www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 06

 

DỊCH NỘI-TRÚC

 

   

 

 

 

(Tiếp theo Kỳ 62)

 

UYÊN NGUYÊN HỖ-QUÁI
 

 Mỗi quẻ kép gồm hai quẻ đơn: thượng-quái c̣n gọi là ngoại-quái và hạ-quái c̣n gọi là nội-quái. Về mặt điều-hành chúng được gọi là thượng-thể và hạ-thể. Dưới mỗi quẻ đơn  bao giờ cũng tiềm tàng quẻ thác liên-hợp gọi là quẻ phục. Vd: Quẻ Hàm _, thượng-quái là đoài #(phục cấn-), hạ-quái là cấn- (phục đoài#).

Trước khi nhập đề chúng ta cần đinh ninh trong đầu các điều sau đây:

  • Khổng-tử chỉ nói đến âm dương cho hai quẻ Kiền, Khôn v́ hai quẻ này thuần dương hoặc thuần âm, và hai quẻ Thái, Bĩ v́ thượng-hạ-quái cuả hai quẻ này thuần dương hoặc thuần âm; các quẻ khác Ngài chỉ nói đến cương nhu.
  • Trong hào-từ hữu là đằng trước, tả là đằng sau; hữu là dương, tả là âm. Xem các thí dụ 3., 22. và 38. bên dưới.
  • Nhị đến tứ là hỗ-thể, tam đến ngũ là ước-tượng; nội-quái là trinh; ngoại-quái là hối.

Hỗ-thể là một phép tối-cổ đă có từ trước thời Khổng-tử tán Dịch. Tả-truyện, Trang-công năm thứ 22 (671 BC) chép: "Lúc nhỏ Chu-sử tới thăm Trần-hầu. Trần-hầu sai bói dịch. Được quẻ Quan T biến thành quẻ Bĩ L. Chu-sử nói: câu trong Dịch là 'Xem việc sáng suả trong nước, lợi dụng về việc khách gần vua'. Quẻ này có nghiă là thay Trần cho nước yên, là đi ở nước khác. Không phải tự bản thân, mà là tự con cháu. Khôn/ là tượng đất. Tốn- là tượng gió. Kiền !là tượng trời. Gió, trời ở trên đất, tức là núi. Có núi th́ có sản vật ở núi, mà soi xuống được là nhờ sáng trời. Thế th́ ở trên đất, cho nên 'coi ánh sáng nước lợi v́ vị khách gần vua'. Cung phụng bằng ngọc luạ đó là vật đẹp quư cuả thiên hạ, cho nên bảo là lợi về khách gần vua. Thế là nhờ về con cháu. Gió thổi trên đất cho nên bảo là ở nước khác. Nếu ở nước khác, tất là họ Khương. Khương là ḍng dơi Đại-Nhạc. Nhạc là núi. Núi phối với trời. Vật không thể cả hai cùng lớn mạnh. Trần mà suy th́ họ Kính-trọng mới mạnh. Đến khi Trần suy, Trần Kính-Trọng mới bắt đầu hay. Đến khi Trần mất, th́ ḍng Kính-Trọng được cầm quyền chính." (5AT/Quyển Thượng, tr. 391-392; 1H/II , tr. 1775abc). Xin xem thêm dịch-lệ 4. bên dưới. 

Chú-thích: Ở đây nguyên-quái phong-điạ Quan T biến ra thành-quái thiên-điạ Bĩ L, động hào tứ, nên phải xét hào từ lục-tứ nguyên-quái. Hào-từ lục-tứ quẻ Quan nói rằng: Quan quốc chi quang lợi-dụng tân vu vương. 觀國之觀利用賓于王。Xem việc sáng suả trong nước, lợi-dụng việc triều-cận nhà vua. 

