www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 05

 

DỊCH TIỀN ĐỀ

 

 

(Tiếp theo Kỳ 51)

 

III HÀ-LẠC B̀NH-NGHỊ ÁN

河洛平議案
 

Dịch nói: "Thiên nhất Điạ nhị, Thiên tam Điạ tứ, Thiên ngũ Điạ lục, Thiên thất Điạ bát, Thiên cửu Điạ thập天一地二。天三地四。天五地六。天七地八。天九地十。Thiên nhất Địa nhị, Thiên tam Địa tứ, Thiên ngũ Địa lục, Thiên thất Địa bát, Thiên cửu Địa thập”. (Hệ Thượng, IX/1). Số lẻ là dương thuộc Thiên; số chẵn là âm thuộc Điạ. Cho nên ta mới có 10 số thiên-nhiên (whole numbers), dàn thành 5 cặp âm-dương: (1, 2), (3, 4), (5, 6), (7, 8), (9, 10).

Trong 10 số này, 10 là một toàn-số v́ đại-diện cho cả âm lẫn dương: 0 chẵn là âm và 1 lẻ là dương. Để 10 ra một bên, ta sẽ có 2 tổng-số tam-thừa cuả các số âm và dương c̣n lại: 

S3+  = 13 + 33+ 53 + 73 + 93 = 1225 = 49 x 25 = 49 x 52   ̃  49   =   S3+/52;

S3-    = 23 + 43 + 63 + 83 = 800 = 50 x 16 = 50 x 42     ̃  50  =   S3-/ 42.

Rút cục, ta có hai số đại-diễn : một âm chẵn 50 là thể, một dương lẻ 49 là dụng. Nên khi bói ta mới lấy 50 cọng cỏ thi, để riêng ra một cọng tượng-trưng Thái-cực, c̣n lại 49 để dùng, vẫn là số đại-diễn như thường. Ở đây 1 = 50 – 49 là một thực-số chứ không phải là một hư-số như người đời vẫn lầm-tưởng từ đời Tống đến nay.  

Dịch nói: “Bức đồ xuất hiện ở sông Mạnh; bảng số xuất hiện ở sông Lạc. Thánh-nhân bắt chước theo” (河出圖, 洛出書, 聖人則之.) (Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư, Thánh-nhân tắc chi). (Thượng-Hệ XI/8). (1H, tr. 82b)

Thiên Cố-mệnh trong Kinh Thư nói: "Hà-đồ tại đông tự. 河圖在東序。 Thứ-tự Hà-đồ khởi từ phương đông." (1H, tr. 1427b)

Đức Khổng-tử nói: "Phụng điểu bất chí, Hà bất xuất đồ, ngô dĩ hĩ phù! 鳳鳥不至,河不出圖,吾已矣夫。Chim phượng chẳng đến, Hoàng-hà không xuất-hiện bức đồ, đạo cuả ta hết rồi vậy!" (Luận-ngữ, IX/8) (1H, tr. 2490b)

Thiên Lễ-vận trong Lễ-kư nói: "Sơn xuất khí-xa, Hà xuất Mă-đồ山出器車,河出馬圖。Núi xuất hiện xe tải siêu bạc, hũ son, Hoàng-hà xuất-hiện Mă-đồ." (1H, tr. 1427b)

Trong Chu Dịch Chú, Trịnh Khang-thành tức Trịnh Huyền, dẫn Xuân Thu Vỹ rằng: "Hà dĩ thông Kiền xuất thiên, Lạc dĩ lưu Khôn thổ điạ-phù. Hà Long-đồ phát, Lạc Quy-thư thành. Hà-đồ hữu cửu thiên, Lac-thư hữu lục thiên. 河以通乾出天。洛以流坤吐地符。河龍圖發。洛龜書成。河圖有九篇。洛書有六篇。Hoàng-hà để thông hiểu quẻ Kiền suy ra từ trời. Lạc-thủy để lưu hành quẻ Khôn nhả địa-phù. Hoàng-hà Long-đồ phát-xuất, Lạc-thủy Quy-thư hoàn thành. Hà-đồ gồm 9 thiên, Lạc-thư gồm 6 thiên."

