www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 05

 

DỊCH TIỀN ĐỀ

 

 

(Tiếp theo Kỳ 53)

 

HAI NGÀY LỄ LỚN
 

Nước ta có hai ngày lễ lớn là ngày Giỗ Tổ Hùng-Vương mùng 10 tháng 3 âm-lịch và Ngày Lễ Kỷ-niệm Hai Bà Trưng mùng 6 tháng 2 âm-lịch. 

QUỐC TỔ HÙNG-VƯƠNG VÀ TỔ-QUỐC 

Cây có cội, nước có nguồn, con người có tổ-tiên. Uống nước nhớ nguồn và

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
Ăn gạo nhớ kẻ cấy cầy giă xay.

Lần giở thế-giới-sử, nuớc Việt ta là nước duy-nhất trên toàn cầu có Ngày Giỗ Tổ. Hằng năm vào ngày mùng 10 tháng 3 âm-lịch, toàn dân trong cũng như ngoài nước, cử hành Ngày Giỗ Tổ mà dân-gian quen gọi là Ngày Hội Đền Hùng. Trong câu ca dao:

  Tháng giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè.

hiển nhiên hội hè ám chỉ Hội Đền Hùng.
Ngoài ra cũng có vài câu ca dao khác nhắc đến ngày hội độc đáo này: 

Hội Hùng trong tiết tháng ba,
Có đi giỗ Tổ mới là người Nam.

Ai về Phú-thọ cùng ta,
Nhớ ngày Giỗ Tổ tháng ba mùng mười.
 

Dù ai đi gần về xa,
Nhớ ngày Giỗ Tổ tháng ba mùng mười.
 

Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba.
 

Tiện đây xin ghi lại câu đối về Ngày Giỗ Tổ cuả thi-sĩ Tản-Đà Nguyễn Khắc-Hiếu (1888-1939):

          Có tổ, có tông, tổ tổ tông tông, tông tổ cũ;
         
C̣n non, c̣n nước, non non nước nước, nước non nhà.

Ngoài ra, tại Đền Nội cũng c̣n treo nhiều câu đối khác viết từ hồi Pháp-thuộc như:

          Bán quy sơn, bán quy hải;             半歸山,半歸海;

          Nhất viết long, nhất viết tiên,         一曰龍,一曰仙。

Có nghiă là:

          Nửa lên núi, nửa xuống biển;
          Một rằng rồng, một rằng tiên.

Chính tại Điện Nội Đền Hùng có treo bức hoành-phi:

(Vi Bách-Việt chi tổ = Là tổ cuả Bách-Việt). 

Theo truyền-thuyết, Đế Minh 帝明, cháu ba đời Viêm-đế 炎帝, họ Thần-nông 神農, khi đi tuần-thú phương nam đến núi Ngũ-lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ-nam bên Tầu), gặp nàng Vụ-Tiên, mới đem ḷng yêu mến cưới về, sinh hạ được một người con trai đặt tên là Lộc-Tục祿續, dung-mạo đoan-chính, thông-minh túc-thành. Đế Minh lấy làm lạ, cho nối ngôi vua nhưng Lộc-Tục cố nhường cho anh ḿnh. Đế Minh bèn lập Đế Lai 帝萊 làm tự-quân cai-trị phương Bắc và phong cho Lộc-Tục làm Kinh-Dương-Vương cai-trị phương Nam, đặt quốc-hiệu là Xích-Quỷ-Quốc赤鬼國, trải rộng trên vùng đất phiá bắc giáp Động-đ́nh-hồ, phiá nam giáp nước Hồ-tôn tức Chiêm-thành, phiá tây giáp Ba-Thục 巴蜀 (nay là tỉnh Tứ-xuyên), phiá đông giáp Nam-hải.

Kinh Dương Vương thành-hôn với con gái Động-đ́nh-quân là Long-nữ, sinh ra Sùng-Lăm . sau lên ngôi xưng là Lạc-Long-Quân 貉龍君.

