www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 05

 

DỊCH TIỀN ĐỀ

 

 

(Tiếp theo Kỳ 54)

 

LỄ KỶ-NIỆM HAI BÀ TRƯNG
 

Hai Bà quán xă Cổ-lai, huyện Chu-diên, đất Mê-linh (nay thuộc làng Hạ-lôi, huyện Yên-lăng, tỉnh Phúc-yên). Phụ-thân làm Lạc-tướng, mẫu-thân là bà Man-Thiện (có nơi chép húy là Trần-thị Đoan), vốn ḍng Hùng-Vương. Hai bà mồ côi cha sớm, được mẹ nuôi nấng dạy cho nghề nuôi tằm cùng là luyện-tập vơ-nghệ.

Năm 19 tuổi, Trưng-Trắc kết duyên cùng Thi-Sách rất hùng-dũng, làm huyện-lệnh Chu-diên. Hai bà cùng Thi Sách mộ nghiă-quân chuẩn-bị khởi-nghiă. Chẳng bao lâu chồng bà bị tên Thích-sử Giao-chỉ Tô-Định giết chết, bà cùng với em dấy binh chống quân xâm-lăng.

Lúc đầu Bà Trưng kén chọn trong năm họ ở làng-ấp được 27 nữ-dũng; sau thanh thế lớn dần anh-hùng hào-kiệt bốn phương hưởng-ứng, từ Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam, Hợp-phố theo về rất đông và binh-số lên đến 8 vạn người. Trong hàng tướng-tá nghiă-quân có nhiều phụ-nữ như bà Lê Chân, Thánh Thiên, Bát Nàn, Hoàng Thiều Hoa, Nguyễn Đào Nương, Nàng Tiá, Ả Tắc, Ả Di v.v. Phiá nam-giới th́ có Cao Doăn, Đô Dương, Châu Bá …

Ngày mùng 6 Tết tân-sửu (25-2-41 AD) hai Bà làm lễ xuất-quân. Trước ba quân tướng-tá bà Trưng-Trắc đă long-trọng tuyên đọc bốn lời thề có ghi trong Thiên-Nam Ngữ-lục:

Một xin rửa sạch thù nhà,

Hai xin lấy lại nghiệp xưa họ Hùng.

Ba kẻo oan-ức ḷng chồng,

Bốn xin trọn vẹn sở công-lênh này.

Bốn lời thề này có nghiă là:

  1. Thề khôi-phục nghiệp lớn cho họ Hồng-Bàng;
  2. Thề trả thù cho Thi-Sách;
  3. Thề giết kỳ được thái-thú Tô-Định;
  4. Thề hễ ai có công to th́ gả em gái là Trưng-Nhị cho.

Sau khi thao-luyện quân-sĩ ở băi Trường-sa bến Hạc, nghiă-quân tiến chiếm lại thành Cổ Loa, thành Luy Lâu rồi đánh thẳng vào Đô-hộ-phủ đóng ở thành Liên-châu. Bị đánh bất-th́nh-ĺnh, Tô-Định bỏ cả ấn-tín, cắt tóc, cạo râu chạy trốn về Tầu. Chẳng bao lâu quân Hai Bà thâu tóm được thành Long-biên và 64 thành-tŕ nữa cuả đất Lĩnh-nam, nghiă là toàn-thể lĩnh-thổ nước ta hồi đó. Sau đó, Bà Trưng Trắc xưng vương và lấy quốc-hiệu là Triệu, đóng đô ở Mê-linh (xem chú-thích 1 bên dưới), tôn mẹ làm Hoàng-thái-hậu và phong cho em gái mỹ-hiệu B́nh-khôi Công-chuá, lập cung điện ở làng Cổ-lai.

Năm sau, Hán Quang-Vũ sai Phục-ba Tướng-quân đem hai vạn quân và hai ngh́n chiến thuyền cùng rất nhiều xe cộ rầm rộ sang xâm lăng nước ta. Hai bà đem quân đến nghinh chiến ở hồ Lăng-bạc. Quả bất địch chúng, hai bà phải rút quân về Cấm-khê (nay thuộc phủ Vĩnh-tường, tỉnh Vĩnh-yên). Mă-Viện lại tiến đánh Cấm-khê. Quân hai bà tan vỡ. 

Theo bản thần-tích để tại làng Hạ-lôi th́ Hai Bà là chị em sinh đôi, sinh vào ngày mùng 1 tháng 8 năm giáp-tuất (15-08-14 AD) và cùng gieo ḿnh xuống ḍng sông Hát (thượng-lưu sông Đáy chỗ hợp ḍng với sông Hồng) tự-tận vào ngày mùng 6 tháng 2 năm quư-măo (5-3-43 AD). 

Sau này, có nhiều nơi dựng đền thờ Hai Bà: tại làng Đồng-nhân (Hà-nội) có ngôi đền xây từ năm Nhâm-tuất (1142), đời Lư Anh-Tông, Đại-định thứ 3; tại làng Hát-môn có Miếu Hát, thuộc huyện Phúc-thọ, tỉnh Sơn-tây, cách Hà-nội khoảng 30 km về phiá tây-bắc. 

