www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 05

 

DỊCH TIỀN ĐỀ

 

 

(Tiếp theo Kỳ 56)
 

MỘT THỜI ĐỂ BÓI TOÁN

MỘT THỜI ĐỂ CHẨN-ĐOÁN

MỘT THỜI ĐỂ LIÊN-QUÁN 

Thoạt kỳ thủy, Kinh Dịch được dùng như quyển sách Bói Toán, nhờ thế mà thoát khỏi lửa Tần đốt sách. Sau nhờ Tả-truyện và Quốc-ngữ, sách mới được nâng lên hàng Triết-lư, đồng thời cũng được dùng làm căn-cơ cho Đông-y-dược. Măi về sau ta mới có các Dịch-thuyết mà luận-lư ta quen gọi là Dịch-lư, chung cuộc thăng-hoa thành DUY-BIẾN BIỆN-CHỨNG-PHÁP (CHANGE DIALECTICS). Tóm lại ta có ba nghành luận-lư cuả Dịch là Quái-lư, Y-lư và Dịch-lư. 
 

IV BÁT-QUÁI LỤC-VỊ

tức NẠP-GIÁP VÀ TRANG CHI 

 NẠP GIÁP 

 

Dịch không đề-cập can chi nhưng thoán-từ quẻ Cổ có câu: "Tiến giáp tam nhật, hấu giáp tam nhật先甲三日,後甲三" và hào-từ cửu-ngũ quẻ Tốn có câu: "Tiến canh tam nhật, hấu canh tam nhật先庚三日,後庚三日". Giả thác tên ngày để thủ nghiă. Ngũ-hành-gia có thuyết Nạp-giáp: lấy 10 can mà nạp vào quẻ. Sở dĩ gọi là nạp-giáp, bởi v́ giáp đúng đầu hàng can. Các nhà Điạ-lư và Tu-dưỡng cũng hay dùng thuyết này. Đại để thuyết này có trước thời Tần-Hán. Có hai phép nạp-giáp: 

1. Nạp-giáp Kinh-quái tức quẻ đơn: 

Quẻ

Kiền

Khôn

Cấn

Đoái

Khảm

Ly

Chấn

Tốn

Nạp

Giáp

Ất

Bính

Đinh

Quư

Nhâm

Canh

Tân

                  Bảng 5.16 Bảng Nạp-Giáp Kinh-quái 

2. Nạp-giáp Biệt-quái của Kinh Pḥng: 

Quẻ

Kiền

Khôn

Cấn

Đoái

Khảm

Ly

Chấn

Tốn

Nạp

Giáp

Nhâm

Ất

Quư

Bính

Đinh

Mậu

Kỷ

Canh

Tân

                Bảng 5.17 Bảng Nạp-Giáp Biệt-quái 

V́ có 10 can mà chỉ có 8 quẻ đơn, nên mậu, kỷ không nạp. Mặt khác, v́ Biệt-quái dùng để phân-bố cho cả Hồn-thiên Giáp-tí gồm trọn 60 hoa-giáp, nên bó buộc phải nạp cả 10 can. Cho nên Kiền Khôn mới nạp Giáp Ất ở nội-quái và nạp Nhâm Quư ở ngoại-quái. V́ hai quẻ Kiền Khôn là phụ-mẫu nên mới nạp cả 4 can thủ vỹ vậy.

Để đừng lẫn lộn hai phép nạp-giáp cho quẻ đơn và quẻ kép ta có thể nhớ rằng với quẻ đơn: "Chấn canh, Tốn tân, Ly nhâm, Khảm quư".

C̣n với quẻ kép ta có bài ca:        

Lục hào nạp giáp nhớ hoài,

Kiền, Khôn Giáp Ất, Cấn Đoài Bính Đinh.

Khảm Ly Mậu Kỷ nên t́nh,

C̣n như Chấn Tốn nạp minh Canh Tân.

Kiền Khôn Nhâm Quư thêm lần.
 

H́nh 5.030 Sáng Trăng Vơi Đầy (3B, tr. 29) 

H́nh 5.030 gồm 5 ṿng tṛn đồng-tâm chia thành 6 góc sáu (600), kể từ trong ra ngoài là:

