www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 05

 

DỊCH TIỀN ĐỀ

 

 

(Tiếp theo Kỳ 55)
 

PHỤ-LỤC IV

 QUÊ TÔI
 

Quê nội cũng như quê ngoại cuả tôi là làng Bạch-hạc thuộc xă Phong-châu, tổng Nghiă-yên, huyện Bạch-hạc, phủ Vĩnh-tường, tỉnh Vĩnh yên (Bắc-Việt). Bờ bên kia sông Thao cuả làng Bạch-hạc là thị-xă Việt-tŕ. Vùng Bạch-hạc/Việt-tŕ này là môt thung-lũng nằm giữa hai quản núi lớn là Tản-viên tức núi Ba-v́ ở phiá tây-bắc và Tam-đảo  ở phiá đông-bắc, đồng thời cũng là chỗ hợp-lưu cuả sông Hồng, sông Lô và sông Đáy. Do đó mới có danh-xưng Ngă Ba Hạc nổi tiếng qua bài Ngă Ba Hạc phú cuả Tiến-sĩ Nguyễn Bá Lân (1701-1785), người đă từng chẩn mạch cho Trưởng công-chuá  Cẩm Vinh, em cùng cha khác mẹ cuả Vua Hiến-tông Duệ Hoàng-đế Vượng (1461-1504), con cuả Thánh-tông Hiếu Hoàng-đế Hoảng.

Núi Ba-v́ cao 1250 mét thuộc tỉnh Sơn-tây chính là ḥn núi mà Sơn-tinh, sau khi cưới được Mỵ-nương con Hùng-Vương XVIII, đem về đó làm cho Thủy-tinh tức giận hằng năm dâng nước ngập khắp vùng. C̣n núi Tam-đảo cao 1800 m, chạy song song với sông Đáy. Theo Đại-Nam Nhất-thống-chí, sở dĩ gọi là Tam-đảo v́ núi có ba ngọn cao chót vót : chính giữa là ngọn Thạch-bàn, bên phải là ngọn Phù-nghiă, bên trái là ngọn Thiên-thị. 

Vùng Cổ-Phong-châu ứng với huyện Bạch-hạc ngày nay. Vùng này có cả thẩy ba di-chỉ khảo-cổ ở Phùng-nguyên, G̣ Mun và làng Cả.

Di-chỉ Phùng-nguyên được khai-quật khoảng thập-niên 1950 ở thôn Phùng-nguyên, xă Kinh-kệ, Cổ-Phong-châu và tiêu-biểu cho văn-hoá Đồ Đá Mới hậu-kỳ tức thời-kỳ Tiền-Hùng-Vương. Văn-hoá Phùng-nguyên là di-tích thời-kỳ bộ-lạc. Tŕnh-độ chế-tác đến độ tinh xảo gồm có riù đá có niên-đại  khoảng 4000 năm và ṿng đá h́nh vành khăn đường kính khoảng 5.6 cm, được dùng làm đồ trang sức cuả tiền-nhân.

Di-chỉ G̣ Mun được phát-hiện các năm 1961 và 1965 ở Tứ-xă, Phong-châu và thuộc văn-hoá Đồng Thau hậu-kỳ tức văn-hoá Văn-lang thời Hùng-Vương.

Di-chỉ Làng Cả ở xă Tiên-cát, Việt-tŕ, được phát-hiện năm 1976 và bao gồm gần 300 cổ-mộ. Di-chỉ này hẳn thuộc văn-hoá Đồng Thau hậu-kỳ và Đồ Sắt sơ-kỳ.

Ngoài ra, khảo-cổ cũng t́m ra được trống đồng Phong-châu. Trống đồng thường ghi lại sinh-hoạt hằng ngày cuả người Việt cổ. Trống có dáng đẹp, mặt trên kín, mặt dưới hở. Thân trống h́nh trụ, thon dần, thắt đáy ở giữa rồi lại loe dần ra. Lớp đồng toàn thân trống được đúc rất đều cỡ vài ba ly để khi đánh vang âm lên. Khi đánh, trống thường được treo lên đế, giàn hay xà miếu cho có cộng-hưởng.

Mặt trống có nhiều h́nh vành khăn đồng-tâm trên đó có khắc h́nh chim lạc bay, h́nh con cóc, h́nh người đội mũ lông chim và những hoa văn rất đẹp. Chính giữa có h́nh mặt trời xung quanh có h́nh ngôi sao 14 cạnh, có thể để biểu-trưng 14 bộ cuả nước Văn-lang v́ cho đến bây giờ không ai biết bộ B́nh-văn ở đâu.