Trong sách Chu Dịch Hỗ Thể Trưng (5AR), Du Việt xét hào-tượng thấy rằng trong Kinh Dịch hỗ-thể phân minh có thể tin tưởng được nên mới nêu ra 45 dịch-lệ sau đây (trong đó tôi có góp phần xây dựng sáu dịch-lệ, đồng thời cũng tán rộng bàn thêm các dịch-lệ cuả Du Việt): 

  1. Truân Clục-nhị: Nữ-tử trinh bất tự, thập niên năi tự (Con gái trinh chính không có mang, mười năm mới có mang).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ khôn / (khôn đạo thành nữ, Hệ-thượng I/4) cho nên xưng là nữ-tử, vả lại khôn ở hào sơ biến thành chấn là có mang (khi bắt mạch thái-tố, ta biết được lúc nào người đàn bà có mang). Ngày nay, tại Hà-bắc bên Tầu, nguời ta vẫn c̣n gọi ḅ cái là tự-ngưu 字牛 . Khôn tiên-thiên là số 108, nên nói là 10 năm. Huống hồ, hỗ-quái từ hào 2 đến hào 5, hai năm rơ mười.

  1. MôngD lục-tam: Vật dụng thú nữ, kiến kim phu, bất hữu cung (Đừng thu dùng người con gái ấy, nó thấy ai có vàng bạc th́ nhắm mắt không ngó ngàng ǵ đến thân h́nh ḿnh nữa).

Từ hào tam đến hào ngũ hỗ khôn / (khôn đạo thành nữ, Hệ-thượng I/4) cho nên nói là "thú nữ". C̣n nói đến "kim phu" là v́ từ hào 2 đến hào 4 hỗ chấn', chấn là chồng, theo thuyết cuả Ngu-Phiên. Nhưng họ Ngu cũng nói hào sơ và hào nhị phát thành quẻ đoài nên xưng là nữ, tất e rằng không phải như vậy. Ngu-Phiên lại nói: khôn là thân ḿnh, xưng cung là khôn tượng, mà nữ cũng là khôn tượng rơ ràng như thế, hà tất phải cầu viện đoài.

 3. Sư G lục-tứ: Sư tá thứ, vô cữu (Quân lùi đóng, không lỗi).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ chấn ', chấn là quẻ phương đông nên nói rằng: Quân lùi đóng, không lỗi. Cổ-nhân chuộng tay phải. Lùi đóng bên trái là rút quân rồi. Hào tứ đụng độ trùng-âm, tức là gặp địch. Tới lui khó khăn. Thấy khó bèn lùi, cho nên không lỗi.

4. Tiểu-súcI cửu-tam: Dư thoát phúc, phu thê phản mục (Xe sút nhíp, vợ chồng trở mặt).Từ hào 3 đến hào 5 hỗ ly %, ly là con mắt nên có tượng mắt.

Chu Dịch Chính nghiă cuả Khổng Dĩnh Đạt chép là phúc (tay hoa xe). Mă Dung chỉnh lại là phúc (nhíp xe = xa hạ phúc). Trịnh Huyền huấn-hỗ là phục-dật. Nay theo hai họ Mă, Trịnh. Khôn phục kiền! là xe. Phục chấn 'là nhíp xe. Xe nhờ có nhíp mới chạy êm. Nhưng mà xe ở trong mà nhíp ở ngoài, ắt xe sút nhíp. Kiền là chồng, khôn là vợ. Tốn được sơ-hào cuà khôn cũng là vợ. Tốn là mắt trắng dă. Quẻ Tiểu-súc, từ hào 2 đến hào thượng là chính phản tốn)#: mắt thường và mắt trợn trắng tương-phản. Đó là trở mặt. Hào 3 và hào thượng không có ứng và bên dưới toàn hào dương nên mới có tượng là như thế. Phục-tượng tuyệt vời này cuả chấn thất truyền.

