www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 04

 

DỊCH ÂM

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 42)

 


CĂN-TÍNH DỊCH-LƯ CỦA VIỆT-NGỮ

 

Dịch nói: "Thị cố Dịch hữu Thái-cực, thị sinh lưỡng-nghi, lưỡng-nghi sinh tứ-tượng, tứ-tượng sinh bát-quái 是故易有太極。是生兩儀。兩儀生四象。四象生八卦。= Cho nên Đạo Dịch có Thái-cực, rồi sinh ra hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh tám quẻ." (Thượng-Hệ XI/5).

Về mặt ngôn-ngữ, Thái-cực tượng-trưng Tiền-Việt-Mựng (Proto-Viet-Muong), lúc chưa phân-ly. Lưỡng-nghi là tiếng Việt, tiếng Mường. Tứ-tượng là tiếng Bắc, Trung, Nam và tiếng Mường. Bát-quái lại gồm thêm các phương-ngữ khác như phương-ngữ Thanh-hoá, tiếng Mường Thái-thịnh, tiếng Mường Thạch-bi và tiếng Mường Bà Trại.

Ở thứ-cấp, Thái cực là tiếng đơn, lưỡng-nghi là tiếng kép, tiếng điệp-âm như phây phây, phoong phoong, tiếng có tiếp-tố kiểu đứng đắn, khoan khoái, khó khăn, nhọc nhằn. C̣n tứ-tượng là những từ đôi phức-thể như dấm da dấm dớ, vớ va vớ vẩn, khật khà khật khưỡng, lẩn tha lẩn thẩn hay những cụm từ bốn chữ của quán-ngữ, thành-ngữ, tục-ngữ như: đất lành chim đậu, ba hồn bẩy viá, buôn thần bán thánh, cá mè một lứa, cấy chay cày găi, cắt tóc đi tu, hằng hà sa số, ít Thầy đầy đăy, kiếp mần thân chiụ, lắm thầy rầy ma, qủy tha ma bắt, sống Tết giỗ chết, sinh d tlành, tham thực cực thân, tre già măng mọc, t́m thầy chạy thuốc. Sau rốt, bát-quái là những cụm từ nhiều chữ ngậm máu phun người trước dơ miệng ḿnh. Chữ viết đậm (bold) là song-thanh (dương-vận), c̣n viết ngả (italics) là điệp-vận (âm-vận).

Nhờ ngữ (tức thị hai tiếng kết-hợp theo ngữ-pháp) có tiết-tấu nên tiếng Việt mới đầy nhạc-tính, như ta thấy vừa rồi. Ta cũng có thể giở Kiều, Cung Oán hay các Truyện bằng thơ khác là có ngay thí-dụ.

      Kiều:

·         Trăm năm trong cơi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

·         tài mà cậy chi tài,

Chtài liền với chtai một vần.

·         Thiện-căn ở tại ḷng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. 

Cung-Oán:

·         Trải vách quế gió vàng hiu-hắt,

Mảnh vũ-y lạnh ngắt như đồng.

Hễ có nhạc là có hoà-âm với hai luật là Luật Bằng Trắc và Luật Phối-thanh tức Luật Tương-Thanh. Hai luật này giúp tiếng Việt khi nói chuyện, đọc văn hay ngâm thơ, ca hát hay hát ả-đào nghe thuận tai.

Ngoài ra, hoà-âm phong phú này cũng bao gồm cả những kỹ-xảo như tam-âm-giai (chính-âm, áp-âm và hạ-áp-âm) ta có thể thấy trong bài vỹ-tam thanh:

Tai nghe gà gáy tẻ tè te.

Bóng á vừa lên hé hẻ hè.

Non một chồng cao von vót vót,

Hoa năm sắc nở loẻ loè leo.

Chim: t́nh bầu bạn kia ḱa kiả,

Ong : nghiă vua tôi nhé nhẻ nhè.

Danh lơi mặc người ti tí tỉ.

Ngử trưa chưa dậy khoẻ khoè khoe.