Trong bài “Phúc Linh Phú” Dương Hùng viếti: "Đại Dịch chi thủy, Hà tự Long-mă, Lạc xuất Quy-thư.大易之始。河序龍馬。洛出龜Thuở ban đầu, Đại-Dịch lập thứ-tự cuả Long-mă, Lạc xuất-phát Quy-thư." (4AAT, tr. 103-105) 

Tương truyền dưới triều Đế Thuấn, Đại-Vũ trị-thủy gặp nhiều khó khăn. Ở mạn thượng-lưu Hoàng-hà xuất-hiện một con ngựa mà người đương-thời thần-hóa và gọi là Long-mă. Trên lưng Long-mă có những khuyên trắng, điểm đen, nên người đời sau mới mệnh danh là Mă-đồ tức Cổ-hà-đồ. Theo thần-thoại, nhờ long-mă, Đại-Vũ mới trấn-áp được quỷ-thần mà hoàn-tất công-cuộc trị-thủy. Từ đó Số-học manh nha từ 10 con số nguyên thiên-nhiên đầu, với 1..5 là sinh-số và 6..10 là thành-số tức sinh-số đẳng-thặng 5 (Amod 5). 

 Ít lâu sau, trên ḍng sông Lạc, xuất-hiện một con rùa trên mai cũng có những khuyên trắng đốm đen, được cổ-nhân gọi là Quy-thư-đồ tức Cổ-Lạc-thư. Đấy chính là thần-phương (magic square) đầu tiên của nhân-loại. 

Rút cuộc, Hà-đồ là một Thập-tự-nhai mà thành-phần ngang gồm các số 8, 3, 5/10, 4, 9 viết từ trái sang phải và thành-phần dọc gồm các số 7, 2, 5/10, 1, 6 viết từ trên xuống dưới (đông tây, nam bắc tức trục hoành, trục tung). C̣n Lạc-thư là một thần-phương bậc 3, với hằng-tổng 15 dù là cộng theo hàng, cột hay 2 đường chéo.


           H́nh 5.018 HÀ-ĐỒ                                     H́nh 5.019 LẠC-THƯ   

Đến đầu đời Nam-Tống Sái Nguyên-Định 蔡元定, tự Quư-thông 季通, biệt-hiệu Tây-sơn 西 , thụy là Văn Tiết Công, mới vào Ba-Thục đem về cho Chu-Hi cả Hà-đồ  lẫn Lạc-thư, như ta c̣n thấy ngày nay. Tôi ngờ rằng chính ông mới là tác-giả đích thực của “Dịch-học Khải-mông 易學啟蒙” mà người đời thường gán cho sư-phụ ông là Chu-tử. Ông c̣n là tác-giả “Luật Lă Tân Thư律呂新書.” Chu-tử vốn ngưỡng phục cái học Luật Lă Tượng Số của ông, nên thường nói với các người tứ-phương đến xin học rằng: “Họ Sái là lăo-hữu của ta, không liệt vào hàng đệ-tử, nên các người muốn hỏi ǵ ta, trước phải chất chính họ Sái”.

Nhà Kinh-học kiêm Thinh-vận-học đời Thanh Giang-Vĩnh (1681-1762), tự Thận Tu , đă dụng công khai-thác triệt-để các khía cạnh NHO Y LƯ SỐ của Hà-đồ, Lạc-thư trong tác-phẩm bất-hủ “Hà Lạc Tinh-uấn 河洛精蘊”, cắt nghiă rành rọt mọi nguyên-ủy và nguyên-lư để cùng sự-vật cũng như cùng kỳ lư. Không những ông ghi lại “Bài Tựa Long-đồ “ khó hiểu cuả Trần-Đoàn (xem bên dưới) mà ông c̣n nêu rơ quan-điểm cuả ḿnh về các cơ-chế căn-bản cuả Kinh Dịch, Bói Dịch và Y-Dịch. Ta có thể học được nhiều điều rất hay về tưong-quan mật thiết giữa thất-tinh và ngày trong tuần (xem Bài : Ngày Trong Tuần), về La-kinh , về Nhâm Đốc 任督, Lục Mạch 六脈, Quái-tượng-khảo 卦象考, Kỳ-môn Độn-giáp 奇門遁甲, Ngũ-vận Lục-khí, 五運六氣, Tam-thập-lục cung 三十六宮, 12 Tích-quái, Nhị-thập-bát Tú 二十八宿, ứng-dụng định-lư Pythagoras vào Dịch, Luật-lă 律呂 (xem bên dưới), Cách bát tương-sinh  隔八相生của ngũ-âm (xem bên dưới), cửu-cung 九宮, thế-ứng , phi-phục , nạp-âm 納音, phu-thần lục-thân夫神, 六親v.v. Cuối sách này c̣n có Phụ-biên cuả bốn nhà thạc-học: Tống Tiềm Khê 宋潛溪, Vương Tử Sung , đời Minh trước ông, và Hàng Tân Trai 杭辛齋, Ngô Quang Diệu吳光耀, đời Thanh sau ông. (2F)