  1. Tuần trăng;
  2. Sáu quẻ: chấn , đoài , kiền , Tốn , cấn , khôn ;
  3. Sáu ngày: mùng ba, mùng tám, rằm, mười tám, hăm ba, ba mươi (hối);
  4. Sáu câu tả t́nh-trạng động-tĩnh: a) Dương dĩ tam lập, tam nhật chấn-động (Dương dùng 3 để xây-dựng, mùng 3 chấn-động); b) Âm dĩ bát thông, bát nhật đoài hành (Âm dùng 8 để hanh-thông, mùng 8 đoài đi); c) Tam ngũ đức tựu, kiền thể năi thành (3 x 5 = 15: ngày rằm đức thành việc); d) Tốn kế kỳ thống, nhân tế thao-tŕ (Tốn tiếp-tục hệ-thống, nhân giúp đỡ mà thao-luyện, tu-tŕ); e) Cấn chủ tiến chỉ, điển thủ huyền kỳ (Cấn chủ ngừng tiến, cầm trịch trăng lưỡi liềm); f) Lục-ngũ khôn thừa, kết quát chung thuỷ (5 x 6 = 30: khôn tiếp theo để đạt chung-thủy);
  5. Hào-từ quẻ Kiền: a) Sơ-cửu tiềm long (Sơ-cửu: Rồng ẩn); b) Cửu-nhị hiện long (Cửu nhị: Rồng hiện); c) Cửu tam tịch dịch (Cửu-tam: Sợ-sệt); d) Cửu-tứ Hoặc dược (Cửu-tứ: Nhẩy trên vực); e) Củu-ngũ Phi long (Cửu-ngũ: Rồng bay); f) Thượng-cửu Kháng long (Thượng-cửu: Rồng lên cao quá).

H́nh 5.031 Nạp-giáp Quẻ Đơn (5AD, tr. 196-7)

 

Mùng 3 sinh phách, nhật nguyệt xuất canh: quẻ chấn ', can canh.

Mùng 8 (thượng-huyền), nhật nguyệt kiến đinh: quẻ đoài #, can đinh.

Mười lăm, trăng tṛn, nguyệt doanh giáp, nhâm: quẻ kiền !, can giáp, nhâm.

Mười sáu trăng khuyết, nhật nguyệt lui về tân: quẻ tốn ), can tân.

Hăm ba (hạ-huyền), nhật nguyệt tiêu bính :  quẻ cấn -,can  bính.

Ba mươi không trăng, nhật nguyệt diệt ất, quư: quẻ khôn /, can ất, quư.

Ngày sóc (mùng một), khảm +lưu mậu; nhật-trung, mặt trời sáng, ly %tượng hoả, tựu tỵ.   

BÁT-QUÁI LỤC-VỊ

八 卦 六 位
 

Tiếp theo, xin bàn về Bát-quái Lục-Vị八卦六位. Trong thư phúc đáp Viên Cơ Trọng袁機仲, Chu Hi 朱熹nói: "Nạp-giáp trong Tham-đồng-khế chính là một phép bói truyền đến nay của Kinh Pḥng, có thấy trong Hoả-châu-lâm là một di-thuyết của ông ta". Trong Nguyên Bao Số Tổng Nghiă 元包數總義Trương Hành Thành 張行成viết: "Dùng Hoả-châu-lâm, tổ ở Kinh Pḥng". Căn-cứ vào đó, ta có thể tưởng lầm rằng Kinh Pḥng là tác-giả của "Hoả-châu-lâm 火珠林". Kỳ thực sách này chắc hẳn là cuả Tiêu Diên-Thọ 焦延壽, tự Cống, sư-phụ ông ta. Trong sách có chép "Bát-quái Lục-Vị-Đồ 卦六位圖", lấy ngũ-hành, 10 can (nạp-giáp), 12 chi (trang chi) phổ vào các hào của bát-quái. Đó chính là một thuật của Kinh Pḥng. Sách Dịch Hán Học 易漢學 (5Y , tr. 71-118) của Huệ-Đống惠棟, Quyển IV, có chép Đồ này:
 

KIỀN     KHÔN      CHẤN      TỐN       KHẢM        LY         CẤN      ĐOÀI

  thuộc    thuộc      thuộc     thuộc    thuộc      thuộc   thuộc    thuộc

Kim       Thổ            Mộc        Mộc       Thủy         Hoả       Thổ        Kim