Tả-truyện, Hy-công năm thứ 15 (644 BC) chép: "Xưa Tấn Hiến-Công cho bói việc gả Bá-Cơ sang Tần gặp quẻ Khuê chi quẻ Quy-muội (f v). Sử-Tô bói rồi nói là quẻ chẳng lành. Lời dao (Thoán) cuả Dịch có nói: kẻ sĩ mổ dê không được huyết; con gái bưng dỏ không được lợi (Quy-muội thượng-lục: Nữ thừa khuông vô thực, sĩ khuê dương vô huyết, vô du lợi = Như con gái bưng cái giỏ không, như anh học trỏ cắt cổ dê không có tiết, không có lợi gi cả). Xóm bên tây trách không thể đền được (Kư-tế cửu-ngũ: Đông lân sát ngưu bất như tây lân chi dược tế, thực thụ kỳ phúc = Hàng xóm bên đông giết trâu chẳng bằng hàng xóm bên tây tế mọn, thực chiụ được phúc). Khuê cuả Quy-muội ư nói là không được giúp. Ly cuả chấn, cũng như chấn cuả ly làm sấm, làm lửa, làm cho họ Doanh đánh bại được họ Cơ. Xe đă sút mất nhíp, lửa đă đốt cháy cờ, bất lợi về việc hành quân, thua ở Tông-Khưu. Quy-muội, Khuê, cô độc, cung nỏ giặc đă giương lên (Đây là hào-từ thượng-cửu quẻ Khuê). Cháu theo cô, sáu năm ẩn nấp. Trốn lẩn về nước, bỏ cả vợ con, năm sau chết ở g̣ Cao-lương. Đến khi Huệ-Công ở Tần có nói: Tiên-quân ví thử nghe lời đoán cuả Sử-Tô, th́ ta không đến nỗi thế này. Hàn-Giản thưa: Bói ruà chỉ là tượng, bói dịch chỉ là lư-số. Vật sinh ra rồi mới có tượng, có tượng rồi mới có nuôi. Có nuôi rồi mới có số. Tiên-quân mà bại đức th́ có kể đến số được không? Lời đoán cuả Sử-Tô nghe làm ǵ vô ích. Kinh Thi có nói: Cái mầm ác cuả dân, không phải tự trời sinh. Gây sự hỗn-loạn, thù ghét, là do người." (5AT/Quyển Thượng, tr. 594; 1H/II, tr. 1807abc).

5. Tiểu-súcI lục-tứ: Hữu phu, huyết khử, dịch xuất, vô cữu (Có niềm tin, khỏi đau thương, trút lo sợ, không lỗi).

     Tứ là hào-chủ (Xin xem  bên dưới) nên 5 hào dương đều tin tưởng vào hào tứ âm, nên nói: có niềm tin. Thích-văn bảo nên đổi chữ huyết thành chữ tuất . Nói là lo-sợ. Biên-giả cực-lực phản đối ư-kiến sai lạc này. Từ hào 3 đến hào 5 hỗ ly%, phục khảm+ là máu, là e sợ. V́ phục khảm nên không thấy máu mà vẫn lo sợ. Tứ đáng-vị mà lại có ứng, bên trên lại có trùng-dương (hào ngũ và hào thượng), nên không lỗi.

6. LưJ lục-tam: Diểu năng thị, bí năng lư (Chột c̣n thấy được, khập khiễng c̣n đi được).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ ly%, từ hào 3 đến hào 5 hỗ tốn). Ly là mắt nên thấy được; tốn là bắp vế nên đi được. Hạ-quái đoài# là hủy gẫy nên vừa chột vừa què.

7. TháiK cửu-nhị: Dụng bằng hà (Dùng cách quả quyết lội sông).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ đoài#, đoài là chằm. Tù hào 3 đến hào 5 hỗ chấn', chấn là chân. Chấn chân mà gặp đoài chằm ở trên, nên có tượng lội sông.

8. Thái lục-ngũ: Đế Ất Quy-muội (Đế Ất đưa em gái về nhà chồng).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ chấn', đế ra nơi quẻ chấn (Thuyết-quái-truyện V/1). Từ hào 2 đến hào 4 hỗ đoài#, đoài là thiếu-nữ nên nói là em gái. Hào-từ lục-ngũ quẻ Quy-muội cũng giống hệt. Hơn nữa quẻ Thái từ hào 2 đến hào 5 trên chấn' (lôi) dưới đoài# (trạch) tức là lôi-trạch Quy-muộiv. Xem thấy vậy mà chẳng tin hỗ-thể th́ không đáng nghe bàn Dịch.

9. Bĩ L cửu-tứ: Hữu mệnh, vô cữu (Có mệnh trời th́ không lỗi).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ tốn), trọng tốn để thân mệnh, nên nói có mệnh trời.

10. Đồng-nhân M cửu-tam: Phục nhung vu măng thăng kỳ cao lăng (Cho quân nấp nơi rừng rậm, lên dốc nơi đồi cao).