H́nh 5.20  Long-mă Tinh-thần Đồ          H́nh 5.021 Quy-thư-đồ   

Ngoài ra, ta c̣n có Hà-đồ Lạc-thư cuả Sái Nguyên-Định, tự Tây-sơn trong Kinh Thế Tiết-yếu, Hà Lạc cuả Trương Hành Thành trong Kinh Thế Diễn-NghiăDịch Thông-Biến, Hà Lạc cuả Đinh Dịch Đông trong Diễn Dực, Hà Lạc cuả Hồ Thương Hiểu trong Chu Dịch Hàm Thư và Hà lạc cuả Trương Sở Chung trong Dịch-đồ Quản Kiến, mỗi sách một vẻ, cắt nghiă rất tường-tận. Dưới đây là Hà-đồ Lạc-thư cuả họ Sái và họ Vạn để độc-giả quan-chiêm. Đồ cuả họ Sái đă thành cổ-điển cuả sách vở. Đồ cuả họ Vạn có cái hay là cắt nghiă gẫy gọn chuyển-hoán từ Hà-đồ sang Lạc-thư.

Ta biềt rằng Hà-đồ là thể, Lạc-thư là dụng. Hà-đồ tức Tiên-thiên, Lạc-thư tức Hậu-thiên. Hà-đồ là thể mà trong thể có dụng, Lạc-thư là dụng mà trong dụng có thể. Trong Vạn-thị-đồ đó chính là phân tṛn, phân vuông, vuông ngậm tṛn, tṛn lại ngậm vuông.

Vị-trí cuả số 2, số 8, ứng với hai quẻ chấn và tốn trong Tiên-thiên bát-quái, và với hai quẻ khôn và cấn trong Hậu-thiên bát-quái. Khôn, cấn đều là thổ ứng với só 5 và số 10 ở trung-ương. Vạn-vật đều sinh từ thổ và quay về thổ lúc tàn lụi. Nên chi  quẻ cấn mới là thành chung thành thủy. Tốn, chấn đổi chỗ hoá thành tượng quẻ Lôi-phong Hằng mà Đại-tượng-từ là: "Quân-tử dĩ lập bất dịch phương. 君子以立不易方。 Quân-tử coi đó mà giữ vững lập-trường không đổi chí-hướng."

H́nh 5.024

Câu đó là nói về thể lúc chưa đổi chỗ. Đổi chỗ rồi, ắt là tốn, chấn, nghiă là thành quẻ Phong-lôi Ích mà Thoán-truyện là: "Ích, tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương, tự thượng há hạ, kỳ đạo đại quang. 益,損上益下,民說无疆也,自上下下其道大光。 Ích là bớt trên thêm dưới, dân vui khôn cùng, từ trên đi xuống dưới, đạo cả sáng". Và nói tiếp: "Ích động nhi tốn, nhật tiến vô cương, Thiên thi điạ sinh, kỳ ích vô phương. 益動而巽,日進无疆,天施地生,其益无方。Về ích-lợi, hoạt động mà thuận th́ mỗi ngày một tiến vô cùng, ích lợi không theo phương-hướng nào cả; phàm theo con đường ích th́ cùng tiến với thời-gian." Đấy là dụng sau khi đă đổi chỗ. Khôn, cấn là Điạ-sơn Khiêm mà Thoán-từ là: "Thiên-đạo hạ tế nhi quang minh. Điạ-đạo ty nhi thượng hành. 天道下濟而光明,地道卑而上行。Đạo trời đi xuống chỗ thấp mà sáng tỏ, đạo đất thấp mà đi lên." Thoán-truyện quẻ này là: "Thiên-đạo khuy doanh nhi ích khiêm, điạ-đạo biến doanh nhi lưu khiêm, qủy thần hại doanh nhi phúc khiêm, nhân-đạo ố doanh nhi hiếu khiêm, khiêm tôn nhi quang, ty nhi bất khả du, quân-tử chi chung dă. 天道虧而益謙,地道變而流謙,鬼神害而福謙,人道惡而好謙,謙尊而光,卑而不可,君子之終也。Đạo trời bớt nơi đầy mà bồi đắp nơi nhún-nhường, đạo đất biến đổi sao cho trôi đến nơi nhún nhường, qủy-thần làm hao hại nơi đầy mà ban phúc cho nơi nhún nhường, đạo người ghét nơi đầy mà yêu nơi nhún nhường, nhún nhường th́ ở điạ-vị cao mà đạo càng sáng, ở điạ-vị thấp mà chẳng ai vượt được ḿnh." Đại-tượng nói: "Quân-tử dĩ biều đa ích quả. Xứng vật b́nh thí. 君子以多益寡,稱物平 Quân-tử coi đó mà bớt chỗ nhiều mà bù chỗ ít. Cân nhắc ṣng phẳng sự vật." Chung quy, vị-trí đắp đổi cuả số 2 và số 8 cho ta thấy lẽ huyền-diệu cuả âm dương biến-hoá và quan-hợp cuả hai nhóm số Hà-Lạc.