 —–     – –          – –        —–       – –        —–       —–        – –   

Nhâm    Quí         Canh       Tân      Mậu        Kỷ      Bính       Đinh

Tuất     Dậu        Tuất        Măo      Tí          Tị       Dần       Mùi

Thổ      Kim         Thổ         Mộc     Thủy      Hoả      Mộc      Thổ

—–      – –         – –         —–      —–       – –       – –         —–

Nhâm     Quí        Canh        Tân     Mậu        Kỷ       Bính       Đinh

Thân     Hợi         Thân        Tị       Tuất        Mùi       Tí        Dậu

Kim      Thủy        Kim         Hoả      Thổ        Thổ     Thủy      Kim

—–      – –         —–         – –       – –        —–        – –       —–

Nhâm    Quí         Canh       Tân       Mậu        Kỷ       Bính       Đinh

Ngọ      Sửu         Ngọ        Mùi       Thân       Dậu     Tuất       Hợi

Hoả      Thổ         Hoả       Thổ         Kim        Kim      Thổ       Thủy

—–       – –         – –       —–          – –        —–       —–       – –

Giáp      Ất          Canh       Tân       Mậu        Kỷ        Bính      Đinh

Th́n      Măo        Th́n        Dậu       Ngọ        Hợi       Thân     Sửu

Thổ      Mộc         Thổ         Kim       Hoả        Thủy     Kim       Thổ

—–      – –           – –         —–      —–         – –        – –      —–

Giáp     Ất           Canh       Tân        Mậu        Kỷ        Bính      Đinh

Dần     Tị             Dần         Hợi       Th́n       Sửu        Ngọ      Măo

Mộc     Hoả          Mộc        Thủy      Thỗ       Thổ        Hoả      Mộc

—–      – –           —–        – –       – –          —–         – –      —–

Giáp     Ất            Canh        Tân       Mậu        Kỷ        Bính      Đinh

Tí        Mùi            Tí           Sửu       Dần        Măo      Th́n      Tị

Thủy    Thổ          Thủy        Thổ        Thủy      Mộc      Thổ      Hoả

 Bảng 5.18  Bát-quái Lục-Vị Đồ 

        Tóm lại, kể hàng can: Kiền nạp Giáp (nội-quái), Nhâm (ngoại-quái), Khôn nạp Ất (nội-quái), Quư (ngoại-quái), Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân, Khảm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ, Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh, tức thị Tham-đồng-khế và Ngu Phiên đều lấy phép nạp-giáp ra từ đây. C̣n 6 hào của Kiền tỷ-phối với 6 chi dương Tí, Dần, Th́n, Ngọ, Thân, Tuất, kể từ dưới kể lên; 6 Hào của Khôn tỷ-phối với 6 chi âm Mùi, Tị, Măo, Sửu, Hợi, Dậu, kể từ dưới kể lên. Sau này, phép này sẽ được Trịnh Huyền dùng làm phép Hào-thần. Tương-tự, trong thiên Nguyệt-lệnh Chính-nghiă sách Lễ-kư禮記 (1HI, tr. 1221-1378), Khổng Dĩnh Đạt 孔穎達viết: "Chấn chủ Canh-Tí-Ngọ, Tốn chủ Tân-Sửu-Mùi, Khảm chủ Mậu-Dần-Thân, Ly chủ Kỷ-Măo-Dậu, Cấn chủ Bính-Th́n-Tuất, Đoài chủ Đinh-Tị-Hợi" vẫn-hợp với thuyết của Hoả-châu-lâm. Đoạn dẫn-văn này không có trong Hoả-châu-lâm hiện-tồn do Thôi Triện 崔篆chú thích (Xin tham-khảo Tứ-khố Thư-mục Đề-yếu四庫書目提要 của Dư Gia Tích 余嘉錫). Do đó ta thấy rằng đoạn dẫn-văn này lấy từ sách Dịch Lâm của Tiêu Diên Thọ, sư-phụ của Kinh Pḥng. Đây chẳng qua chỉ là một phép bói, không dính dáng ǵ đến dịch-lư cả. Đời Đường, Can Bửu đă dùng phép này để chú-thích dao-từ có chép đó đây trong Chu Dịch Tập-Giải 周易集解 (5Z) của Lư Đỉnh Tộ李鼎祚:

Hào-từ sơ-cửu quẻ Kiền nói: "Sơ-cửu Giáp-Tí, ngôi của Thiên-chính là khởi-điểm của Kiền-nguyên". Hào-từ cửu-tứ Can Bửu cũng nói: "Tứ lấy sơ làm ứng, uyên là sơ-cửu Giáp-Tí, rồng từ đó bay lên" (Q I, tr. 1b).

1.    Hào-từ thượng-lục quẻ Khôn nói: "Âm tại thượng-lục, nhằm vào tháng 10, hào dứt nơi cung Dậu mà quẻ thành nơi Kiền, thuần dương không kham nổi âm thịnh.  Tuất-Hợi là nơi đóng đô của Kiền."(Q II, tr. 4a-b).

2.    Tượng-truyện sơ-lục quẻ Mông nói: "Sơ-lục Mậu-Dần, là lúc b́nh-minh, mặt trời bắt đầu chiếu sáng, nên mới bảo: Phát Mông" (Q II, tr. 10b). Hạ-quái quẻ Mông là Khảm, mà sơ-hào quẻ Khảm là Mậu-Dần.

3.    Hào-từ sơ-lục quẻTỉnh nói: "Ở phầ dưới quẻTỉnh, thể vốn là hào thổ nên nói là bùn" . Hạ-quái quẻ Tỉnh là Tốn, Tốn sơ-hào là Tân Sửu Thổ nên bảo là hào thổ (Q X, tr. 2a).

4.    Tượng-truyện lục-nhị quẻ Giải nói: "Lục-nhị hào Mộc, là thân quẻ Chấn vậy." (Q X, tr. 10b). 

Sách Dịch Hán Học của Huệ-Đống (5Y, tr. 71-118), Quyển V, nói: " Án: Chấn thuộc Mộc, hào lục-nhị cũng là Mộc, nên mới bảo hào này là thân của Chấn". 

          Lấy thuật ngũ-hành tỷ-phối của thời văn Chu mà thuyết-giải Dịch của thời sơ Chu quả có hơi khí quá, hà tất phải bàn thêm làm ǵ. Dịch-gia thời Đông-Hán khi hăng say thủ tượng cũng chưa đến nỗi cực đoan như vậy.        

 

   

 

    Xem Kỳ 58

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com