Lạc-Long-Quân kết duyên với một Tiên-nữ tên là Âu-cơ, sinh được một bọc một trăm trứng, bẩy ngày sau nở ra một trăm con trai. Một hôm Lạc-Long-Quân bảo vợ rằng: "Ta là giống rồng thuộc thủy, nàng là giống tiên thuộc thổ, thổ khắc thủy, không thể ở với nhau lâu được. Ta đem năm mươi con xuống Nam-hải, nàng dẫn năm mươi con lên núi." Con trưởng Lạc-Long-Quân nối ngôi cha lập ra nước Văn-lang, ngày nay là

Bắc-Việt và phiá bắc Trung-Việt, lấy họ là Hồng-Bàng, trị v́ từ năm nhâm-tuất (2879 BC?) đến năm quư-măo (258 BC), được 2622 năm (?) và truyền được mười tám đời, đều lấy hiệu là Hùng-Vương 雄王. Có thuyết cho là trong 18 Vua Hùng không kể Kinh-Dương-Vương và Lạc-Long-Quân, xin giữ lại để tổn-nghi.

Theo các ngọc-phả c̣n giữ lại được trong đó có bản chép từ năm Thiên-phúc nguyên-niên đời vua Lê Đại-Hành (980) th́ tên húy, tôn-hiệu 18 vua Hùng và thời-gian trị v́ cuả mỗi vị như sau:

1.    Hùng-Vương Đệ-nhất, húy Lộc Tục, tôn-hiệu Kinh Dương Vương, trị v́ 255 năm (?).

2.    Hùng-Vương Đệ-nhị, húy Sùng-Lăm, tôn-hiệu Lạc-Long-Quân, trị v́ 254 năm (?).

3.    Hùng-Vương Đệ-tam, húy Lân-Lang, tôn-hiệu Hùng-Quốc-Vương, trị v́ 217 năm.

4.    Hùng-Vương Đệ-tứ, húy Tân-Lang, tôn-hiệu Hùng-Hiệp-Vương, trị v́ 271 năm (?).

5.    Hùng-Vương Đệ-ngũ, húy Viên-Lang, tôn-hiệu Hùng-Hy-Vương, trị v́ 183 năm (?).

6.    Hùng-Vương Đệ-lục, húy Pháp-Hải, tôn-hiệu Hùng-Hoa-Vương trị v́ 86 năm (?).

7.    Hùng-Vương Đệ-thất, húy Long-Tiên, tôn-hiệu Hùng-Huy-Vương, trị v́ 282 năm (?).

8.    Hùng-Vương Đệ-bát, húy Thừa-Văn, tôn-hiệu Hùng-Ninh-Vương, trị v́ 93 năm (?).

9.    Hùng-Vương Đệ-cửu, húy Quốc-Tiên, tôn-hiệu Hùng-Chiểu-Vương, trị v́ 80 năm (?).

10. Hùng-Vương Đệ-thập, húy Hoàng-Hải, tôn-hiệu Hùng-Uy-Vương, trị v́ 90 năm (?).

11. Hùng-Vương Đệ-thập-nhất, húy Hưng-Đức, tôn-hiệu Hùng-Trịnh-Vương, trị v́ 102 năm (?).

12. Hùng-Vương Đệ-thập-nhị, húy Đức-Hiền, tôn-hiệu Hùng-Vũ-Vương, trị v́ 97 năm (?).

13. Hùng-Vương Đệ-thập-tam, húy Tuấn-Lang, tôn-hiệu Hùng-Việt-Vương, trị v́ 106 năm (?).

14. Hùng-Vương Đệ-thập-tứ, húy Chân-Nhân, tôn-hiệu Hùng-Định-Vương, trị v́ 91 năm (?).

15. Hùng-Vương Đệ-thập-ngũ, húy Cảnh-Thiều, tôn-hiệu Hùng-Triều-Vương, trị v́ 90 năm (?).

16. Hùng-Vương Đệ-thập-lục, húy Đức-Quân, tôn-hiệu Hùng-Tạo-Vương, trị v́ 92 năm (?).

17. Hùng-Vương Đệ-thập-thất, húy Bảo-Quang, tôn-hiệu Hùng-Nghị-Vương, trị v́ 122 năm (?).

18. Hùng-Vương Đệ-thập-bát, húy Duệ-Đức, tôn-hiệu Hùng-Duệ-Vương, trị v́ 111 năm (?). 

Như ta thấy ở trên, chữ lạc trong Lạc-Việt, Lạc Hồng, con Lạc cháu Hồng, Lạc Long Quân, Lạc-long-quốc, Lạc-tướng, Lạc-Vương (Như Nam-sử Diễn-ca bắt đầu bằng tám câu:

Kể từ thuở Lạc-Vương dựng nước,

Non sông từng trải bước an-nguy.

Nào người hào-kiệt ra uy,

Bốn phương phẳng-lặng duy-tŕ giang-san.
                                     

Ngô, Đinh mất, Lê tàn, Lư kế

Tám đời liền Trần-thị tiếp theo,

Bốn phương rợp ngọn cờ điều,

Ngoài biên lạc-nghiệp trong triều âu-ca.) 

Trong Bắc-sử, Lạc-vương, Lạc tướng, Lạc-hầu, Lạc-điền v.v được viết theo hai lối: Tiền-Hán-thư viết chữ lạc (bộ mă , Unicode 99f1), có nghiă là con ngựa trắng bờm đen. Sách Thủy-kinh-chú cuả Tang Khâm (Đường Lục Điển) hoặc Quách Phác (Cựu Đường Thư) tùy theo tác-giả Kinh-tịch-chí, viết chữ lạc (bộ chuy, giống chim đuôi ngắn, unicode 99d2) theo Tự-lâm, có nghiă là chim kỵ-kỳ hoặc họ Lạc (Quảng-vận, 4D, tr. 485). Tóm lại là ngựa, hay chim chóc, toàn là các chữ hạ thấp danh-giá giống ṇi. Để phản-ứng lại lối đặt tên trịch thương cuá học-giả Trung-quốc đầu óc hẹp ḥi, sử-gia Việt-Nam Ngô Sĩ Liên, trong Đại-Việt Sử-kư Toàn-thư mới dùng chữ Nôm lạc bộ trăi (loài sâu không chân, unicode 8c89), bởi chưng nếu là chữ Hán chữ này có âm là hạc (Quảng-vận, 4D, tr. 488, 490) hoặc mạch (= ) (Quảng-vận, 4D, tr. 488) và có nghiă là con thú phương bắc, giống con cáo, đầu choắt, mũi nhọn, lông loang lổ. Theo phương-âm Thanh-hoá nước đọc là nác, mà người vùng Tiền-hải lại đọc thành lác, lạc. Tại sao nước và lạc lại liên-kết với nhau? Theo Solheim II, người vùng Hoà-b́nh đă biết trồng luá mấy ngàn năm trước người Tầu và người Ấn (5P). Hơn nữa ruộng ở nước ta thời Lạc-điền hay thời nay, nhiều khi là ruộng chiêm (có nước), cấy bằng con trâu trong khi ruộng muà (khô) ở nước ta cũng như bên Tầu cầy bằng con ḅ.