Long mă phụ đồ (long-mă đội đồ) là muốn nói đến Kiền Khôn; Linh quy thổ thư (Ruà thần nhả bảng) là muốn nói đến Khảm Ly. Người đời sau vô t́nh câu nệ vào chữ cứ tưởng thiệt, chẳng đáng trách sao?  
             

DỊCH LONG-ĐỒ TỰ TỰ 
 

Bài Tựa Long-đồ cuả Trần Đồ-nam (Trần Đoàn), tên hèm là Hi-Di, vỏn vẹn chỉ có 327 chữ mà khó không thể tả. Nhưng nếu quyết chí thực-thi phương-châm "Không toán nhất quán làm sao", sẽ vượt qua mọi khó khăn.

Hà-đồ Lạc-thư là tổ cuả số, nên Long-đồ dù là ngụy-thác, nhưng phương cách phân-hợp thật là chí lư. Trời phân-tán ra để chỉ bảo, Phục-Hi gôp lại để dân dùng.

Lại như thuở Long-mă xuất-hiện, thoạt đầu đội Hà-đồ đời Hy-Hoàng, trước thời thái-cổ, nay chỉ c̣n vị-trí lúc đă hợp rồi. Phương chi ta lại canh-trần số lúc chưa hợp sao? Vậy th́ làm sao mà biết được? Đáp rằng: Lúc Trọng-Ni trần-thuyết nghiă chín quẻ, thám-sát chỉ-giáo mà biết được vậy. Huống hồ trời rủ tượng, đích thực như xâu chuỗi châu, sai một tí hẳn chẳng thành thứ-tự. Cho nên từ một cho đến đầy vạn, bồi đắp thêm như muôn ngh́n sợi tơ. Huống hồ Long-đồ vốn hợp, ắt thánh-nhân chưa thấy tượng, sở dĩ thiên-ư ở chỗ h́nh-tượng lúc chưa hợp. Thánh-nhân xem tượng mà hiểu rơ phương-cách dùng. Trọng-Ni lẳng lặng h́nh-dung ra Long-đồ lúc chưa hợp vậy. Duy số 55, trên là thiên-số 25, chính giữa thống-quán 3-5-9, bên ngoài bao 10x5, tóm trọn phép dùng cuả thiên-tam, thiên-ngũ-thiên-cửu và 50. Sau mới h́nh-dung ra 1-6 không vị-trí, nên chỉ dùng 24. Đó chính là trời rủ tượng vậy. Bên dưới đất số 30, cũng phân thành 5 vi-trí để minh-hoạ cách dùng con số 5. Số 10(+1) phân thành 6x5 = 30 để h́nh-dung ra tượng cuả đất. Mặt khác 10 = 6 + 4, 4 là tứ tượng, đất 6 không phối-trí. Tóm lại, bên trên thiên-số bỏ 1 không dùng chỉ c̣n 24; tương-tự bên dưới điạ-số 30, 6 không dùng, cũng chỉ c̣n 24. Khi đă hợp rồi, trời 1 bên trên tượng-trưng cho đạo-tông; đất 6 bên dưới đại diện cho khí-bản (gốc khí).

Các vị-trí nếu tại dương ắt là cô-âm, nếu tại âm ắt là quả dương. Lớn vậy thay! Biến-hoá cuả Long-đồ phân-kỳ ra thành vạn-đồ. Nay chỉ lược-thuật ngạnh-khái. (2F, tr. 272-274) 

Luân-giả Án

Về mặt toán-học, các số từ 1 đến 10 phân-bố trên 2 mặt phẳng chồng trập lên nhau:

  • Mặt phẳng trên cùng chứa các số lẻ (dương) 3-5-7-9 (tổng-số là 24);
  • Mặt phẳng dưới cùng chứa các số chẵn (âm) 2-4-8-10 (tổng-số là 24);

Trong Lưỡng-b́nh-diện này phỏng theo siêu-b́nh-diện (hyperplane) Riemann (1826-1866), gốc O là một cát-điểm (cut) cho phép thông-thương giữa các mặt phằng và mang hai tên 1 ở mặt phẳng trên và 6 ở mặt phẳng dưới. 