Triều Hậu-Lê (1428-1788) có cho soạn bộ Hoàng Việt Thần-kỳ Tổng-sách 皇越神總冊chép các thần-kỳ được phụng-tự từ đời Trần trở về trước. Sách này (tr. 43) có chép về Trưng-nữ-vương như sau:

"Phụng án quốc-sử, hai bà đều là con gái lạc-tướng, họ Trưng , người chị tên là Trắc (14-43), là vợ cuả Thi Sách詩索, bị thứ-sử Tô-Định giết chết, phu-nhân báo thù, cùng với em tên là Nhị (14-43) dấy binh tấn-công, Định chạy trốn, phu-nhân lược-định được hơn năm mươi thành, tự lập làm vua, đóng đô ở Mê-linh. Lịch-triều có bao phong làm Tối-linh Đại-vương, được sáu xă cùng cung phụng". 

Sử-gia Ngô Sĩ Liên có b́nh-luận:

"Bà Trưng căm giận Hán Thái-thú bạo ngược, phất cờ nương-tử mong phục-hợp nước Việt ta. Bà anh-hùng khí-khái, chẳng những lúc sinh tiền dựng nước, xưng vương, mà sau khi mất vẫn c̣n tảo-tai, ngự-hoạn, phàm ai gặp tai thương, hạn-hán, cầu đảo đều ứng-nghiệm. Bà Trưng Nhị cũng thế.

Sử-gia Lê-văn Hưu có phát-biểu ư-kiến như sau:

"Trưng-Trắc và Trưng-Nhị là đàn-bà nổi lên đánh lấy được 65 thành-tŕ, lập quốc, xưng vương dễ như trở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho tới đời nhà Ngô, hơn một ngh́n năm, người ḿnh cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ người Tầu há không biết xấu hổ với người đàn-bà họ Trưng."  

Sử-thần Ngô Thời Sĩ có viết về công-tích cuả Hai Bà như sau:

"Ôi! Giao-chỉ là nước Thục không giữ được mà mất vào tay nhà Triệu; Nam-hải, Thương-Ngô, Uất-lâm, Hợp-phố là đất Triệu không giữ nổi mà bị Hán thôn-tính. Họ Trưng chỉ là môt vụ-nữ Giao-chỉ, không có đến một tấc đất, một người dân, cử binh báo thù chồng, vẫy tay mà sáu bộ đều theo, chiếm được cảnh-thổ cuả 56 thành, dễ như chẻ tre, làm cho những kẻ thủ-ủy 150 năm qua phải bó tay, ai có thể làm được chuyện đó?

Phẩm-b́nh về công-nghiệp lừng-lẫy cuả Hai Bà, sách Việt-sử Lịch-đại Tổng-luận viết như sau:

"Trưng-Trắc v́ muốn báo thù chồng nên cùng em là Trưng-Nhị khởi-nghiă, đánh một trận mà lược-định được 65 thành-tŕ, tự-lập làm vua, ấy cũng là bậc anh-kiệt trong đám nữ-lưu vậy.

Sách Hồng-đức Quốc-âm Thi-tập cuả Tao-đàn Nhị-thâp-bát Tú có bài thơ Vịnh Hai Bà: 

Giúp dân dẹp loạn trả thù ḿnh,

Chị rủ cùng em kết nghiă-binh.

Tô-Định bay hồn vang một trận,

Lĩnh-nam mở cơi vững trăm thành.

Mới dày bảo-vị gia ơn trọng,

Đă đội hoa-quan xuống phúc lành.

C̣n nước, c̣n non, c̣n miếu-mạo,

Nữ-trung đệ-nhất đấng tài-danh. 

Vua Tư-Đức có lời phê-phán rằng: 

"Hai Bà Trưng là khách quần-thoa, thế mà ḷng hăng việc nghiă, c̣n làm rung động được nhà Hán! Dẫu thế-lực yếu, thời-vận ngửa-nghiêng, cũng đủ dấy dức ḷng người, rỡ-ràng sử sách. Những kẻ nam-nhi hồi ấy, râu mày thế kia, mà phải khép nép vạt áo, khúm núm thờ người Hán, chẳng cũng mặt dầy, thẹn chết lắm ru!" 

Tướng-công Hoàng Cao Khải có làm bài thơ sau đây: 

Trưng-Vương

                             Tượng đá trời nam giăi tuyết sương,

                             Ngh́n năm công-đức nhớ Trưng-Vương.

                             Tham tàn trách bởi quan gây biến.

                             Oanh liệt khen cho gái dị-thường !

                             Liều với non sông hai má phấn,

                             Giành nhau ṇi giống một da vàng.

                             Cột đồng Đông-Hán t́m đâu thấy.

                             Chỉ thấy Tây-hồ bóng nước gương.

Cụ Cử Dương Bá Trác (1884-1944) có bài thơ  sau đây: 

Vịnh Hai Bà Trưng

Nước nhà gặp cơn bĩ,

Trách-nhiệm gái trai chung.

Quyết lo đền nợ nước,

Há những vị thù chồng.

Tham-tàn căm tướng chệt,

Tai mắt tủi ṇi hồng.

Em ơi đứng cùng chị,

Thù riêng mà nghiă công.

Xin đem phận bồ liễu,

Đành liều với non sông.