Tại đất tổ người ta cũng đào được nhiều trống đồng, có loại nhỏ như trống đồng Đào-xá, có loại lớn đường kính hơn một mét như trống đồng đào được cuối thập-niên 1980 ngay trong khu-vực Đền Hùng.

Trống Đồng tiêu-biểu 

Làng Hạc nổi tiếng nhất  là về cá anh-vũ. Dư-điạ-chí cuả Ức-trai Tiên-sinh có chép: "Sông Hát ở huyện Phúc-lộc. Tương-truyền sông này phát-nguyên từ Giang-Hán bên Tầu. Trong sông có cây chiên đàn, cá anh-vũ theo đó mà lội về nam." Hát-giang 喝江, thượng-lưu sông đáy, là một con sông nhỏ đổ vào sông Hồng. Chiên đàn là một cây cuả huyền-thoại. Mỗi năm vào cuối muà thu, đầu muà đông, chỉ bến sông Hạc mới có cá anh-vũ. Nói cá anh-vũ luồn theo dọc sông có cây chiên đàn là muốn nói là nhờ ăn rễ cây qúy, cá anh-vũ mới thơm ngon đến thế. Một con cá anh-vũ lớn chỉ cân nặng dưới một kư-lô. H́nh thù cá anh-vũ khá giống chim vẹt (đầu múp, hai mắt lồi, đuôi quắp lại và vểnh lên), mơm cá trông cũng từa tựa mỏ vẹt. Thế th́ gọi là cá anh-vũ là đúng quá rồi. Người ta bảo cá anh-vũ thích ở ven sông v́ nơi đây nhiều phù-du (tức con vờ. Ca-dao : 1/ Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, Cảnh phù-du trông thấy cũng nực cười. 2/ Tục-ngữ : Xác như vờ, xơ như nhộng). Khi nào nghỉ ngơi, th́ vào hang sâu dưới đáy sông treo ḿnh mà ngủ. Muốn bắt được cá anh-vũ phải lặn giỏi và phải biết những hang chúng ở. Cá anh-vũ, ḿnh vàng không có vẩy, làm gỏi, nấu dấm, tẩm gia-vị nướng, làm chả cá, kho khế, rán, xào, luộc đều thơm ngon. Hồi nhỏ tôi đă được thưởng-thức cá anh-vũ kho tương với khế, ngon ơi là ngon.

Thời tiền-chiến, ngoài cá anh-vũ, quê tôi c̣n có hai đặc-sản nữa là luạ Hạc và hồng Hạc. Lụa Hạc hồi bé tôi có thấy bà Ngoại tôi mặc. C̣n hồng Hạc không biết có tự bao giờ, thường cho quả vào muà thu. Hồng không đợi chín mới hái, mà hái lúc vỏ đương c̣n xanh nhưng ruột đă vàng và cùi đă cho vị ngọt. Vỏ hồng mầu lá mạ trông rất đẹp mắt. Hái xong, hồng được ngâm trong nước vôi trong, nồng-độ thấp đề hồng nhả bớt nhựa chát ra. Ngâm hồng sao cho vị chát trút ra hết ra mà cuống không long là cả một nghệ-thuật.

Hồng Hạc ăn thơm ngon và mát, rất nhẹ nhàng, quả là một thứ quà quư. Miếng hồng bổ ra vàng rượi, cắn nhẹ thớ sẽ từ từ lan ra trong miệng, cho ta một cảm-giác thú-vị.

Hồng Hạc trồng rất khó. Từ cách chiết rễ cho chí cách chăm sóc cây đều rất công-phu. Trồng cây phải mất dăm ba năm mới có quả. Chỉ có vùng Ngă Ba Hạc trồng th́ vị hồng mới thơm ngon đặc-biệt. Hồng Hạc là một món quà quư, thường được các nhà sang biếu xén nhau. Đôi khi người ta dùng hồng Hạc trong các lễ dạm hỏi hay những dịp sêu Tết. 