Sau cùng xin giới-thiệu Hà-đồ Biến thể-đồ hợp thành số 11. Thiên Luật-lịch-chí trong Tiền-Hán-thư nói: "Trung-số cuả trời là 5, 5 là thanh; trung-số cuả đất là 6, 6 là luật". Thiền-sư Nhất Hạnh cũng nói: "Hợp 2 trước tiên là định cương nhu, giữa chừng hợp 2 để định luật-lịch, sau cùng hợp 2 để tính nhuận dư." Cổ-nhân thường bảo: 5, 6 là trung-số cuả trời đất (đẳng thặng 5 cuả thiên-can  và đẳng-thặng 6 cuả điạ chi chẳng hạn). Cho nên ta mới có Hà-đồ biến-thể dưới đây. Sinh-số 1, 2, 3, 4, 5 không dời chỗ. Như vật trung-ương hợp thành 11. Bốn phương cũng hợp thành 11.

H́nh 5.25  Hà-đồ Biến-thể

Số cuả Hà-đồ là 55 = 5 x 11, phối-trí với 10 can. Giáp, ất là hai số bắt đầu (nhị-thủy). Mậu, kỷ là hai số chính giữa (nhị-trung), nhâm quư là hai số sau rốt (nhị-chung). Bốn can Bính, đinh, canh, tân xen kẽ vào thủy-trung-chung. Mậu-kỷ là bản lề. Cho tám can c̣n lại nạp vào 8 quẻ, là ta hiểu ngay cỗi nguồn cuả nạp-giáp. Nhị-trung để định-vị mậu-kỷ, nhi-thủy để định kiền-khôn, nhị-chung để định ly-khảm. Khoảng giữa thủy-trung-chung để định cấn, đoài, chấn, tốn. Đối với bói toán, nhị-thủy, nhị-chung là quan-sát, nhị-trung là không-vong. Khi thực-hành chỉ có thể dùng trung-gian cuả thủy-trung-chung mà thôi. 

Thầy Chu Liêm-khê nói: "Nhị Ngũ chi tinh, diệu-hợp nhi ngưng ” (Tinh cuả Âm-Dương Ngũ-hành diệu-hợp mà ngưng-kết lại." (Thái Cực Đồ Thuyết, 5M, Tập I, tr. 11) và nói: "Nhị khí ngũ hành, hoá sinh vạn-vật, ngũ thù, nhị thực, thị vị vạn nhất. Nhất thực vạn phân, vạn nhất các chính. 二氣五行,化生萬物,五殊二實,是謂萬一。一實萬分,萬一各正。 Hai khí âm dương và ngũ-hành kim mộc thủy hoả thố hoá sinh muôn vật. Số 5 khác biệt số 2 đầy đủ, ấy là vạn nhất. Nhất đầy đủ, vạn phân ra. Vạn, nhất đều chính đính." (Thông-thư, 5M, Tập II, Quyển V, Quyển VI). Chỉ từng ấy chữ cũng đủ tóm lược hết lẽ biến-hoá cuả âm dương.

 

 4

 

4

 
3

 


5


3

2

2

 

6

  5   6

 

 1

 

1

             Nguyên-số                                   2,5 giao-dịch                   

H́nh 5.26  2, 5 đổi chỗ

 

Luân-giả Án

Nguyên-số: 5, 6 bên trái, 3, 2 bên phải, các số thiếu thăng-bằng, dù có 5 ở giữa mà cũng không hoá sinh được. Cho 2. 5 đổi chỗ ắt trái phải đều là 8 (2 + 6 = 8 = 3 + 5).

Đại-tượng-từ quẻ Khiêm nói: "Quân-tử coi đó mà bớt chỗ nhiều mà bù chỗ ít.Cân nhắc ṣng phẳng sự vật." Điạ-sơn Khiêm là khôn, cấn. 2, 8 đổi chỗ chính là 2, 5 đổi chỗ vậy. Mà 2 + 8 = 10 (thập ) = 2 x 5 (thổ ). Âm dương sinh hoá khôn cùng. Con số trông bề ngoài nông cạn nhưng bên trong rất tinh-thâm. Đó chính là nỗi khổ tâm cuả người khổ công học Dịch vậy.

 

THƯ TỊCH KHẢO

 

5M Chu Liêm-khê Tiên-sinh Toàn-tập, 3 Tập, Sơ-bản, Vương Vân Ngũ chủ-biên, Chính-nghị-đường Toàn-thư Bản, Thương-vụ Ấn-thư-quán, Thượng-hải, tháng 6-1936.

 

 

   

 

Xem Kỳ 53

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com