Một trận đuổi Tô-Định,

Quân Tầu đuôi chạy cong.

Lĩnh-nam bẩy mươi quận,

Mặc sức ta vẫy vùng.

Mê-linh dựng nghiệp đế,

Độc-lập nêu cờ hồng.

 

Bốn năm nước tự-chủ ;

Nhi-nữ cũng anh-hùng. 

Sách Hậu-Hán-thư cũng có ghi sự-tích Hai Bà nhưng lời lẽ khiếm-nhă và bất kính nên không chép vào đây.
 

PHỤ-LỤC I

Phiếm-luận về Âu-lạc 

Hai chữ âu và âu đồng-âm (âu = Ô hầu thiết, Thuyết-văn). Cho nên Âu chỉ bộ-tộc sống ở ven nước. Trong Cổ-đại Nam-phương Kiến-quốc Khảo, Lưu Sư-Bồi nói: "Âu âm âu nghiă là ẩn giấu nơi khi-khu. Từ đó chữ âu có nghiă là khuất-khúc. Sở dĩ gọi là âu bởi v́ có nhiều rừng rú hiểm-trở." Ta thấy rằng phương Nam nhiều rừng núi hiểm-trở, khe, hang, hồ, chằm, nên gọi cư-dân vùng đó là Âu-nhân甌人. Âu (cũng viết là , , là tộc-xưng thời cổ cuả Việt-nhân. Dật Chu Thư chép: "Y, Doăn là quan lệnh bốn phương: chính đông có Việt-Âu越漚, chính nam có Âu-nhân甌人". Trong Lộ-sử路史, La-Bí 羅泌đời Tống chép: "Việt-Âu tại huyện Lạc-lê洛黎, Hơp-phố. Âu-ấp甌邑, Thả-Âu 且甌không chú điạ-vọng. Âu-Ngô區吳 là chỉ khu đông đất Mông tức Lệ-phố thời Hán. Âu-dư 甌餘chỉ núi Âu-dư cách Ô-tŕnh 20 dặm về phiá đông. Âu-đặng 甌鄧thuộc điạ-cảnh nước Sở. Thời-đại Chu Tần, người ta thường gọi người Việt miền duyên-hải đông-nam là Âu-nhân, Thả-Âu且甌, Âu-thâm, Việt-Âu. Gọi người Lĩnh-nam là Lộ-nhân路人, Âu-đặng 甌鄧và Lạc-Việt駱越.

 

PHỤ-LỤC II 

BÁCH-VIỆT LƯỢC-KHẢO 

Bách-Việt là tổng-xưng cuả một chủng-tộc nói vài phương-ngữ Cổ-Bách-Việt và sinh hoạt tại phiá nam sông Dương-tử, tức thị dải đất 78,000 dặm chạy dài từ Giao-chỉ lên đến Cối-kê. Đời Nhà Hạ (2183-1752 BC?) th́ gọi là Vu-Việt于越, Đời Nhà Thương/Ân (1751-1112 BC) đổi tên là Man-Việt 蠻越hoặc Nam-Việt南越, đời Nhà Chu (1111-249 BC) xưng là Dương-Việt 揚越hay Kinh-Việt, sang đời Chiến-quốc (403-422 BC) mới đổi thành Bách-Việt 百越. Lạc-Việt chính là một chi cuả Bách-Việt. Thời Tần-Hán, sử-tịch gọi người phương bắc nước Tầu là Hồ tức là Hung-Nô, người phương nam là Bách-Việt.

 

Do phát-triển và biến-hoá lịch-sử, thời Sơ-Hán, Bách-Việt-tộc dần dần h́nh thành với vài phần tương-đối cường-thịnh là Đông-Âu, Mân-Việt, Nam-Việt, Tây-Âu và Lạc-Việt.

Đông-Âu ứng với Ôn-châu (miền nam tỉnh Chiết-giang); Mân-Việt ứng với dải đất tỉnh Phúc-kiến (Phúc-châu); Nam-Việt là cảnh-điạ tỉnh Quảng-đông, sau nay lan đến tỉnh Quảng-tây và điạ-khu phiá nam; Tây-Âu đại-khái là miền tây tỉnh Quảng-đông và miền nam tỉnh Quảng-tây; Lạc-Việt là Bắc-Việt-Nam và đảo Hải-nam. Vân-nam có Điền-Việt  滇, Bắc-Miến có Việt-thường : các vùng này đều tổ-chức thành trung-tâm chính-trị. Tỷ như bảo thế-hệ đầu Vua Mân-Việt là Vô-Chư, thế-hệ đầu Vua Đông-hải là Sô-Dao cho chí Vua Nam-Việt Triệu-Đà đều từng hống-hách một thời-gian không phải là ngắn.

Về sau, các trung-tâm chính-trị này đều bị Hán Vũ-đế chinh-phục và đổi thành quận-huyện cuả Hán-triều. Từ đó, ít ai nói đến Việt-tộc.