     VÔ DANH

như Da Capo (trở lại từ đầu) ta có thể bắt gặp trong bài Chức Cẩm Hồi Văn cuả Đậu Thao nhà Tần mà cụ Nghè Ngô Thế Vinh đă Việt dịch. Để câu chót trong bài dịch có thể hồi văn về câu đầu tôi đă mạo-muội sửa chữ thứ tư cuả câu đầu (ngoài đi):

Chàng vâng chiếu ra đi biên-thú

Nhi phu xin sớm kíp ngày khởi quy


 

Luật Tương-thanh là "không dấu" và "dấu huyền" đi đôi với nhau; "dấu ngă" và "dấu hỏi" đi đôi với nhau; "dấu sắc" và "dấu nặng" đi đôi với nhau. Luật này áp dụng khi tạo tiếng ghép và được áp-dụng triệt để khi viết các bài "Từ".

Luật bằng trắc quan-trọng khi làm thơ (thơ Đường-luật, lục-bát, song thất lục-bát), làm phú hay làm văn biền-ngẫu hay làm cấu đối.

Khi làm thơ Đường hay làm câu đối nên nhớ một điều là không những đối-ư, đối tự-loại mà c̣n phải tuân-hành "Nôm đối Nôm", "chữ đối chữ". Chẳng hạn chữ kiền khi là chữ (Nho) th́ đọc là kiền nhưng khi là Nôm lại đọc là càn. Như trong bài thơ Nôm "Bán than" của Trần Khánh Dư:

Một gánh càn khôn quẩy xuống ngàn.

Nhưng trong Kinh Dịch ta lại phải đọc: "乾坤其易之門耶? Kiền khôn kỳ Dịch chi môn da = Kiền Khôn là cửa ngơ của Đạo Dịch ư?" (Hạ-Hệ, VI/1).

Có một điều là khi làm một câu đối dài, chữ thứ nh́ của vế trên bao giờ cũng phải là vần bằng. Do đó chữ thứ nh́ vế dưới bao giờ cũng phải là trắc. Dưới đây là đôi câu đối Nguyễn Văn Siêu nghĩ để viếng anh em Cao Bá-Đạt, Cao Bá-Quát:

Tối lân tai, quán cổ tài-danh, nan đệ cánh nan huynh, bất thế ngẫu sinh hoàn ngẫu tử.

Khả tích dă, đáo đầu sự thế, thử nhân nhi thử ngộ, hỗn trần lưu xú diệc lưu phương.

Nghĩa là:

Khá thương thay, nức tiếng tài-danh, khó làm anh (mà) cũng khó làm em, đời dễ mấy người cùng sống thác.

Đáng tiếc vậy, cơ-sự đến thế, người ấy gặp vận ấy, bụi mù để tiếng xấu lẫn danh thơm. 

Ông Galileo Galilei (1564-1642), khi đi t́m nghiă-lư cho Vật-lư thực-nghiệm có nói câu "Provando et ripravando" (thử đi thử lại, thử tới thử lui) mà ta có thể áp-dụng ngay cho công cuộc kiếm t́m quy-mô và trường-kỳ này.

 

KẾT-NGỮ
 

Kinh Dịch v́ nhiều độc-giả hơn, nên có mươi chuyên-thư để khảo-cứu Dịch-âm. Kinh Thái-huyền, người đọc hiếm hoi, nên chỉ có chương "Thái-Huyền Thích-âm" trong sách "Thuyết Huyền Ngũ Thiên說玄五篇" (4AAH, tr. 109-120) của Tể-tướng đời Đường Vương Nhai 王涯mà thôi.