Làng tôi có ba kiểu kiến-trúc tiêu-biểu cho Tam-Giáo Nho Phật Lăo: kiến-trúc Nho th́ có đ́nh làng rất đồ-sộ có cả "cây đa cao ngất từng xanh" mà Thầy Chung-Quân đă nói đến trong bài hát "Làng Tôi", sân sau th́ có bàn cờ người với 90 lỗ cắm cờ, trên đó mỗi năm vào dịp Lễ Hai Bà Trưng các trai thanh gái lịch trong làng thường đươc mặc quốc-phục ngũ-sắc giả làm quân cờ ; kiến-trúc Phật th́ có Chùa làng mà thuở tiền-chiến, sáng mùng một Tết nào chúng tôi cũng được Cậu Mợ chúng tôi giắt lên chuà làng lễ Phật; kiến-trúc Đạo-giáo th́ có Thái-thanh-cung Bạch-hạc Thông-thánh-quán 太清宮白鶴通聖觀

Đời Trần đệ-nhị-đế (1) Thái-tông, năm bính-tí (1276), có đạo-sĩ người Tầu Hứa Tông-Đạo, gốc làng Hải-đàn, xă Thái-b́nh, huyện Phúc-thanh, Phúc-châu, lộ Phúc-kiến, nước Đại-Tống, đến nước ta để dạy học cho vương-tử thứ sáu Vua Thái-tông là Chiêu-Văn-Vương Trần Nhật-Duật 陳日và giúp vua đánh giặc Nguyên sang xâm-lăng. Tám Vương-tử c̣n lại là : Quốc-Khang, Hoảng (Thánh-tông), Quang-Khải (Chiêu-minh Đại-vương), Nhật-Vĩnh, Ích-Tắc, Quang-Sưởng, Úy và Duy.

(1) Hoàng-đế Trần Thái-tông được Lư Chiêu-Hoàng nhường ngôi lập nên nhà Trần chính phải là đệ-nhất-đế cuả Nhà Trần. Sở dĩ ở đây chép là đệ-nhị-đế là bởi v́ Trần-Thừa thân-phụ ông mới là đệ-nhất-đế. Đại-Việt Sử-kư Toàn-thư viết: "Lúc đầu Thái-tông tức-vị, tôn thân-phụ húy Thừa làm Thái-thượng-hoàng, ngụ cánh tả cuả Phụ-thiên-cung, phàm gặp chuyện quốc-gia đại-sự, Thái-thượng-hoàng nắm thực-quyền đều có tham-dự và tiệt-định. Huống hồ lúc lên ngôi Thái-tông tuổi c̣n nhỏ, mọi quyền-bính chính-trị trong nước đều nằm trong tay người chú là Trần Thủ Độ 陳守度. Văn bia chép là Trần-nhị-đế là kể theo chính-thống : Thái-thượng-hoàng Trần-Thừa mới là đệ-nhất-đế." Đại-Việt Sử-kư Toàn-thư, Bản-kỷ Quyển V, chép: "Theo phép Nhà Trần, một khi vua con đă lớn ắt ngồi chính-vị, c̣n vua cha lui về Thánh-từ-cung làm Thượng-Hoàng, cùng thính chính. Kỳ thực, đă truyền đại-khí để định hậu sự chờ chết." Thánh-tông Bửu-phù năm thứ tư (1276), lúc đó Thái-tông đă là Thái-Thượng-Hoàng, Hoàng-đế chỉ là Thái-tử, nên kỷ-sự là Bính-tư, không nói đời vua nào. 

Năm ất-dậu (1225), chính quân-sĩ cuả Hứa Tông-Đạo hợp với quân cuả Chiêu-Văn-Vương lấy được thủ-cấp cuả Toa-Đô.  Trung-tuần tháng năm năm đó quân Thát-Đát đại-bại, ông bảo chính là nhờ phúc ấm Bạch-hạc Thông-thánh Thần-vương. Nhân thế, ông được hoàng-thất Nhà Trần rất quư-trọng và che chở và cùng giúp ông trùng-tu Bạch-hạc Thông-thánh-quán để làm cơ-sở xiển-dương Đạo-giáo. Ông thờ năm Vua Thái-tông (trị-v́ 1225-1258), Thánh-tông (trị-v́ 1258-1279), Nhân-tông (trị-v́ 1279-1293), Anh-tông (trị-v́ 1293-1314) và Minh-tông (trị-v́ 1314-1329). Ông được cực-kỳ trọng-vọng và có công lớn trong việc truyền-bá Đạo-giáo tại Việt Nam đời Trần. Bài văn-kư ông cho khắc trên đại-hồng-chung cuả Quán là một sử-liệu quư-giá về việc phát-triển Đạo-giáo tại Việt Nam mà cũng ghi lại tương-quan hỗ-động giữa Trung-quốc và Việt-Nam, cuối Tống đầu Nguyên.