Ở nưóc ta trước thế-kỷ 18 các sử-thư đều chép bằng Hán-văn. Vào thời Ngụy (220-265),Tấn (265-420), Lục-triều (557-060) bên Tầu, sách Thủy-kinh-chú, tờ 37, mục "du-thủy" có dẫn-chứng một đoạn cuả sách Giao-châu Ngoại-vực-kư 交州外域記có nói về Giao-chỉ xưa:

Thời Giao-chỉ đă phân quận huyện, đất đai có ruộng lạc (ruộng chiêm), phụ-thuộc vào thủy-triều lên xuống, dân khẩn ruộng lấy thóc mà ăn, nhân đó dân th́ gọi là lạc-dân , vua th́ gọi là Lạc-vương , có Lạc-hầu cai-trị quận huyện, mỗi huyện đều có nhiều lạc-tướng mang ấn đồng tua xanh (đồng ấn thanh thụ 銅印青綬).

Sách Sử-kư Sách-ẩn 史記索隱đời Đường cuả Tư-mă Trinh 司馬貞cũng dẫn sách cổ "Giao-châu-kư交州記" trong đó có đoạn:

Giao-chỉ có ruộng lặc (lạc-điền), người được ăn lộc ruộng gọi là lạc-hầu; các huyện-trưởng tự xưng là lạc-tướng, có ấn đồng tua xanh tức nay gọi là huyện-lệnh. Sau này Thục-vương đánh lạc-hầu, tự xưng là An-dương-vương, trị-phong Khê-huyện. Về sau, vua Nam-Việt ủy-thác (Triệu) Đà công-phá An-dương-vương, cho hai lại-điển cai-trị hai quận Giao-chỉ và Cửu-chân, tức là nước Âu-Lạc vậy.

Hai bộ sách này tuyệt nhiên không hề chép Giao-chỉ-vương, phải đợi đến sách Nam-Việt-chí 南越志(khoảng thế-kỷ 3) cuả Thẩm Hoài-Viễn, mới thấy chép hai đoạn:

Đoạn thứ nhất: "Đất đai Giao-chỉ rất ph́-nhiêu. Vua nước đó được gọi là Hùng-Vương."

Đoạn thứ nh́: "Người thời đó gọi đất đai cuả họ là hùng-điạ雄地, dân cuả họ là hùng-dân雄民, có quân-trưởng gọi là hùng-vương雄王, người phụ-tá gọi là hùng-hầu, vua phân-phong đất đai cho các tướng-tá cuả ḿnh, gọi là hùng-tướng".

Nam-Việt-chí đă vong-dật, nên chỉ c̣n t́m được các dẫn-văn trong sách Thái-b́nh Hoàn-vũ-kư 太平寰宇記đời Tống. 

Có một điều lạ là mọi sách cuả Việt-sử đều chép là Hùng-vương trong khi các sách cuả Bắc-sử lại chép là Đối-vương碓王. Bất quá, Đối vương cũng chỉ là bút-ngộ (lapsus calami) mà thôi. Ta biết rằng trước thế-kỷ 18, cổ-nhân ta dùng Hán-văn làm chuyển-ngữ. Nhân đó, Việt-sử thời xưa phải lấy sách vở Tầu làm cứ-liệu, đưa đến chuyện chép nhầm Lạc-vương () thành Hùng-vương với xác-suất cao. V́ chuyện sao-lục nhầm lẫn này xẩy ra quá lâu, quá sớm rồi, nên riết ai cũng chấp-nhận, không dễ ǵ cải-chính. 

Theo Dư-điạ-chí cuả Đại-Việt-Nho Nguyễn-Trăi (1380-1442), tác-giả cuả Quốc-âm Thi-tập (QÂTT), Hùng-Vương đặt tên nước là Văn-lang, đóng đô ở Phong-châu (nay thuộc vùng Bạch-hạc/Việt-tŕ). Thời Nguyễn-Trăi, tiếng Việt c̣n giữ được nhiều song-tiết tức một âm-tiết mà đọc thành hai âm. Tỷ như:

          QÂTT73         Phú-quư co-seo sương ngọn cỏ.

Tiếng Nôm cổ co-seo đọc thúc lại thành kseo, nay biến thành seo. có nghiă là co lại. se lại, teo lại, săn lại. Câu thơ từa tựa câu thơ trong bài Tống Khổng Sào-Phủ cuả Đỗ-Phủ (Tử-mỹ):

   Phú-quư hà như thảo đầu lộ.  富貴何如草頭露。  Phú-quư như sương đầu ngọn cỏ.