Về mặt ngôn-ngữ, Việt-tộc có tiếng nói riêng cuả họ. Đặc-điểm là phát-âm nhậm lẹ và có nhiều từ khác với Hán-ngữ : về danh-từ có những âm-xuyết (syllable) kép và có cả liên-âm nữa ; vi-trí giữa các từ (tĩnh-từ và trạng-từ) được đặt sau danh-từ hoặc động-từ như trong Pháp-ngữ vậy. Các cổ-thư như Quốc-ngữ, Việt Tuyệt Thư, Ngô Việt Xuân Thu đều có ghi một ít Việt-ngữ-từ. Theo Hán-ngữ Cổ-âm-học, Cổ-Việt-ngữ nếu đem đối chiếu thượng-cổ-âm, trung-cổ-âm và Tráng-ngữ ta sẽ phát-hiện quan-hệ với Tráng-Đồng-ngữ. Từ đó ta có thể nghiệm thấy rằng Mân-Việt, Âu-Việt, Nam-Việt, Lạc-Việt-ngữ thời cổ đại-khái hỗ-thông.

Cổ-Việt-ngữ là một loại trước-giao-ngữ (tiếng đọc dính vào nhau) khác với Hán-ngữ ở chỗ Hán-ngữ đơn-âm thành nghiă, c̣n Cổ-Việt-ngữ đa-âm nên 1 chữ Hán khi chuyển-ngữ thành ra 2 chữ. Vd : ái (yêu) = linh-thức ; thục (chín) = hú hà. Chứng tỏ Bách-Việt-ngữ thời cổ là một ngôn-ngữ độc-lập.

Cổ-Việt-ngữ và Cổ-Hán-ngữ khác nhau rất nhiều. Ngày nay hai dân-tộc Tráng-Đồng và Miêu-Dao ở Nam-Hoa có nhiều điểm giống với Cổ-Bách-Việt-tộc về mặt ngôn-ngữ, văn-hoá và tập-tục. Ngoài ra, người Lào cuả Ai-lao, người Đàn cuả Miến-diện, người Kinh và người Mán cuả ta có quan-hệ mật-thiết với Cổ-Bách-Việt. 

Trong Lộ-sử路史, người đời Tống La-Bí羅泌 nói:

"Việt-thường越裳, Lạc-Việt雒越, Âu-Việt甌越, Âu-khải, Thả-Âu且甌, Tây-Âu西甌, Cung-nhân供人, Mục-thâm目深, Thôi-phu摧夫, Cầm-nhân禽人, Thương-Ngô蒼吳, Việt-Âu越區, Quế-quốc桂國, Tổn-tử損子, Sản-lư產里, Hải-quư海癸, Cửu-khuẩn九菌, Kê-dư稽餘, Bắc-đới北帶, Bộc-câu僕句, Âu-Ngô區吳, gọi chung là Bách-Việt." 

Trong Bài Tựa sách Bách-Việt Tiên-Hiền-Chí (1E, tr. 5), Âu Đại Nhậm (1516-1595) viết:

Hai chữ Việt và Việt ngày xưa dùng thông nhau. Vũ-cống là một vùng vuông vắn ngoài cơi Dương-châu từ Ngũ-lĩnh ra đến bờ biển. Đó là miền cuả Việt-tộc hậu-duệ cuả Vua Hạ-Vũ, làm thành các nước chư-hầu Bách-Việt vùng Cối-kê. Thiếu-Khang phong thứ-tử Vô-Dư ở Cối-kê để phụng thờ vua Vũ. Họ xâm ḿnh, cắt tóc, phạt cỏ mà lập ấp. Hơn hai mươi đời sau, con cuả Doăn Thường là Câu Tiễn nổi lên diệt Ngô rồi xưng vua, đóng đô ở Lang-gia hùng-cứ một phương. Trải sáu đời đến Vương Vô Cương phạt sở, bị Sở Hùng Thương đánh bại. Vô Cương dời Lang-gia để dừng lại ở Đông-vụ. Tộc Việt phải phân-tán, hoặc làm vua, hoặc làm quân-trưởng suốt miền duyên-hải Giang-nam, thần-phục nước Sở. Đó là Bách-Việt. Lại thêm phân-dă Dương-châu: từ Cối-kê xuống Nam thuộc Tinh-kỷ, Thuần-vỹ. Kịp khi Doanh-Tần diệt Sở, Vương-Tiễn từ từ chia Dương-Việt thanh ba quận: Nam-hải, Quế-lâm và Quận-uỷ. Đến khi con cháu là Đà quy-phục Nhà Hán, lại chia thành chín quận: Hợp-phố, Thương-ngô, Uất-lâm. Giao-chỉ, Cửu-chân, và bốn quận Đảm, Nhĩ, Châu, Nhai nữa là chín. Bấy giờ từ miền Cô-tế cuả Nam-Việt đến tận Cối-kê là Phù-Việt; từ kinh-đô Đông-trị cuả Vô-chư đến Chương-tuyền là Mân-Việt; Đông-hải Vương-Dao đóng đô ở Vĩnh-gia và gọi nưóc ḿnh là Âu-Việt; Dịch-hu, đất Tống cũ Tương-Ly trở về nam là Tây-Việt; Tường-ca, Tây-hạ, Ung-dung, Tuy-kiến là Lạc-Việt. Người Hán bảo rằng người Việt ở gần biển nên có tê-giác, đồi-mồi, châu ngọc, kim-khí bạc, đồng và vải vóc. Tuy nhiên, dương-đức thịnh, chung đúc nên nhân-văn, y-quán tuy không bằng thịnh-giáo Đương-Ngu nhưng cũng biết tế Nam-giao. Ta có nghe Thái Sử Công (Tư-mă Thiên) nói rằng: Việt tuy man-di nhưng há trước chẳng đă có đại-công-đức với dân sao?