Quẻ #43 thời cổ đọc là Quyết (Trạch Thiên Quyết 澤天  k). Nhờ âm-luật "Dương thượng tác khứ", ta biết thêm là thời Chiến-quốc, các quẻ #8, #25, #47 phải đọc là Tỷ (Thủy-điạ Tỷ 水地比 H), Vô-vơng (Thiên-lôi Vô-vơng 天雷 Y), và Khổn (Trạch-thủy Khổn 澤水困  o). Tương-tự, các Thủ #5 (92) và #66 (=<) phải đọc là Thiểu và Khử (Sở dĩ thủ này tên là Khử là bởi v́ ngay đầu thủ, ta có câu: "Dương khử kỳ âm, âm khử kỳ dương陽去其陰。陰去其陽。"). Theo Tể-tướng Vương Nhai (4AAH, tr. 115), thủ #9  A2phải đọc là (đồng-âm với sơ ).

Tuyệt nhiên, tất cả các quẻ cũng như các thủ không có đồng-âm nên không có trường-hợp ngộ-nhận trong Anh-ngữ, như ta thấy dưới đây:

H1  = Ch’ien1 A Kiền; H39 = Ch’ien3 g Kiển;

H27 = I [ Di; H42 = I4 j Ích;

H10 = Lü3 J Lư; H30 = Li ^ Ly; H56 = Lü2 x L .

For the T’aishüanching (Thái-Huyền-Kinh), we have to use extra ordinals in the cases of the sets of Shou (#3, #4), (#23, #62), (#21, #61, #75):  

        Sh36 = Chiang1 A4 Cương; Sh78 = Chiang2  ?BTương;

           Sh55 = Chien2  16Giảm; Sh72 = Chien1  A<Kiên ;

           Sh71 = Chih2  ;<Chỉ; Sh74 = Chih3  7BTrí ;

           Sh34 = Ch’in1 54Thân; Sh80 = Ch’in1  ;BCần;

           Sh39 = Chü1  =:; Sh59 = Chü3 96Tụ; Sh76 = Chü4 3BKịch;

Sh1 = Chung1 12Trung; Sh32 = Chung3 94Chúng;

Sh18 = Hsi1 A8Hề; Sh58 = Hsi4 36Hấp;

Sh3 = Hsien1 =2Hiền; Sh4 = Shien2 32Nhàn; Sh10 = Hsien3 18Tiện;

Sh23 = I1 9>Di; Sh30 = I3 =4Nghị; Sh62 = I2 ;6Nghi;

            Sh6 = Li3 ?2Lệ; Sh48 = Li2 =@ Lễ;

            Sh21 = Shih1 =>Thích; Sh27 = Shih A>Sự; Sh61 = Shih2 56Sức;

            Sh63 = Shih3 A6Thị; Sh75 = Shih3 =BThất;

            Sh15 = Ta4 ?8Đạt; Sh45 = Ta3 A:Đại;