Bài Kư Chuông Quán Bạch-Hạc Thông-Thánh 

Trong bảng dưới đây (5O, tr. 381) trích từ Việt-Nam Sử-luận, dấu = là chỉ Hoàng-hậu. Mỗi Hoàng-đế đều có tên húy bên cạnh (đôi khi là chữ Nôm). Các tên Húy này cũng như tên húy cuả Trần Thủ Độ 陳守度 tối-cần-thiết trong việc xác-định tác-giả đích-thực cuả Tứ-thư Thuyết-ước 四書說約(Xem CHƯƠNG 17 : TOÀN VIỆT-DỊCH THÔNG-KHẢO). Thái-tổ (không làm vua nhưng được truy-tôn) húy Thừa , Thái-tông húy Cảnh , Thánh-tông húy Hoảng , Nhân-tông húy Khâm , Anh-tông húy Thuyên , Minh-tông húy Mạnh , Hiến-tông húy Vượng, Dụ-tông húy Hạo , Nghệ-tông húy Phủ , Duệ-tông húy Kính và Thuận-tông húy Ngung .

Biểu Tương-quan Nhân-vật Hoàng-thất đời Trần 

Thời tiền-chiến, làng tôi có hai hội chính là "hội cướp c̣n" được tổ-chức vào ngày mùng ba Tết tại đ́nh làng và "hội bơi chải" tổ-chức vào tiết hàn-thực (20 tháng 5 âm-lịch), là ngày kỷ-niệm Khuất-Nguyên nhẩy xuống sông Mịch-la tự-tử. 

Vùng Ngă Ba Hạc có câu hát về các hội bơi chải trong vùng: 

Rau gác, Hạc bơi ;
Hạc gác, Me bơi ;
Me gác, Đức-bác bơi ;
Đức-bác gác, Dạng bơi … 

Rau là làng Cựu-ấp, xă Liên-châu (Vĩnh-lạc), thờ Tam-giang Đại-vương, đua chải vào mùng 10 tháng 5 âm-lịch. Hạc là làng Bạch-hạc, cũng thờ Tam-giang Đại-vương tức Bạch-hạc Thông-thánh, là thủy-thần Ngă Ba Hạc, mở hội đua chải vào 20 tháng 5 âm-lịch. C̣n Rau là làng Cựu-ấp, xă Liên-châu (Vĩnh-tường ngày nay đổi thành Vĩnh-lạc), cũng thờ Tam-giang Đại-vương, đua chải vào 20 tháng 5 âm-lịch. Kẻ Me tức xă Yên-lập cuả huyện Vĩnh-tường cũ mở hội bơi chải ba ngày liền, từ 25 tới 27 tháng 5 âm-lịch. Đức Bác cuả huyện Lập-thạch bên sông Lô  đua chải vào ngày mùng 10 tháng 6 âm-lịch vào dịp tế công-chuá Bát-Nàn, một nữ-tướng cuả Hai Bà Trưng. Dạng là xă Tứ-yên, huyện Lập-thạch, đua chải trong hai ngày 25 và 26 tháng 6 âm-lịch.

Bạch-hạc có bốn giáp : Tiên Hạc, Đông-Nam, Vă tức Thần-trúc và Bộ Đầu. Mỗi giáp có hai chải. Chải Tiên Hạc màu xanh dương đậm, chải Đông-nam mầu trắng, chải Thần-trúc mầu đỏ và chải Bộ Đầu màu vàng.

Buổi sáng tiệc tế bơi chải, các chải bơi từ cửa đ́nh làng Hạc về tới Gát, tức làng Tiên-cát ở Việt-tŕ (nay là khu nhà máy xay), sau đó quay về cầu Việt-tŕ, qua Gát rồi trở về đ́nh Hạc.

Chải Bạch-hạc làm bằng gỗ cḥ đẽo thành một phiến liền không ráp nối. Mỗi chải có 24 khoang, mỗi khoang bề ngang chừng một mét. Mỗi chải có một người lái ngồi ở phiá đuôi, một người gơ mơ đứng khúc giữa đánh nhịp làm hiệu-lệnh cho các tay chèo, tay gơ miệng hô liên chi hồ-điệp: "Dô huỵch ! Dô huỵch !" Người chèo phải chèo giỏi cả hai tay. Khi nào trên bờ nổi trống, các chải đang bơi phải quay ngay đầu lại, ḥ reo mà bơi về điểm xuất-phát. Có lệ : lúc đi chèo ngồi, lúc về chèo đứng. 

"Hội c̣n" ở làng tôi là hội cướp c̣n chứ không phải là tṛ chơi tung c̣n của các làng  khác quanh miền. Quả c̣n cái to bằng trái cam Xă Đoài ; chín quả c̣n con th́ nhỏ như quả trứng ngỗng. Khúc đuôi các quả c̣n đều có dính những tua vải ngũ sắc không những để trông vui mắt mà c̣n để định hướng khi bay. 