Thần-dân Việt-tộc có công-nghiệp văn-chương rải rác khắp 78000 dặm từ Bột-hải đến Giao-châu, đă đem lại nhiều công-ích cho đời. Bởi vậy, sách vở từ Chu đến Hán đă sưu tầm được 120 đại-hiền, tiểu-hiền nay thâu tóm cả vào đây từ đầu đời Chương Vũ Hoàng cho đến tận Đường, Tống, gọi chung là Bách-Việt Tiên-hiền.

Gia-tĩnh năm thứ 33, tháng 11, ngày Trường-chí, Lĩnh-nam Âu Đại Nhậm viết  Tựa 

Trong số 120 tiên-hiền này có rất nhiều nhân-vật quen thuộc như: Tướng-quốc Phạm Lăi, Đại-phu Chủng, Chu Măi Thần, Nghiêm Quang (người đă hănh-diện được gác chân lên bụng Hán Vũ-đế khi ngủ), Vương Sung (27-97?), tác-giả cuả hai sách Luận-hành và Luận-tính, Trương Trọng, Lư-Tiến, danh-y Biển Thước, Chung Ly Ư, Mạnh Thường, Từ Trĩ, Lưu Hi (Thứ-sử Giao-châu và là tác-giả sách Thích Danh), Sái-Luân 蔡倫 (tự Kính-trọng 敬仲, người đă phát-minh ra giấy hồi thế-kỷ 1 AD), hai nhà trị Dịch thời Tam-quốc là Lục-Tục (187-219) và Ngu Phiên (164-233).

Ngoài ra, truyện Trần-Chẩn trong Tư-mă-Thiên Sử-kư (3H) có chép:

Đời Xuân-Thu, Việt-nhân Trang-Tích ở nước Sở được khá lâu th́ nhuốm bệnh. Vua Sở muốn biết Trang-Tích làm quan được phú-quư ở Sở có c̣n nhớ nước cũ hay không, bèn hỏi triều-thần th́ có quan thị-ngự Trung Tạ tâu rằng: "Phàm người ta hay nhớ đến cố-hương khi đau ốm. Nếu Trang-Tích nhớ đến nước Việt th́ sẽ hát bằng tiếng Việt, bằng không sẽ hát bằng tiếng sở". Vua nghe bàn có lư, bèn cho người đi ḍ xét. Quả nhiên nghe thấy Trương-Tích hát bằng tiếng Việt giọng bi ai sầu thảm. Trang-Tích bị tri-tội. Bạch-Cư Dị có câu thơ: "Bệnh thiêm Trang-Tích ngâm thanh khổ" (Tiếng ngâm cuả Trang-Tích khi lâm bệnh nghe ai oánlàm sao). Tô-Triệt, thân-phụ cuả Tô Đông-Pha, cũng có câu thơ: "Bệnh ức cố-hương đồng Việt Tích" (Bệnh nhớ cố-hương như Việt-nhân Trang-Tích). Từ đó về sau, sử sách c̣n ghi măi tấm gương nhớ nước sáng ngời cuả Việt-nhân Trang-Tích.

Đại-Nam Quốc-sử Diễn-ca (5R, tr. 84, câu 560, đoạn nói về Mai Hắc-đế) cũng có câu lục-bát ca ngợi những người Việt yêu nước qua các thời-đại:

Vận đời c̣n chửa hanh thông,
Nước non để giận anh-hùng ngh́n thu.

Tư-tưởng nổi bật cuả liệt-vị tiên-hiền kể trên xoay quanh các đề-tài chính: Thuyết Âm Dương, Thuyết Tam Tài, Dịch-đạo tức Đạo sống cuả Đại-nhân, Quân-tử, Hiếu-đạo (không những đối với tổ-tiên xa gần mà c̣n đối với tổ-quốc và vũ-trụ nữa), Triết-lư nông-nghiệp định-cư, Đạo sống thiên-nhiên cuả con người.


Bách-Việt Tiên-Hiền-Chí Tự Tự

Xin nhắc lại một sử-kiện bất-hạnh. Giữa năm Nhâm-tư (1792), khi vua Quang-Trung thấy binh-lực nước ta đă đủ sức chống chọi với quân Tầu, mới sai tướng Vũ Văn Dũng đi sứ sang Tầu dâng biểu cầu hôn và đ̣i vua Thanh trả lại Việt-Nam đất Lưỡng-Quảng.

Bất ngờ, vua Quang-Trung mắc bạo bệnh thăng-hà, các quan vội d́m đi vụ cầu-hôn và đ̣i đất cuả Bách-Việt xưa. Chắc lúc cùng các danh-sĩ thời đó như La-sơn Phu-tử, Ngô Th́ Nhậm, Phan Huy Ích thảo chiếu đ̣i đất Lưỡng-Quảng, vua Quang-Trung phải đưa các chứng-cớ chắc chắn và bất khả tư ngh́ nào đó mà ngày nay chúng ta chẳng bao giờ t́m lại được.