            Sh41 = Ying3 9:Ứng; Sh42 = Ying1 ?:Nghinh  

Ngoài ra, khi đọc nguyên-văn Kinh Dịch, ta nên kiếm các thiện-bản như Dịch Kinh của nhóm Thái-tử Thiếu-bảo Đinh Bửu Trinh (4AAG), v́ các chữ đa-âm đều có dấu móc ở một trong bốn góc (B́nh, thượng, khứ, nhập). Như trong hào từ cửu-nhị và hào -từ dụng-cửu quẻ Kiền A, chữ Kiến đều có dấu móc ở góc trên bên phải và đều phải đọc là hiện; chữ lao và chữ tương đều có dấu móc ở góc trên bên phải, trong câu "君子以勞民勸相。Quân-tử dĩ lạo dân khuyến tướng = Quân-tử coi đó mà an-ủi dân và khuyến-khích họ giúp đỡ nhau" phải đọc là lạo và tướng (Đại-tượng-từ quẻ Tỉnh p); chữ trong hào-từ thượng-lục quẻ Giải h"公用射隼 Công dụng thiệc chuẩn = Ông dùng để bắn trúng con chim cắt," có dấu móc ở góc dưới bên phải, phải đọc là thiệc và có nghĩa là bắn trúng đích; cả hai chữ hành đều có dấu móc ở góc trên bên phải, trong câu "君子以成德為行。日可見之行也。Quân-tử dĩ thành đức vi hạnh. Nhật khả kiến chi hạnh dă = Quân-tử lấy việc trở nên có đức làm nết, hằng ngày có thể thấy nơi phẩm-hạnh." (Văn Ngôn quẻ Kiền A) đều phải đọc là hạnh; chữ xạ trong câu 水火不相射 Thủy hoả bất tương dịch = Thủy hoả không nhàm chán nhau) (Thuyết-quái-truyện, III/1), có dấu móc ở góc dưới bên phải, phải đọc là dịch; chữ thắng trong câu"言不勝其任也。Ngôn bất thăng kỳ nhiệm dă. = là nói không làm nổi trách-nhiệm vậy." (Hệ Hạ V/10), có dấu móc ở góc dưới bên trái, phải đọc là thăng; chữ có dấu móc ở góc trên bên trái, trong câu"以小惡為无傷而弗去也。Dĩ tiểu ác vi vô thương nhi bất khử dă. = Cho rằng điều ác nhỏ vô-hại mà chẳng bỏ" (Hệ Hạ V/8) phải đọc là khử; chữ trị có dấu móc ở góc dưới bên trái, trong câu "君子以歷明時。Quân-tử dĩ tŕ lịch minh th́ = Quân-tử coi đó để sửa sang lịch-pháp mà làm sáng tỏ thời-thế." (Đại-tượng-từ quẻ Cách q) phải đọc là tŕ; chữ kỷ có dấu móc ở góc dưới bên trái và chữ xá có dấu móc ở góc trên bên trái, trong câu "君子幾不如舍 Quân-tử cơ bất như xả = Người quân-tử biết cơ-sự ấy thời bỏ đi c̣n hơn." (Hào-từ lục-tam quẻ Truân C) phải đọc là cơ và xả; chữ thi có dấu móc ở góc trên bên phải và chữ phục có dấu móc ở góc dưới bên phải, trong câu "見龍在田。德施普也。終日乾乾,反復道也。Hiện long tại điền, đức thí phố dă. Chung nhật kiền kiền, phản phúc đạo dă. = Rồng hiện ở ruộng, đức lan rộng vậy. Suốt ngày đau đáu, trở đi trở lại với đạo vậy. " (Thoán-truyện quẻ Kiền) phải đọc là thí và phúc; chữ Kiền có dấu móc ở góc dưới bên trái, trong câu "噬乾。得金矢。 Phệ can tỷ, đắc kim thỉ. = Cắn chạo khô, được tên vàng." (Hào-từ cửu-tứ quẻ Phệ-hạp U); chữ trường có dấu móc ở góc trên bên trái, trong câu "元者善之長也。Nguyên giả thiện chi trưởng dă = Nguyên là trùm mọi điều thiện." (Văn Ngôn quẻ Kiền A) phải đọc là trưởng; chữ tri có dấu móc ở góc trên bên phải, trong Tiểu-tượng-từ hào lục-tam quẻ Khôn B"知光大也。 Trí quang-đại dă = Là v́ trí khôn đă sáng-suốt to lớn vậy", phải đọc là trí; chữ tam   có dấu móc ở góc trên bên phải và chữ cáo có dấu móc ở góc dưới bên phải trong Thoán-từ quẻ Mông D "初噬告再三瀆瀆則不告 Sơ phệ cốc, tái tám độc, độc tắc bất cốc = Bói một lần th́ bảo, đến hai ba lần th́ nhàm, nhàm th́ chẳng bảo" phải đọc là támcốc; chữ thủ  có dấu móc ở góc trên bên phải trong Tiểu-tượng-từ hào lục-tam quẻ Mông D " 勿用取Vật dụng thú nữ = như thể đừng cưới người con gái ấy" phải đọc là thú; chữ tang có dấu móc ở góc trên bên phải, trong Thoán-từ quẻ Khôn "東北喪朋  Đông-bắc táng bằng = đi phiá đông-bắc th́ mất bạn" phải đọc là táng v.v.