Chữ Nôm kseo đươc viết với chữ liêu trùm đầu âm-tố cự (k). Ngày nay song-tiết chỉ c̣n thấy trong bài thơ tuyệt-mạng cuả ân-sư, Cụ Sơn-mai Hoàng-Khôi (1905-1970).

Ta biết rằng chữ Nôm song-tiết tối cổ mlang  % mà cổ-nhân khi viết chữ theo cột đă vô-t́nh phân thành hai chữ Văn-lang, nguyên đọc là mlang (v́ chữ văn chỉ là chỉ thanh đầu m) và có nghĩa là làng. Tương-tự, chúng ta cũng bắt gặp phụ-âm ghép ml trong Quốc-âm Thi-tập (QÂTT), bản cuả Cụ Son-mai, hay trong "Cả blả ơn áng ná cực nặng" (Cả trả ơn cha mẹ cực nặng) của Nguyễn-Trăi như: mlằn > lằn; mliễn ~ mlẫn > lẫn.  Nhưng lư-thú nhất phải kể đến tiếng ghép "mờ-lỡ" lấy trong "Tân-san Chinh-phụ-ngâm Diễn-âm Từ-khúc 新刊征婦吟演音辭曲" của Bà Đoàn-thị-Điểm (1705-1746), do Chính-trực-đường hiệu-tân năm Gia-long thứ 14 (1816), nơi câu 330:

Thiết một kẻ buồng không luống giữ,

Thời-tiết lành mờ-lỡ đ̣i nau,

Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,

Người đời thấm thoát qua màu xuân xanh.  

Có nhà Hán Nôm bảo từ cổ "mờ-lỡ" (Thế-kỷ 13) c̣n thấy trong QÂTT và CPN, sang  thế-kỷ 19 mới bị đọc thúc lại thành mlỡ > lỡ > nhỡ.

Từ ngh́n xưa, trước khi tam-giáo thâm nhập nước ta, dân Việt đă có 'Đạo Thờ Cúng Tổ-Tiên', tồn-tại đến tận ngày nay và măi tận ngh́n sau.

Nước Việt ta, theo đúng tinh-thần Tu Tề Trị B́nh cuả Đạo Khổng và tôn-chỉ chí-hiếu với Tổ-quốc trước nhất cuả Hiếu-kinh, không những có Lễ Cúng Ông Bà vào dịp Tết ta chung cho tổ-tiên xa gần, mà c̣n có Giỗ Tổ Hùng Vương, nhằm ngày mùng 10 tháng 3 âm-lịch, chung cho toàn-thể đồng-bào trong cũng như ngoài nước.

Chữ Nôm ṛng giỗ = nhật + lỗ , có nghiă là lễ cúng cơm (Kỵ cơm) cho gia-tiên tức tổ-tiên xa gần cuả ba họ nội, Ngoại và thông-gia. Thông thường lễ này làm vào ngày mất cuả người đă khuất, để thành-kính tưởng-niệm công ơn người. Khi dùng tiếng ghép ta nói giỗ chạp (danh-từ) hay cúng giỗ, cúng kỵ (động-từ).