 

PHỤ-LỤC III 

Đại-Nam Quốc-Sử Diễn-ca
 

Đây là các đoạn trích từ Đại-Nam Quốc-sử Diễn-ca (5M, tr. 39, 40-41, 41, 42-43, 64-66) mà hồi ở Trung-học, chúng ta đều có học qua.

 

NHÀ HỒNG-BÀNG

(2879-258 BC)

 

Ngh́n thu gặp hội thăng-b́nh,

Sao Khuê (1) sáng vẻ văn-minh giữa trời.

Lan-đài (2) dừng bút thảnh thơi,

Vâng đen quốc-ngữ diễn lời sử xanh.

Nam-giao (3) là cơi ly minh (4),

Thiên-thư định phận (5) rành rành từ xưa.

Phế-hưng đổi mấy cuộc cờ,

Thị-phi chép để đến giờ làm gương.

 

KINH-DƯƠNG-VƯƠNG

 

Kể từ trời mở viêm-bang (6),

Sơ đầu có họ Hồng-Bàng mới ra.

Cháu đời Viêm-đế (7) thứ ba,

Nối ḍng hoả-đức (8) gọi là Đế Minh.

Quan-phong (9) khi giá nam-hành,

    Hay đâu Mai-lĩnh (10) duyên sinh Lam-kiều (11).

Vụ-tiên vừa thuở đào yêu (12),

Xe loan nối gót tơ điều kết duyên.

Ḍng thần sánh với người tiên,

Tinh-anh nhóm lại thánh-hiền nối ra.

Phong làm quân-trưởng (13) nước ta,

Tên là Lộc-Tục, hiệu là Kinh-dương.

Hoá-cơ (14) dựng mối luân-thường.

Động-đ́nh sớm kết với nàng Thần-long.

Bến hoa ứng vẻ lưu-hồng (15),

Sinh con là hiệu Lạc-long trị-v́.

 

LẠC-LONG-QUÂN VÀ ÂU-CƠ

 

Lạc-long lại sánh Âu-ky (20),

Trăm trai điềm ứng hùng-bi (16) lạ dường.

Noăn-bào (17) dù chuyện hoang-đường,

Ví xem huyền-điểu (18) sinh Thương khác ǵ?

Đến điều tan-hợp cũng kỳ,

Há v́ thủy hoả sinh ly như lời.

Chia con sự cũng lạ đời,

Quy-sơn, quy-hải khác người biệt-ly.

Lạc-long về chốn nam-thùy (19),

Âu-cơ (20) sang nẻo Ba-v́ Tản-viên (21).

Chủ-trương chọn một con hiền,

Sửa sang việc nước nối lên ngôi rồng.

 

HÙNG-VƯƠNG VÀ NƯỚC VĂN-LANG

 

Hùng-vương đô ở châu Phong (22),

Ấy nơi Bạch-hạc (23) hợp ḍng Thao-giang (24).

Đặt tên là nước Văn-lang,

Chia mười lăm bộ, bản chương (25) cũng liền.

Phong-châu, Phúc-lộc, Chu Diên,

Nhận trong điạ-chí về miền Sơn-tây;

Định-yên, Hà-nội đổi thay,

Ấy châu Giao-chỉ xưa nay c̣n truyền;

Tân-hưng là cơi Hưng, Tuyên,

Vũ-ninh tỉnh Bắc, Dương-tuyền tỉnh Đông;

Thái, Cao hai tỉnh hỗn-đồng,

Ấy là Vũ-định (26) tiếp cùng biên-manh (27);

Hoài, Hoan: Nghệ; Cửu-chân: Thanh;

Việt-thường là cơi Trị, B́nh trung-châu.

Lạng là Lục-hải thượng-du,

Xa khơi Ninh-hải thuộc vào Quảng-yên.

B́nh-văn, Cửu-đức (28) c̣n tên,

Mà trong cương-giới sơn-xuyên chưa tường.

Trước sau đều gọi Hùng-vương,

Vua thường nối hiệu, quan thường nối tên.

Lạc-hầu là tướng điều-nguyên (29),

Vũ là Lạc-tướng giữ quyền quân-cơ ;

Đặt quan Bồ-chính hữu-tư,

Chức-danh một bực, đẳng-uy (30) một loài.

 

 

HAI BÀ TRƯNG DỰNG NỀN ĐỘC-LẬP

 

Đường-ca (31) lâu đă vắng lời,

Đến như Tô-Định lại người chí-hung.

Bà Trưng quê ở châu Phong,

Giận người tham-bạo thù chồng chẳng quên.

Chị em nặng một lời nguyền,

Phất cờ nương-tử (32) thay quyền tướng-quân.

Ngàn  Tây (33) nổi áng phong-trần (34),

Ầm ầm binh-mă xuống gần Long-biên (35).

Hồng-quần nhẹ bước chinh-yên (36),

Đuổi ngay Tô-Đinh dẹp tan biên-thành.

Đô-kỳ đóng cơi Mê-linh (37),

Lĩnh-nam (38) riêng một triều-đ́nh nước ta.

Ba thu gánh vác sơn-hà,

Một là báo phục, hai là bá-vương.