Đồng-nhân hạ-thể ly%, ly là đánh giặc. Ly% núp ở bên dưới nơi rừng rậm, Cho nên nói: Cho quân nấp nơi rừng rậm, trèo lên dốc nơi đồi cao

11. Khiêm O cửu-tam: Lao Khiêm quân-tử hữu chung (Khó nhọc mà hay nhún nhường, người quân-tử có điều trọn vẹn).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ khảm+, khảm là quẻ khó nhọc, nên nói là: Khó nhọc mà hay nhún nhường (quẻ Khiêm). Cấn -là quân-tử, là thành chung (trọn vẹn), nên nói là: người quân-tử có điều trọn vẹn.

12. Dự P lục-nhị: Giới vu thạch (Vững như đá).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ cấn-, cấn là tảng đá nhỏ, nên nói là vững như đá.

13. Dự P lục-ngũ: Trinh tật Hằng bất tử (Chính mà đau ốm, giữ đạo thường, chẳng chết).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ khảm+, khảm là tâm-bệnh, là đau tai. Nên tượng là có bệnh tật. Từ hào 2 đến hào 4 hỗ cấn-, cấn là ngừng. Bệnh tật ngừng là không chết.

14. Tùy Q lục-nhị: Hệ tiểu tử, thất trượng-phu (Quấn quít kẻ tiểu tử th́ mất đấng trượng-phu).

Tuỳ hạ-thể chấn', chấn là trưởng-nam nên xưng là trượng-phu. Từ hào 2 đến hào 4 hỗ cấn-, cấn là thiếu-nam, nên xưng là tiểu-tử. Trượng-phu và tiểu-tử cuả hào lục-tam cũng vậy, nhưng quấn quít và mất th́ có khác. Ắt phải xét kỹ hào-vị.

15. Quan T lục-nhị: Khuy Quan (Ḍm xem như con gái).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ cấn-, cấn là kẽ cửa, nên có tượng là ḍm qua kẽ cửa.

16. Phệ-hạp U thượng-cửu: Hạ hiệu diệt nhĩ (Vác lấy cái cùm, bị đứt tai).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ khảm+, khảm là tai. V́ hào thượng-cửu vượt lên trên cái tai cuả khảm, nên mới có tượng đứt tai.

17. Bí V lục-tứ: Bạch mă hàn như (Như ngưạ trắng có cánh vậy).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ chấn', chấn là ngựa, là trán trắng sáng, nên có tượng ngựa trắng. Đây là h́nh ảnh đới-tinh-mă cuả Kinh Thi.

18. Hàm _ cửu-tam: Hàm kỳ cổ (Cảm được bắp vế).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ tốn), tốn là dây thừng, dùng để trói buộc, nên có tượng trói dấu.

19. Đại-tráng b cửu-tam: Đê dương xúc phiên (Con dê cúi đầu xuống, húc vào dậu).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ đoài#, đoài là dê, nên có tượng dê cúi đầu xuống. Lục-ngũ và thượng-lục vẫn dùng tượng dê. Thượng-quái chấn ' tượng dậu. Bảo tam muốn vượt lên nhưng bị tứ ngăn cản: dê muốn húc đổ dậu nhưng không nổi, rút cục mắc sừng vào dậu. Tượng chấn là dậu lấy từ Dịch-lâm (5AP, 5AQ), Kiền chi Phong (A w): dậu ngăn cuả Chu Vệ; hoặc lấy từ Đồng-nhân chi Sư (M G): phên ngăn cuả Thang Vơ.

20. Đại-tráng b cửu-tứ: Phiên quyết bất luy (Rào bựt chẳng mắc).

Quyết tức phụ-quyết cũng nói là đoài#. Cửu-tam ở tại hào sơ cuả đoài, có một hào dương ở trên nên có tượng húc dậu. Bên trên cửu-tứ là một hào âm, nên bảo rào bựt chẳng mắc. Thượng-lục cũng nói: đê dương xúc phiên v́ chính-ứng với tam.

21. Tấn c cửu-tứ: Tấn như thạch thử (Tiến như con chuột đồng).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ cấn-, cấn là con chuột. Nên tượng là con chuột đồng.

