó mà cai-trị, muôn dân dùng đó để xét", đều là dùng danh-nghiă quẻ mà giảng-giải. Đại-quá trên đoài chằm, dưới tốn mộc, cây ở dưới chằm, như thể ḥm quách, ắt dùng tượng mà giảng-giải. Thuyết "lấy tượng nơi" vốn dĩ gượng gạo, nên không ăn chung ǵ đến lưỡng-tượng-dịch, điều đó khảo-sát nơi truyện-văn lại thấy không phù-hợp tư nào. Các biến-quái-lệ cuả họ Ngu, Đại-tráng cùng Quyết, đều thuộc tiêu-tức-quái. Quẻ Đại-tráng th́ chú rằng: "Dương sinh ra Thái vậy". Quẻ Quyết th́ chú rằng: "Dương quyết khử âm, là tiêu-tức-quái vậy". Mười hai tiêu-tức-quái đều xuất-xứ từ hai quẻ Kiền, Khôn, tức thị Đại-tráng b không suy-diễn từ Vô-vơngY. Quyếtk không suy-diễn từ LưJ. Nơi quẻ Đại-quá\ chú rằng: "Đại-trángb hào ngũ dời chỗ đến hào sơ, hoặc nói hào tam dời chỗ đến hào ngũ". Xét sách Chu Dịch Ngu-thị Lược-lệ 周易虞氏略例cuả Lư Nhuệ 李銳thấy nói: "Chữ thuyết khả nghi nên xin đổi thành chữ tụng". Có nghiă là Đại-quá\ không xuất-phát từ Đại-trángb mà xuất-phát từ TụngF nên không thể bắt nguồn từ Trung-phu} được. Vậy nên, thuyết lưỡng-tượng-dịch cuả họ Ngu mâu-thuẫn với dịch-thuyết cuả chính ḿnh. Lại c̣n không phù-hợp với Dịch-truyện nữa, th́ người khảo Dịch c̣n tin-tưởng vào dịch-lệ ấy được sao ?

 

 

  

 

 

    Xem tiếp Kỳ 66

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com