Bây giờ chúng ta thử dùng bốn dịch-lư căn-bản (Bất dịch, biến dịch, giao dịch và tự dịch) để lư-giải đặc-trưng đa dạng cuả ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Theo Dịch, số lẻ là dương, số chẵn là âm. Ở sơ-cấp, Dịch chỉ dùng các số từ 0 đên 10 tượng-trưng cho âm-dương hoà-đồng. Thành thử ra, 3 là lẻ và 10 là chẵn, cho nên mùng 10 tháng 3 cũng hội đủ hai yếu-tố âm dương thăng bằng. Ta biết rằng tháng 3 kiến th́n (rồng). Mà rồng lại một trong bốn vật-tổ (long , ly = rồng vàng không sừng, quy , phượng) cuả dân ta, vốn dĩ là 'con rồng cháu tiên'. Ai có nghiên-cứu lư-số cũng đều biết 'ngộ long tắc hoá' để định ngũ-hợp ngũ-hành cuả hai can liên-tiếp như giáp-ất, bính-đinh v.v. (2 a’ + 3). Tỷ như giáp-kỷ hợp hoá thổ (đất). Th́n cũng hành thổ. Theo thiên Thiên-Văn trong sách Hoài-nam-tử, cung thin chứa hai tú đầu Giác-mộc-giao 角木蛟 và Cang-kim-long 亢金龍. Thế mới biết v́ sao các sách Việt-sử mới chép chuyện Hùng Vương thứ nhất bắt dân chài lưới Văn-lang lấy chàm vẽ ḿnh để khỏi bị giao-long làm hại v́ chúng tưởng là đồng loại. Chung quy ta thấy rơ vai tṛ lĩnh-đạo cuả rồng trong 12 con giáp. Ngoài ra, rồng cũng là giống vật tứ-thê duy-nhất có thể sống trong cả bốn trạng-thái cuả vật-chất: thể dắn, thể lỏng, thể khí và thể plasma (khí một phần bị ion-hoá).

Ngay trong quẻ Kiền dẫn đầu Kinh Dịch, Rồng (Long) cũng giữ điạ-vị then chốt: từ 'tiềm long vật dụng' (rồng lặn chớ dùng) ở hào sơ qua 'hiện long tại điền' (rồng hiện nơi ruộng) ở hào cửu-nhị và 'Hoặc dược tại uyên' (rồng nhẩy nơi vực) ở hào cửu-tứ cho chí 'Phi long tại thiên' (rồng bay trên trời) và 'Kháng long hữu hối'  ở hào thượng-cửu cũng như hào dụng-cửu 'Hiện quần (quẫn?) long vô thủ cát' (Bầy rồng hiện ra, không đầu, tốt). Lại thêm, rồng tượng-trưng cho biến-hoá, biến-dịch. Ngoài ra, tích-quái trạch-thiên Quyết, biểu-trưng 5 hào dương đoàn-kết, cương-quyết đánh đuổi một hào âm tượng trưng cho quân xâm-lăng âm-mưu thôn tính nước ta. Dịch-lư hằng chủ-trương "thủy thổ đồng nguyên" (đất nước cùng nguồn). Ở Hậu-thiên bát-quái, quẻ khảm thủy tại cung tư chung lưng đấu cật với quẻ cấn thổ trấn đóng hai cung sửu dần: dĩ nhiên cung sửu (thấp thổ = đất ẩm) là môi-giới cho hai cung tí thủy và dần mộc: thời Lạc-Việt cuả các Vua Hùng, nước (âm Thanh-hoá là nác > lạc) cuả nước Lạc-Việt được dẫn chẩy vào (lạc  = chẩy xuống) để biến ruộng khô thành ruộng chiêm (thấp-thổ) cho luá (thảo-mộc thuộc mộc). Mà ta biết rằng thủy (tư) sinh thấp thổ (sửu), thấp-thổ sinh mộc, nối lại ṿng tay lớn cuả thiên-điạ-bàn: mộc sinh hoả, hoả (ngọ) sinh táo-thổ (mùi), táo-thổ sinh kim (thân), kim sinh thủy (tư), thủy lại sinh thấp-thổ (sửu). Ngay đất nước, thủy-thổ luôn luôn gắn bó với nhau như h́nh với bóng.