"Hội cướp c̣n" được tổ-chức sáng mùng ba Tết tại đ́nh làng nằm bên bờ sông Tuyên. Trước đ́nh có cây si rễ phụ sà xuống tận mặt sông và cây đa "cao ngất từng xanh" mà Thầy Chung-Quân có nói đến trong bài hát "Làng Tôi".  Đó đây trong sân đ́nh cũng có những cây ngô-đồng "Hạc chỉ quê nhà, Cùng bà Ngoại quư bao hoà niềm vui." (Cây ngô-đồng nhà ông thân tôi ở Thanh-hoá luôn luôn hướng về quê Hạc). Cổ-thi có câu : Ngô-đồng nhất diệp lạc, Thiên-hạ cộng tri thu 梧桐一葉落,天下共知秋。Một chiếc lá ngô-đồng rơi, Thiên-hạ ai cũng biết là thu đă đến. Tục truyền rằng chim phượng hoàng, một linh-điểu, thích đậu trên cây ngô-đồng và thích ăn quả trúc (Phi ngô-đồng bất thê, phi trúc thực bất thực. 非梧桐不棲,非竹實不食。 Chẳng phải cây ngô-đồng th́ chẳng đậu, chẳng phải quả trúc th́ chẳng ăn.)

Khi dân làng đă tề-tựu đông đủ dưới sân đ́nh, một vị bô lăo mặc áo tế đứng trên thềm đ́nh rao to : "Quả c̣n này là quả c̣n thơ, ai mà bắt được ta cho làm tài. Tùng tùng du." Ông nói dứ rất nhiều lần rồi mới tuần-tự tung từng quả c̣n con một, sau rốt mới tung quả c̣n cái. Trai tráng trong làng xô đẩy nhau, đầu bù tóc rối, để cướp cho bằng được quả c̣n.

Dân làng vẫn tin rằng năm nào nhà nào cướp được quả c̣n th́ năm ấy sẽ may mắn suốt năm. Có một năm các cậu và chú tôi nhờ mưu-tri chuyền tay nhau rồi chuyển cho một người kẹp nách quả c̣n trong bộ veston, ra về thong thả. Năm ấy bên ngoại tôi hên hết sức. 

 

PHỤ-LỤC V

Ngă ba Hạc phú

(Độc-vận: Hạc) 

Vui thay! Ngă ba Hạc; vui thay! Ngă ba Hạc.

Dưới họp một ḍng; trên chia ba ngác.

Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, ḍng biếc lẫn ḍng đào (2); lênh-lang dễ biết sâu nông, nước đen (3) pha nước bạc.

Nhớ xưa: Vũ-trụ mơ-màng, càn khôn xếch-xác.

Vua Bàn-cổ (5) khai ḷ tạo-hoá, hồng-mông đà phơi-phới hơi xuân; họ Hữu-Ngu (7) khơi mạch sơn-hà, cương-giới vẫn rành rành dấu tạc.

Vậy có nắm đất Đoài-phương (8); cạnh giời Nam-quốc.

Ba góc bờ chia vành-vạnh, huyệt kim-quy (9) hẻm đá rộng hông-hênh; hai bên cỏ mọc lâm râm, hang anh-vũ (10) giữa ḍng sâu huyếch-hoác.

Mọi thú mọi vui; một chiều một khác.

Lơ thơ đầu ông Lă (11) thả cần; trần trụi mặc Chử-đồng (12) ngâm nước.

Bè khách-thương bạ (13) bến, cắm neo quỳ gối lắc cầy xuôi (14); thuyền ngư-phủ thuận ḍng, dương nách khom lưng chèo tếch ngược (15).

Dùi điểm thùng thùng trống gọi, cửa tuần-ty (16) rộn ră khách chen vai; chày đâm văng vẳng chuông đưa, nền Phật-tự (17) lao xao người rén bước.

Khác ǵ: Những chốn Tiêu-Tương (18), đồ tranh thủy-mặc (19).

Trên lọ phải vén quần vua Tống (20), ra sức anh-uy; dưới cũng vui vỗ bụng giời Nghiêu (21), dắng ca canh tạc (22).

Ta nay: Qua miền Tam-đới (23), dứt dải sông Lô; thấy Ngă ba Hạc vui thay, làm chơi một đạc (25).

Ai hữu-t́nh ngắm lại mà coi, kể làm cực nhân-sinh chi khoái-lạc.