Uy-thanh động đến Bắc-phương,

Hán sai Mă-Viện lên đường tiến-công.

Hồ Tây (39) đua sức vẫy-vùng,

Nữ-nhi chống với anh-hùng được nao?

Cấm-khê (40) đến lúc hiểm nghèo,

Chị em thất-thế cũng liều với sông.

Phục-ba mới dựng cột đồng (41),

Ải-quan truyền dấu biên-công cơi ngoài.

Trưng-vương vắng mặt c̣n ai ?

Đi về thay đổi mặc người Hán-quan.

 

CHÚ-THÍCH: (1) Sao Khuê : tức  Khuê-mộc-lang 木狼 (tú thứ 15), chủ về sự hưng-thịnh cuả văn-học.  (2) Lan-đài : thời Hán là nơi chứa sách trong cung, có quan ngự-sử trung-thừa ngồi chép sử; ngày nay ta gọi là Viện Sử-học.  (3) Nam-giao : cơi nam.  (4) Ly-minh : ánh sáng cuả quẻ ly % hậu-thiên ở phương Nam, ư nói nước ta ở về phương Nam.  (5) Thiên-thư định-phận: đă định rơ trong sách trời. Thơ Lư-Thường Kiệt: Nam-quốc sơn-hà nam-đế cư. Tiệt nhiên định-phận tại thiên-thư. Như hà nghịch-lỗ lai xâm-phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Ư nói : đất nước Nam th́ Vua Nam ở, đă định rơ ràng trong sách trời, giặc ngoài có đến xâm-chiếm rồi cũng sẽ bị đánh bại.  (6) Viêm-bang: nước xứ nóng, phương Nam thuộc hoả, ư nói nước ta.  (7) Viêm-đế 炎帝: tức vua Thần-nông 神農, người đă dạy dân làm ruộng và là thủy-tổ cuả ngành Đông-dược.  (8) Hoả-đức: ḍng dơi vua Thần-nông lấy hành Hoả làm đức.  (9) Quan-phong: đi quan-sát phong-tục cuả dân.  (10) Mai-lĩnh : tên một ngọn núi ở phiá Nam nước Tầu, giữa tỉnh Giang-tây và tỉnh Quảng-đông.  (11) Lam-kiều: Bùi Hàng gặp tiên-nữ Vân-Anh ở Lam-kiều, nên sau dùng tiếng ghép Lam-kiều để chỉ duyên tốt cuả vợ chồng.  (12) Đào yêu: quả đào sắp chín, chỉ con gái đến tuổi lấy chồng. Lấy ư từ ba bài thơ "Đào Yêu" cuả Thiên "Chu Nam Quan Thư" trong Kinh Thi (1H, tr. 279c): "Đào chi yêu yêu, Chước chước kỳ hoa. Chi tử vu-quy, Nghi kỳ thất-gia. 桃之夭夭。灼灼其華。之子于歸。宜其室家。Mơn mởn bông đào, Rờ rỡ làm sao. Gả con gái, Nên thành gia-thất."  "Đào chi yêu yêu, Hữu bí kỳ thực. Chi tử vu-quy, Nghi kỳ gia-thất. 桃之夭夭。有其實。之子于歸。宜其家室。Hoa đào mơn mởn. Có quả sai nhiều. Gả con gái, Nên thành gia-thất."  "Đào chi yêu yêu, Kỳ diệp trăn trăn. Chi tử vu-quy, Nghi kỳ gia-nhân. 桃之夭夭。其葉蓁蓁。之子于歸。宜其家人。Hoa đào mơn mởn. Cành lá xum xuê. Gả con gái, Nên phụng-dưỡng nhà chồng." Kiều : Vẻ chi một đoá yêu đào.  (13) Quân-trưởng: vua.  (14) Hoá-cơ: nền móng cuả phong-hoá.  (15) Lưu-hồng流虹: cầu vồng trôi. Xưa có người đàn-bà nằm mộng thấy cầu ṿng trôi ở bến sông Hoa, sau sinh con làm vua. Ư nói điềm lành sắp sinh quư-tử.  (16) Hùng-bi: các giống gấu; nằm mơ thấy gấu là điềm sắp sinh con trai.  (17) Noăn-bào: bọc trứng. Tục truyền bà Âu-cơ đẻ ra bọc trăm trứng, sau nở ra trăm con trai.  (18) Huyền-điểu : một thứ chim lông đen tức là chim én. Bà tổ nhà Thương nằm mơ nuốt trứng chim én, sau con cháu làm vua.  (19) Nam-thùy: biên giới miền Nam tức miền biển.  (20) Cơ: cũng đọc là ky, mỹ-từ để chỉ đàn-bà, con gái.  (21) Ba-v́ Tản-viên: tức núi Tản, cao 1250 m thuộc điạ-hạt tỉnh Sơn-tây.  (22) Châu Phong: tức Phong-châu, tức Mê-linh (xem số 37).  (23) Bạch-hạc: tên làng, nay thuộc xă Phong-châu, tổng Nghiă-yên, huyện Bạch-hạc, Phủ Vĩnh-tường, tỉnh Vĩnh-yên. Làng này là quê tôi.  (24) Thao-giang洮江: sông Thao, khúc sông Hồng chẩy qua Bạch-hạc, Việt-tŕ.  (25) Bản-chương: Bản đồ.  (26) Vũ-định: nay là hai tỉnh Cao-bằng, Thái-nguyên.  (27) Biên-manh: biên-thùy.  (28) Cửu-đức: nay là tỉnh Hà-tĩnh.  (29) Điều-nguyên: trông coi việc cai-trị.  (30) Đẳng-uy: thứ bực và quyền-hành.  (31) Đường-ca : bài hát dân khen quan tốt.  (32) Nương-tử : người con gái.  (33) Ngàn Tây: núi rừng phương Tây, tức là tỉnh Sơn-tây (Phong-châu thuộc tỉnh Sơn-tây cũ).  (34) Phong-trần : gió bụi ; tả cảnh quân-mă kéo đi thành gió cuốn bụi mù.  (35) Long-biên龍編: trị-sở Giao-châu ở vùng Thuận-thành, tên cũ là Long-nguyên 龍源hoặc Long-uyên龍淵; về sau có giao-long bơi lội ở đó nên mới đổi thành Long-biên ; sách ta thường chép lầm là ở Hà-nội. Đời nhà Lư đóng đô tại đó và đổi tên là thành Thăng-long. Nhà Trần và nhà Lê vẫn giữ nguyên tên này. Ngày nay Long-biên tương-đương với các tỉnh Bắc-ninh, Bắc-giang, Thái-nguyên, Bắc-cạn và Cao-bằng. (36) Chinh-yên : chiến-mă tức ngựa cưỡi để đánh giặc.  (37) Mê-linh : trong Vân Đài Loại-ngữ (5Q), Lê Quư Đôn viết: "Mê-linh tức Phong-châu. Lại nói Phong-châu tức Yên-lăng." Điạ-lư-chí đời Đường chép: "Mê-linh là đất hai huyện Phúc-lộc và Đường-lâm." Văn-hiến Thông-khảo chú rằng: "Gia-ninh, Thừa-hoá đều là đất huyện Mê-linh đời Hán." Tân-Đường-thư chép: "Phong-châu gồm 5 huyện : Gia-ninh, Thừa-hoá, Tân-xương, Cao-thượng, Châu-lục. Ắt Mê-linh tức Phong-châu." Lịch-triều Hiến-chương Loại-chí, thiên Dư-điạ-chí, mục Sơn-tây Vĩnh-tường-phủ chép: "Bạch-hạc-huyện, cổ Phong-châu." Trong Việt-Nam Cổ-đại-sử (Q.4, Ch. 3 : Ba quận cuả Giao-chỉ-bộ), Cụ Đào Duy Anh chép: "Huyện Mê-linh : huyện-lỵ Mê-linh nay tại làng Hạ-lôi, huyện Yên-lăng, tỉnh Phúc-yên." Thái-b́nh Hoàn-vũ-kư, đời Đường, nhận thấy rằng: "Ba huyện Gia-ninh, Tân-xương và Thừa-hoá là do Phong-châu chia ra mà thành. Huyện Gia-ninh thuộc điạ-hạt Phúc-yên, Tân-xương thuộc điạ-hạt Vĩnh-yên, Thừa-hoá ắt tại tây-nam Phong-châu, thuộc vào cảnh-nội Sơn-tây." Vô h́nh trung có thể nói như thế này: Huyện Mê-linh tương đương với điạ-khu Vĩnh-yên (bao gồm thị-trấn Vĩnh-yên = Tân-xương), Phúc-yên (bao gồm huyện Yên-lăng và làng Hạ-lôi) cùng với dải đất Sơn-tây chạy dọc giữa sông Hồng và sông Đáy. Trong bài "Đường-đại thịnh-thời dữ tây-nam lân-quốc chi cương-giới" đăng trong tập-san "Trung-ương nghiên-cứu-viện Ngữ-ngôn Nghiên-cứu-sở, bản số 59, số 4, Đài-bắc, tháng 12-1988" Giáo-sư Canh Vọng có đề ra là Phong-châu ngày nay nằm tại khoảng hợp-lưu cuả sông Lô và sông Hồng và có toạ-độ điạ-lư là : E 105025’ · N21020’.  (38) Lĩnh-nam : Lĩnh-nam là phiá nam núi Ngũ-lĩnh. Núi này nằm tại phiá bắc tỉnh Quảng-tây.  (39) Hồ Tây: tức hồ Lăng-bạc, nay nằm tại phiá Bắc thành-phố Hà-nội.  (40) Cấm-khê : nay thuộc phủ Vĩnh-tường, tỉnh Vĩnh-yên.  (41) Cột đồng: trước khi rút quân về Tầu, Mă-Viện sai thuộc-hạ dựng cột đồng nơi ranh giới Giao-chỉ để ghi vơ-công cuả ḿnh. Bây giờ không biết cột đồng ấy ở đâu. Các sách Tầu và ta đều nói là ở vùng Lạng-sơn, chắc là lầm. Có thuyết cho rằng ở gần Đèo Ngang, phiá nam Hà-tĩnh, trên đảo con ở vũng chuà. Đó là ranh-giới nước Hán, hồi đó gồm cả Giao-chỉ.

        

 

   

 

    Xem Kỳ 56

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com