22. Minh-di d lục-nhị: Dụng chửng mă tráng cát (Dùng ngựa mạnh để cứu, tốt lành).

Từ hào 2 đên hào 4 hỗ khảm, ở con ngựa nghiă là xương sống đẹp nên mới nói: Dùng ngựa mạnh để cứu, tốt lành.

23. Minh-di d lục-tứ: Nhập vu tả phúc (Vào bụng bên trái).

Minh-di thượng-thể khôn /, khôn là bụng nên có tượng bụng. Chấn là phương đông, là bên trái.

24. Khuê f lục-tam: Kiến dư duệ (Thấy xe kéo đến).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ khảm +, khảm ở đằng trước là xe, là kéo, tam ở đằng sau, nên có tượng thấy xe kéo đến.

25. Khuê f thượng-cửu: Kiến thỉ phụ đồ (Thấy con heo đội bùn).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ khảm+, khảm là con heo, thượng-thể ly% là con mắt để quan-sát, hạ-thể là đoài# là chằm đầy bùn, cho nên thượng cửu có tượng thấy con heo đội bùn.

26. Khuê f thượng-cửu: Tải quỷ nhất xa (Chở ma một xe).

Từ hào 3 đến hào 5 là khảm +, nên có tượng xe. Tại sao lại có ma ở đây? Ngu-Phiên cho là kiền là thần, khôn là ma quỷ, thuyết này chưa lọn nghiă. Nếu nói kiền là thần, khôn là quỷ th́ cũng có thể nói ly là thần mà khảm là quỷ. Khuê thượng-thể là ly%, từ hào 2 đến hào 4 cũng hỗ ly, mà hỗ-thể khảm chính đáng hơn. Cho nên nói: chở ma một xe (khảm hậu-thiên có trị-số 1),

27. Khuê f thượng-cửu: Tiên trương chi hồ (Lúc đầu giương cung).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ khảm+, khảm là cung, nên có tượng cung.

28. Tụy m sơ-lục: Nhược hào, nhất ác vi tiếu (Bằng kêu gào, một cầm th́ bị chúng cười).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ cấn-, cấn là tay, nên sơ-lục mới có tượng tay cầm.

29. Cách q cửu-tứ: Hữu phu cải mệnh cát (Có niềm tin, đổi được mệnh th́ tốt lành).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ tốn), trọng tốn để thân mệnh, nên nói có mệnh trời.

30. Chấn s lục-nhị: Tễ ư cửu lăng (Leo lên chín g̣ cao).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ cấn-, cấn là núi, nên có tượng g̣ cao.

31. Chấn s cửu-tứ: Chấn toại nệ (Sấm động bèn bị ch́m đắm).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ khảm+, khảm là nước, là bùn, bị vây hăm giữa bốn hào âm nên có tượng bùn.

32. Tiệm u sơ lục: Hồng Tiệm vu can (Chim hồng từ từ nhẩy bên bờ nước).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ khảm+, khảm là nước, nên nói là hào 2 tượng bờ nước.

33. Tiệm u lục-nhị: Hồng Tiệm vu bàn (Chim hồng từ từ nhẩy đến tảng đá lớn).  Bàn là tảng đá lớn. Hạ-thể cấn- là núi đá.

34. Tiệm u cửu-tam: Hồng Tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục (Chim hồng từ từ nhẩy trên đất cạn, chồng ṭng chinh không trở về, vợ có mang không nuôi được).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ ly%, ly là bụng bự, là tượng đàn bà có mang. Hào cửu-ngũ: vợ ba năm không có mang cũng lấy tượng có bầu cuả quẻ Ly. Cửu-tam ở hạ-quái, thể cấn-, cấn là ngừng nên không nuôi được. Cửu-ngũ ở ngoại-quái, thể tốn). Tốn là không kết thành quả, nên sinh con (đơm hoa), nhưng không kết-quả tức là không nuôi được.

35. Tiêm u luc-tứ: Hồng Tiệm vu mộc (Chim hồng từ từ nhẩy trên cây).

Cửu-ngũ ở ngoại-quái, thể tốn), tốn hành mộc là cây nên mới nói chim hồng nhẩy trên cây.