Xin nhắc lại là Chu-Văn-vương, người khởi-thảo Kinh Dịch và con ông Chu Vũ-vương lật đổ nhà Thương/Ân, đă làm một cuộc cách-mạng văn-hoá vỹ-đại là thay thế chế-độ mẫu-hệ bằng chế-độ phụ-hệ, biểu-đạt bằng việc dùng quẻ Kiền (cha) đứng đầu Chu-Dịch, thay cho quẻ Khôn (mẹ) đúng đầu Quy-tàng cuả nhà Thương. Chính Đức Khổng-tử khi đi sang nước Tống cuả con cháu nhà Thương để t́m kiếm Kinh Dịch, cũng chỉ t́m thấy sách Khôn Kiền tức Dịch cuả Thương lấy quẻ Khôn làm chuẩn. Ngay từ thuở dựng nước các Vua Hùng đă thiết-lập chế-độ phụ-hệ hằng mười mấy thế-kỷ trước Trung-Hoa. Chỉ cần nhớ chuyện Phù-đổng Thiên-vương đại-phá giặc Ân cũng có mường tượng ra ngay đầu đuôi câu chuyện, Thời khoảng sử-kiện này vào khoảng thế-kỷ 14 BC căn-cứ vào Tiền-cổ-sử Việt Nam.

Ta biết rằng con số 10 là một số hoàn toàn, tượng-trưng cho cả âm (số 0 chẵn là số âm) lẫn dương (số 1 lẻ là số dương). Ngoài ra, Lạc-thư cho thấy là các cặp số đối-xứng xuyên tâm đều có tổng-số 10, con số thập-toàn. Trong Lạc-thư nếu ta cộng theo hàng, theo cột hay theo hai đường chéo ta đều được hằng-tổng 15 có thể biểu-trưng cho 15 bộ cuả nước Văn-lang.

 4

9

 2

3

5

7

8

1

6

         Tuy nhiên ư-nghiă thâm-sâu cuả Lạc-thư không nằm trong con toán cộng mà lại nằm trong đẳng-thặng 10 hiệu-chính (amod 10) khi cộng hay nhân. Câu "Tham-thiên lưỡng-điạ nhi ỷ-số" (nhân trời vớỉ 3, nhân đất với 2 mà dựa vào số) cuả Thuyết-quái-truyện I/2 đă được Triệu Nhữ Mai đổi thành "Dương dĩ tam tả-hành, âm dĩ nhị hữu-hành" (dương lấy 3 xoay qua trái, âm lấy 2 xoay qua phải). Đem áp-dụng câu này cho Lạc-thư, ta nhân 3 cho các số dương (lẻ) ngoại-vi (1, 3, 9, 7): 1 x 3 = 3 (3 ở bên trái cuả 1). Tương-tự: 2 x 3 = 6, 6 x 3 = 18 = 8 amod 10; 8 x 4 = 24 = 4 amod 10; 4 x 3 = 12 = 2 amod 10 v.v. Mặt khác, nhân 2 số âm (chẵn) ngoại-vi (2, 6, 8, 4) ta được 2 x 2 = 4 (4 ở bên phải cuả 2); 4 x 2 = 8 (6 ở bên phải của 6); 8 x 2 = 16 = 6 amod10 (8 ở bên phải cuả 6), 6 x 2 = 12 = 2 amod 10, ta lại trở về 2. Nếu bây giờ ta thử áp-dụng luật "Dĩ nhị hữu-hành" cho các số dương 1, 3, 9, 7 ta sẽ thấy không ổn bởi v́ ta có thể áp-dụng luật dương cho số âm mà không thể dùng luật âm cho số dương được. Trong một bộ tộc theo chế-độ phụ-hệ như xă-hội Văn-lang thời Hồng-bàng, không thể nào áp-dụng luật "âm" (mẫu-hệ) cho nam-giới được. 