                                                                                   

  

 Hiện     Lạo    Thiệc    Tướng   Hạnh    Dịch  Thăng    Khử    Tŕ     Cơ

< Kiến < Lao   < Xạ  < Tương  < Hành < Xạ < Thắng < Khứ < Trị  < Kỷ 

                                                                                        

 

  Xả    Thí      Phúc     Can    Trưởng     Trí     Cốc    Tám     Thú     Táng

< Xá < Thi  < Phục  <  Kiền  < Trường < Tri  < Cáo  < Tam <  Thủ  < Tang

  

PHỤ-LỤC
 

I  Lục-Thư

     
 

Danh-xưng này xuất-hiện sớm nhất trong Chu Lễ, Thiên "Điạ-Quan Bảo-thị" (Chu Lễ Chú-sớ 周禮, Quyển IX, Điạ-quan Tư-đồ Đệ-nhị, Bảo-thị, 1H, tr. 731): Bảo-thị chưởng gián Vương ác 保氏掌諫王惡 (Sư-thị trông coi tam-đức, tam-hạnh để đem mỹ đạo dạy bảo vua. C̣n Bảo-thị dùng các đức-hạnh này để can-ngăn mỗi khi vua phạm điều ác). Trên nguyên-tắc, họ Bảo làm công việc này bằng cách dạy quốc-tử sáu nghề: Ngũ-lễ, Lục-nhạc, Ngũ-xạ, Ngũ-ngự, Lục-thư và Cửu-số.

Triều Hán có ba nhà thuyết-minh Lục-thư là:

  1. Ban Cố 班固 (Hán-thư Nghệ-văn-chí漢書藝文志): Thời cổ, trẻ con lên tám cho vào học tiểu-học, cho nên Chu-quan Bảo-thị trông coi việc dạy-dỗ quốc-tử, dạy cho Lục-thư gồm có tượng-h́nh, tượng-sự, tượng-ư, tượng-thanh, chuyển-chú, giả-tá, đó là gốc việc tạo chữ.
  2. Trịnh Chúng 鄭眾 (Chu-Lễ Bảo-thị-chú周禮保氏): Sách Chu Lễ Trịnh-Huyền Chú 周禮鄭玄dẫn sách Trịnh Chúng Chu Lễ Giải Hỗ 鄭眾周禮解 như sau: Lục-thư là Tượng-h́nh, Hội-ư, Chuyển-chú, Xử-sự, Giả-tá, Hài-thanh.
  3. Hứa-Thận 許慎 (Thuyết-Văn Giải-Tự 說文解字, 4AAV ). Trong bài tựa sách này, Hứa-Thận viết: Chu-Lễ bảo trẻ con lên tám cho vào học tiểu-học, Bảo-thị dạy quốc-tử, trước lấy Lục-thư: một là Chỉ-sự指事, tức là nh́n mà biết được, xét mà thấy ư, như hai chữ thượng hạ . Hai là Tượng-h́nh 像形tức là vẽ qua loa vật muốn biểu-thị, rồi tùy thể cật-truất (hỏi để giữ hay bỏ), như hai chữ nhật nguyệt. Ba là h́nh-thanh 形聲tức dùng âm đặt tên, lấy ví mà thành, như hai chữ giang. Bốn là hội-ư 會意tức thị so loại hợp-nghị để xem ư-chỉ, như hai chữ vũ tín . Năm là chuyển-chú 轉注tức phân loại, giống ư nương tựa nhau. Sáu là giả-tá 假借tức là vốn không có chữ sau mới dựa vào thanh mà thác sự, như hai chữ khảo lăo.