36. Tiệm u cửu-ngũ: Hồng Tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dựng (Chim hồng từ từ nhẩy nơi g̣ cao, vợ ba năm không có mang).

Tốn)là cao, ngũ ứng tại nhị. Nhị thể Tốn, ngũ ở trên Cấn-, nên mới nói chim hồng nhẩy nơi g̣ cao. Chấn tượng có mang, hiềm v́ phục nơi hạ-quái, mà hạ-quái lại tệ lậu nên không thể có mang được. Huống hồ, hào nhị chính ứng tại ngũ nhưng bị hào tam, hào tứ ngăn cách, nên không làm ǵ được.

37. Tiệm u thượng-cửu: Hồng Tiệm vu quỳ (Chim hồng từ từ bay trên đường mây).

Chữ quỳ bộ phụ ở đây phải thay bằng chữ quỳ quai xước, có nghiă là đường mây rộng. Hào thượng-cửu cũng giống t́nh-cảnh hào cửu-tam ở bên trên.

38. Quy-muội v cửu nhị: Diểu năng thị (Chột mắt mà c̣n nom thấy được).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ Ly%. Ly là con mắt. Nên nh́n thấy được. Hạ-thể là đoài#, đoài là huỷ hoại, mắt bị huỷ hoại là mắt chột. Giống như hào lục-tam quẻ Lư (Xem dịch-lệ 3.).

Hào lục-tam quẻ LưJ: Diểu năng thị, bí năng lư (Chột c̣n thấy được, khập khiễng c̣n đi được), văn liền như thế ắt "khập khiễng c̣n đi được" ở tại hào sơ-cửu, c̣n "Chột c̣n thấy được" ở tại hào cửu-nhị. Trên thực-tế, thủ tượng giống nhau, duy hào lục-tam quẻ Lư "khập khiễng c̣n đi được", lấy hỗ-thể tốn, nói như thế ắt lấy thượng-thể chấn mà bảo trên chấn dưới đoài, chấn là chân què quặt nên khập khiễng không dính dáng ǵ đến hỗ-thể nên không thể nào phụ-hội vào đây.

39. Phong w cửu-tam: Chiết kỳ hữu quăng (Gẫy cánh tay phải).

Chu Dịch Thích-văn cuả Lục Đức Minh chép là "quăng", Diêu Tín sửa thành cổ là bắp đùi, hợp-lư hơn. Từ hào 2 đến hào 4 hỗ tốn), tốn là bắp vế. Từ hào 3 đến hào 5 hỗ đoài#, đoài là hủy-hoại, là gẫy, nên bảo rằng gẫy bắp đùi. Đoài là quẻ phương tấy ở về bên phải nên nói bắp đùi phải,

40. Tốn y cửu-nhị: Dụng sử vu phần nhược (Dùng thầy bói, thầy cúng riú rít vậy).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ đoài#, đoài là thầy bói, thầy cúng, nên có tượng thầy bói, thầy cúng.

41. Hoán { lục-tứ: Hoán vu khâu (Tan lià mà có đại chúng họp lại ngổn ngang như g̣ đống).

Từ hào 3 đến hào 5 hỗ cấn -, cấn là núi, nên có tượng g̣. Hai quẻ sơn-hoả Bí và sơn-lôi Di cũng đều có tượng g̣, v́ thượng-thể hai quẻ đều là cấn. Ở đây hỗ cấn, danh chính ngôn thuận.

42. Tiết | sơ-cửu: Bất xuất hộ đ́nh, vô cữu (Không ra khỏi sân ngơ, không lỗi).

Từ hào 3 đến hào 4 hỗ cấn -, cấn là môn-khuyết (cổng gác), nên sơ-cửu nói là: không ra khỏi sân ngơ.

43.  Tiết |Cửu-nhị: Bất xuất hộ đ́nh, hung (Không ra khỏi sân ngơ, là xấu).

Cửu-nhị nói là: không ra khỏi cái sân ở trong cổng cũng lấy tượng cấn. Hai hào sơ và nhị đều chưa vượt khỏi cấn thể nên đều nói "chưa ra khỏi". Nhưng hào sơ nói "chưa ra khỏi" c̣n được. C̣n hào nói "chưa ra khỏi" lại bảo: xấu. Đó là tại hào-vi hai hào khác nhau.