Bản đồ Điạ-danh Chính-yếu 

CHÚ-THÍCH: (1) Ngă ba Hạc: chỗ hợp lưu cuả ba con sông: sông Đà tức sông Bờ (v́ có chẩy ngang chợ Bờ) hoặc sông Đáy, sông Lô tức sông Tuyên (v́ có chẩy qua tỉnh Tuyên-quang), và Nhị-hà (Nhĩ-hà 洱河) tức sông Hồng, ở giáp huyện Bạch-hạc nay thuộc tỉnh Vĩnh-yên. Sông Bạch-hạc chính là khúc sông Lô chẩy từ làng Bạch-hạc xuống Ngă Ba Hạc cách chừng ba bốn cây số về phiá tây-nam.  (2) Ḍng biếc lẫn ḍng đào: ḍng biếc là sông Lô nước trong xanh biếc; ḍng đào là sông Nhị nước đỏ ḷm.  (3) Nước đen: sông Đà nước đen.  (4) Càn khôn: đây là một bài Phú Nôm nên dùng càn khôn thay v́ kiền khôn. Biệt-quái kiền A tượng trời, biệt-quái khôn B tượng đất. Kiền khôn chỉ chung trời đất.  (5) Bàn-cổ 盤古: theo thần-thoại Trung-Hoa, Bàn-cổ phân trời đất, từ đó mới có thế-giới vạn-vật.  (6) Hồng-mông洪蒙: mù mịt mênh mông.  (7) Hữu-Ngu 有虞: Ngu là họ cuả Đế Thuấn (2255-2206). Nói Hữu-Ngu cũng như ta nói Hữu-Tống, Hữu-Minh, Hữu-Thanh vậy.  (8) Đoài-phương: phương tây v́ quẻ Đoài Hậu-thiên trấn phương tây. Thời xưa huyện Bạch-hạc thuộc tỉnh Sơn-tây.  (9) Kim-quy金龜: con ruà vàng. Tục truyền rằng ở sông Bạch-hạc có con ruà vàng ở trong hang đá.  (10) Anh-vũ 鸚鵡: tên một thứ cá thịt ngon, rất quư-giá, mỗi năm cuối muà thu, đầu muà đông, ở sông Bạch-hạc có nhiều, và theo Đại-Việt Điạ-dư Toàn-biên (Quyển 5, mục "Tỉnh Sơn-tây") chỉ có khúc sông này mới có cá ấy mà thôi. Xin xem truyện Trung-dục Vũ-phụ Uy-linh-vương (chuyện Thần Bạch-hạc) trong Việt Điên U-linh-tập cuả Lư Tế Xuyên (Xem Phụ-lục VI bên dưới). Anh-vũ tự-điển Hán-ngữ không có nên tác-giả Lư Tế Xuyên phải dùng giả-tá tiếng ghép anh-vũ 鸚鵡 (nghiă là con vẹt v́ mơm cá anh-vũ trông giống mỏ vẹt), để chỉ thứ cá quư-giá này cuả quê tôi. Phải dịch anh-vũ là cá anh-vũ, dịch là con vẹt là nhầm lẫn. Không ai tế-thần bằng chim vẹt cả.  (11) Ông Lă: tức Lă-Thượng hay Khương Tử Nha 羌子牙 (c̣n gọi là Thái-công Vọng 太公望 hoặc Sư-thượng-phụ師尚父), một bực hiền-thần đầu đời nhà Chu. Đời vua Trụ là vua cuối cùng cuả Nhà Thương/Ân, ông ẩn-cư ở Bàn-khê (thuộc tỉnh Thiểm-tây); một hôm ông đang ngồi câu cá ở sông Vị, Văn-Vương, người khởi-thảo Kinh Dịch, đi săn gặp bèn rước về dùng. Về sau chính ông giúp Chu-Vũ-Vương, con trưởng Văn-vương diệt Trụ lập nên cơ-nghiệp Nhà Chu.  (12) Chử đồng褚童: tức Chử đồng-tử褚童子. Theo sách Lĩnh-nam Chích-quái 南摭怪, do Vũ-Quỳnh hiệu-đính Hùng-Vương thứ ba có người con gái là Tiên Dong, có lần đi chơi thuyền trên sông Nhị, ghé vào bến làng Chử-xá (nay thuộc huyện Văn-giang, tỉnh Bắc-ninh), lên trên băi cát tắm, bất ngờ gặp Chử đồng-tử trần-trùi-trụi (v́ quá nghèo nên không có khố đóng), đang nép ḿnh trong cát; nàng cho là duyên trời xui khiến, bèn lấy Chử đồng-tử. Sau vua cha nổi giận, sai quan quân đến bắt, cả hai vợ chồng bèn hoá phép cưỡi rồng bay lên trời, thành tiên, theo đúng danh-nghiă con rồng cháu tiên.  (13) Bạ: đến gần.  (14) Cắm neo quỳ gối lắc cầy xuôi: tả việc nhà thuyền neo thuyền cho chặt theo xuôi ḍng nước.  (15) Giương nách khom lưng chèo tếch ngược: tả việc chèo  thuyền ngược ḍng sông.  (16) Tuần-ty巡司: sở đánh thuế hàng-hoá thời xưa.  (17) Phật-tự佛寺: chuà thờ Phật.  (18) Tiêu, Tương 瀟湘: hai con sông bên Tầu, hợp ḍng tại điạ-phận tỉnh Hồ-nam, rồi cùng đổ vào Động-đ́nh-hồ.  (19) Thủy mặc水墨 (nước lă và mực Tầu): lối vẽ không dùng mầu, chỉ dùng mực hoà với nước.  (20) Vén quần vua Tống: ư câu cuả Tống-sử: "Kiến dân cơ-hàn, tắc kiển thường nhu túc dĩ cứu chi. 見民饑寒,則蹇裳濡足以救之。 Thấy dân đói rét ắt xăn quần lội xuống nước để cứu." Câu ấy khen vua Tống Thái-Tổ thấy dân đói rét th́ phát-chẩn cũng như người khác sắp chết đuối th́ lội xuống nước mà cứu.  (21) Vỗ bụng giời Nghiêu: đời Đế Nghiêu có ông lăo vỗ bụng mà hát để ca ngợi đời thái-b́nh.  (22) Canh tạc: trong bài hát cuả ông lăo kể trên có câu: "Canh điền nhi thực, tạc tỉnh nhi ẩm. 耕田而食,鑿井而飲。Cầy ruộng mà ăn. đào giếng mà uống."  (23) Tam-đới 三帶 tức Tam-giang 三江: tên phủ về đời Hậu Lê thuộc Sơn-tây gồm sáu huyện: Phù-ninh (nay thuộc Phú-thọ), Bạch-hạc, Lập-thạch, Yên-lạc (nay thuộc Vĩnh-yên), Yên-lăng (nay thuộc Phúc-yên), Tân-phong (nay là phủ Quảng-oai, thuộc Sơn-tây).  (24) Đạc: đây nghiă là một bài.