Đền Hùng gồm có ba Đền, một Lăng và một Chuà:

  1. Đền Hạ và Chuà:

     Đền này được xây vào khoảng thế-kỷ 17-18, thành hai lớp theo kiểu chữ nhị. Tương-truyền nơi đây, sau khi kết-hôn, Lạc Long Quân đưa Âu-Cơ từ động  Lăng-xương về đến Nghiă-lĩnh. Âu-cơ trở dạ sinh được một bọc 100 sau nở thành 100 con trai.

Gác chuông và chuà Thiên-quang Thiền-tự được xây vào đời Hậu-Lê, kiến-trúc chính là cột gỗ có kê đá ở dưới và lợp ngói. Nay chuà chỉ c̣n lại phần tiền-tế.

  1. Đền Trung tức Hùng-Vương Tổ-miếu:

     Đền Trung xuất-hiện sớm nhất trên núi Hùng. Chùa được xây vào đầu đời Trần, nhưng đầu thế-kỷ 15, chuà bị giặc Minh tàn phá. Cách nay khoảng ba trăm năm, đền được xây cất lại kiểu chữ nhất. Tục truyền đây là nơi các Vua Hùng bàn việc nước.

 
  
    Lăng Vua Hùng                               Đền Thượng 

  1. Đền Thượng và Lăng:

     Đền Thượng tức Kính-thiên Lĩnh-điện được xây vào khoảng thế-kỷ 15. Tục truyền, chính tại đỉnh cao này, Hùng-Vương thứ 6, sau việc phà giặc Ân thắng-lợi, cảm-kích vị anh-hùng có công đánh giặc cứu nước, đă lập miếu thờ Thánh Gióng.

Lăng Tổ Hùng Vương, xây thời nào không ai biết rơ. Năm 1874, lăng mới được xây theo kiểu như ta thấy ngày nay. Tục truyền đó là mộ cuả Hùng-Vương thứ 6, theo lời căn dặn cuả người: "Hăy chôn ta trên núi cả, để ta đứng trên núi cao c̣n trông coi bờ cơi cho con cháu." 

Giỗ Tổ Hùng-Vương uy-nghi là thế! Đất nước Việt Nam tráng-lệ là thế! Văn-hiến Việt-tộc lâu đời là thế! Việt-sử oai-hùng là thế! Thế mà chính-quyền Hà-nội chỉ mới cưỡng-chiếm miền Nam cỏ 35 năm đă dâng hiến cho kẻ thù truyền-kiếp nào lĩnh-thổ, nào lĩnh-hải, nào hải-đảo mà tiền-nhân đă dầy công xây đắp trong mấy ngàn năm. 

Để kết-luận xin trích đoạn kết cuả bức thư luật-sư Tiến-sĩ Cù Huy Hà Vũ gửi Quốc-hội Việt Nam nhân ngày Kỷ niệm lần thứ 65 Ngày Độc lập 2/9 và hướng tới Kỷ niệm 1000 năm Thủ đô Thăng Long – Hà Nội. LS Cù Huy Hà Vũ đ̣i: Thả Tù, Đổi Tên Nước, Ḥa Giải; và cho rằng lập luận Chia Rẽ Dân Tộc Có Cơ Nguy Làm Việt Nam Bị Bắc Thuộc Lần Thứ Tư: 

Tôi – Cù Huy Hà Vũ – nhân danh con trai Nhà thơ Huy Cận, Bộ trưởng thành viên Chính phủ khai sáng nền Cộng ḥa và nhân danh cá nhân, kiến nghị Quốc Hội khẩn cấp thực hiện Ḥa giải Dân tộc bằng:

        1. Đại xá tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng hoà theo Khoản 10 Điều 84 Hiến pháp (Quốc Hội quyết định đại xá).

        2. Lấy “Việt Nam” làm Quốc Hiệu thay cho “Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Khoản 1 Điều 84 Hiến pháp (Quốc Hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp).

Cũng là để khẳng định một lần nữa Chân lư: Dân tộc Việt Nam chỉ có Một! Nước Việt Nam chỉ có Một!

        

 

   

 

    Xem tiếp Kỳ 55

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com