44. Trung-phu } cửu-nhị: Minh hạc tại âm, kỳ tử hoạ chi (Chim hạc kêu trong bóng mát, con nó hoạ theo).

Từ hào 2 đến hào 4 hỗ chấn', chấn là chim hạc, là kêu, là con trống. Âm là sơn-âm, là bóng mát cuả núi. Từ nhị đến ngũ chính phản chấn'-, Chấn dưới là hạc, kêu nơi bóng mát cuả núi. Từ tam đến ngũ chấn phản cấn-, như hồi âm, như hoà nhau, hoạ nhau. Nên bảo : con nó hoạ theo. Con nó là chấn úp -(cấn) không phải là hỗ chấn. Rơ ràng là hai vật tách biệt. Dịch-Lâm (5AP, 5AQ) Đại-hữu chi Lâm (N   S) nói: đối thoại, đối đáp. Truân  hào sơ đến hào ngũ cũng là chính phản chấn '-đối nhau cũng giống hệt t́nh trạng quẻ Trung-phu là chính phản tốn đối lũy)#.

45. Tiểu-quá ~ lục-ngũ: Mật vân bất vũ, tự ngă tây giao (Mây dầy đặc mà chẳng mưa, từ cơi đất phiá tây ở ngoài thành cuả ta).

Chú-thích: Ca dao có câu: Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy; cơn đằng tây cứ việc cấy cầy.

Văn ngôn bảo khôn là mây (Vân tùng long, phong tùng hổ = Mây theo rồng, gió theo hổ). Ngũ, thượng trùng âm nên bảo là mây dầy đặc. Quẻ Tiểu-quá là Đai Khàm (2 hào âm + 2 hào dương + 2 hào âm), là mưa. Đoài cũng là mưa, nhưng có tốn là gió bên dưới đuổi mây dầy đặc đi nên không mưa nổi. Đoài tây, chấn đông. Bảo rằng mây dầy đặc ấy từ phiá tây ngoài thành cuả ta bay về đông mất nên ở đây không mưa. Hào từ này cũng giống như thoán-từ quẻ Tiểu-súc: Tiểu-súc hanh, mật vân bất vũ, tự ngă tây-giao (Tiểu-súc hanh, mây kín mà không mưa, ở thành phiá tây cuả ta). 

 

THƯ TỊCH KHẢO 

 

1H Thập Tam Kinh Chú Sớ 十三經注疏, Nguyễn Nguyên 阮元 hiệu-khắc, Trung Hoa Thư-cục, Bắc-kinh, Tháng 11-1983.

5AP Tiêu-thị Dịch-Lâm 焦氏易林, Tái-bản, Tiêu Diên-Thọ 焦延壽soạn, Nghệ-văn Ấn-thư-quán ấn-hành, Đài-bắc, tháng 6-1983.

5AQ Dịch-Lâm Thích-văn 易林釋文, Nhất-bản, Sơn-dương Đinh Án 山陽丁 trước, in Thuật-số Tùng-thư 15 (tr. 263-426), Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

5AR Chu Dịch Hỗ-thể Trưng 周易互體徵, Đức-thanh Du Việt Ấm-phủ德清俞樾蔭甫 trước, in Tục Hoàng-Thanh Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng-Biên 皇清經解易類 (tr. 417-419), Tái-bản, Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc, Tháng 9-1992.

5AT Xuân Thu Tam Truyện 春秋三傳, 3 Quyển, Khổng-tử niên-soạn, bản dịch cuả Ân-sư, Cụ Sơn-Mai Hoàng Khôi 山梅黃瑰, Trung-tâm Học-liệu Bộ Giáo-dục, Sài-g̣n, Quyển Thượng (1969), Quyển Trung (1971), Quyển Hạ (1971).

5AU Chu Dịch Thượng-thị Học 周易尚氏學, Thượng Bính Hoà 尚秉和 trước, Lăo cổ Văn-hoá Sự-nghiệp Công-ty, Đài-bắc, Tháng 7-1981.

 

 

  

 

Xem Kỳ 64

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com