 

PHỤ-LỤC VI 

TRUYỆN UY-LINH BẠCH-HẠC THẦN-TỪ
 

Hiện nay, tại Thái-thanh-cung Bạch-hạc Thông-thánh-quán làng tôi có giữ được một quả chuông đúc dưới triều Vua Trần Minh-tông, đế-hiệu Đại-khánh năm thứ 8 (1321).

Có ba sách có chép sự-tích thông-thánh này là: Việt Điện U-linh Tập-lục 越甸幽靈集, Lĩnh-nam Chích-quái 南摭怪 Thiên-nam Vân-lục 天南雲. Riêng sách đầu là xưa hơn cả nên xin sao lục chuyện Thần Bạch-hạc vào đây: 

      Xét Giao-châu-kư cuả Triệu-Xương thấy chép rằng: Thần này vốn hiệu là Thổ-lệnh-trưởng. Trong khoảng niên-hiệu Vĩnh-huy Cao-tông (trị v́ 650-655nhà Đường, Lư Thường Minh làm Đô-đốc Phong-châu.

       Thường-Minh mới đến nhậm chức, thấy đất rộng ngh́n dặm, núi sông bao bọc, mới dựng quán Linh-quán tại làng Bạch-hạc, thờ tượng Tam-thanh (1) cho xứng với phong-cảnh kỳ-vỹ; lại biệt-lập trước sau hai cái nhà ngang, nghĩ muốn đắp tượng thần hộ-quán nhưng chưa biết thần nào linh bèn đốt hương khấn rằng:

          -  Thần-kỳ ở đây, nếu có linh-hiển xin kíp hiện h́nh-trạng để tiện bề đắp tượng.

         Đêm mộng thấy hai dị-nhân, diện-mạo ôn-nhă, có đồ-đệ theo hầu, rầm-rộ kéo đến nhà ngang trước sân.

          Thường-Minh hỏi rằng:

          -  Các ông tên họ là gi?

          Một người xưng là Thổ-Lệnh, một người xưng là Thạch-Khanh. Ông xin họ thử so-sánh vũ-nghệ, ai hơn th́ ở trước. Thạch-Khanh vâng lời, nhẩy vọt một cái, qua bên kia sông, đă thấy Thổ-Lệnh đứng đó rồi. Lúc đó Thổ-Lệnh được ở trước. Thần-tượng uy-linh, người trong châu kính sợ, phụng thờ hương-hoả, làm vị Phúc-thần ở Tam-giang vậy.

          Thổ-lênh-trưởng nay làm Thần làng Bạch-hạc, c̣n Thạch-Khanh nay làm Thần làng Chi-cát, hằng được đội ơn phong-tặng, hương lửa không ngớt. Các làng dựa theo sông cũng đều thờ cả, có lẽ sơn-kỳ thủy-tú un đúc lại làm danh-thần, nghiễm nhiên làm hộ-vệ cho Thần Tam-thanh (Chú thích 1).

          Trải mấy triều, các vị tướng-soái mỗi khi phụng-mệnh đi đánh kẻ nghịch-mệnh ở trên nguồn Tam-giang, thường biện lễ-phẩm, mặc đồ binh-phục đến đền bái-yết, phần nhiều được Thần âm-phù mặc-tưởng.

          Niên-hiệu Trùng-hưng năm đầu (1285), sắc phong Trung-Dục-Vương. Năm thứ tư gia-phong Vũ-phụ (1288). Năm Hưng-long thứ 21 (1313), gia-phong thêm hai chữ Uy-linh. 

           Triều nhà Trần, Hàn-lâm Học-sĩ Nguyễn-Cố hộ giá vua đi đánh Ai-lao, đến đền bái-yết, có đề bài thơ rằng: 

                                      Ruà, rồng, phù, ấn buộc lưng ngang.
                                      Việc ấy mong cầu giúp trướng-quan.
                                      Hèn yếu thư-sinh không chỗ cậy,
                                      Đến xin từ-quán được b́nh-an. 

          Lại có quan Thị-độc học-sĩ Vương-Đức-Thành hộ-giá nam-chinh, đến lúc khải-hoàn, vua bảo làm bài thơ tán thần rằng: 

                                      Tỳ-hưu mười vạn rơ Vương-linh.
                                      Thế ép Vân-nam ải ngoại thành.
                                      Giang tả mảy may nào đủ mộ.
                                      Gió reo tiếng hạc khiếp Tần-binh.

 

CHÚ-THÍCH: 

(1) Tam-thanh: trong quan-niệm đạo-gia, tiên-cảnh gồm ba loại là ngọc-thanh, thái-thanh và thượng-thanh, chỉ nơi trú ở cuả thần-tiên. Nguyên-văn chép: "Đặt tượng tam-thanh, ứng chỉ ba tượng thần: ngọc-thanh-cảnh nguyên-thủy thiên-tôn, thái-thanh-cảnh đạo-đức thiên-tôn, thượng-thanh-cảnh linh-bảo thiên-tôn."
 

VĂN TỊCH KHẢO

 

5Q Vân-đài Loại-ngữ蕓臺類語, Đ́nh-hà Bảng-nhăn Quế-đường Lê Quư Đôn 黎貴trước, Phạm-Vũ & Lê-Hiền dịch và chú-giải.

5R Đại-Nam Quốc-sử Diễn-ca 大南國史演歌cuả Lê Ngô Cát 黎吳吉 ,Phạm Đ́nh Toái, Tựa và Dẫn cuả Hoàng Xuân-Hăn, Sông Nhị, Hà-Nội, 1949.

5S New Light on a Forgotten Past by Wilhelm G. Solheim II, National Geographic, March 1971, pp. 330-339.

5T Việt Điện U-linh-tập 越甸幽靈集, Lư Tế Xuyên 李濟川biên, Lê Hữu Mục Việt-dịch, Nhà sách Khai-trí, Sài-g̣n, 1961.

1E Bách-Việt Tiên-hiền-chí百越先賢志, Lĩnh-nam Di-thư Bản, Âu Đại Nhậm Trinh Bá 歐大任楨 伯 soạn, Thương-vụ Ấn-thư-quán phát-hành.

5V Văn Khắc Hán Nôm Việt-Nam Tập II: Đời Trần (1226-1400) 越南漢喃銘文匯編第二集﹕陳朝, 2 Quyển, Viện Nghiên-cứu Hán Nôm và Trung-Chính Đại-học Văn-học-viện đồng xuất-bản, 2002 (Quyển Thượng, tr. 145-154, 159-166).

5W Việt-Nam Thi-văn Hợp-tuyển (tr. 66-68) cuả Dương-Quảng-Hàm, Xuân Thu xuất-bản.

        

 

   

 

    Xem Kỳ 57

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com