Giải-thuyết ba nhà tuy có chỗ giống, chỗ khác nhưng đều lấy nguồn từ sách Thất-lược七略 của Lưu Hâm劉歆. Hán-thư Nghệ-văn-chí xét kỹ chỉ là nguyên-văn của Thất-lược. Trịnh Chúng là con Trịnh Hưng mà ông này lại là môn-sinh của Lưu Hâm. Hứa Thận là đệ-tử của Giả-Qùy. Mà Giả-Huy, thân-phụ Giả-Qùy là học tṛ của Lưu Hâm. Thảo nào học-thuyết của Trịnh-Chúng, Hứa Thận đều bắt gốc ở Lưu Hâm. Ba tên gọi đầu: tượng-h́nh, chuyển-chú, giả-tá in hệt, ba tên gọi c̣n lại (sự, ư, thanh) thực-chất khá giống, giải-thuyết và danh-xưng hơi khác, có khác chăng, chẳng qua là do phân-tích chủ-quan và do sở-thích đặt tên của riêng ḿnh.

Nói khác đi, Lục-thư là 6 phép tạo chữ: Tượng-h́nh, Chỉ-sự (= Tượng-sự = Xử-sự), Hội-ư (= Tượng-ư), Hài-thanh (Tượng-thanh = H́nh-thanh), Chuyển-chú và Giả-tá.

  1. Tượng-h́nh (Imitative drafts): là phác-hoạ một vật nào đó. Trong "Thuyết-Văn" có 364 chữ tượng-h́nh. Vd: Chữ lập vẽ môt người đứng trên mặt đất\
  2. Chỉ-sự (Indicative symbols) là vẽ qua loa để gợi ư muốn diễn-tả. Trong "Thuyết-Văn" có 125 chữ Chỉ-sự. Vd1: chữ thượng thời cổ viết bằng ba kiểu : ư nói vật nhỏ ở trên vật lớn. Vd2: chữ hạ thời cổ viết bằng ba kiểu : ư nói vật nhỏ ở dưới vật lớn.
  3. Hội-ư (Logical aggregates) là dùng hai hoặc nhiều chữ đơn-giản để diễn-đạt chữ sở-quan. Trong "Thuyết-Văn" có 1167 chữ Hội-ư. Vd: chữ chiêm = bói  gồm có hai chữ khẩu (miệng) và bốc (bói).
  4. Hài-thanh (Phonetic complexes) hợp bởi hai hoặc nhiều chữ đơn-giản trong đó môt phần cho âm, một phần cho nghĩa. Trong "Thuyết-Văn" có 7697 chữ Hài-thanh. Vd: chữ triêm (thấm ướt), phần bên trái (chấm thủy) cho nghĩa, phần bên phải (chiêm = bói) cho âm. Đại-đa-số chữ Nôm được tạo ra bằng Hài-thanh
  5. Chuyển-chú (Extended acceptation): v́ các chữ cổ-sơ thường chỉ các vật cụ-thể nên phải suy rộng ra nghĩa bóng của chúng. Vd: thoạt đầu chữ vơng chỉ lưới đánh cá, sau mới suy rộng thành bất kỳ cái ǵ ràng buộc sự vật, như lưới trời, lưới pháp-luật. Ngày này vơng chỉ mạng (network), nên chi vơng-chỉ chính là URL (Uniform Resource Locator).
  6. Giả-tá (False borrowing) là ban cho một chữ chỉ có trong tiếng nói mà chưa có trong văn-tự, một nghĩa mới v́ nhầm lẫn hay v́ ước-lệ. Vd1: Câu thứ nh́ trong Luận-ngữ: "Hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc duyệt hồ 有朋自遠方來不亦說乎? = Có bạn từ phương xa đến học hỏi với ḿnh chẳng vui mừng sao?"

Người chép sách nhầm chữ thuyết (= nói) với chữ duyệt (vui-mừng). Vd2: Ngày xưa vạn (= muôn) chỉ có trong tiếng nói và đồng-âm với vạn vốn chỉ con ḅ-cạp với hai càng và một đuôi. Sau chữ này mất nghĩa nguyên-thủy và được dùng để chỉ một muôn từ bấy đến giờ.

Có sách nhỏ Văn-tự Mông Cầu (4AAZ) của Vương-Quân cắt nghĩa rất rơ ràng 4 phép Tượng-h́nh (tr. 7-36), Chỉ-sự (tr. 37-54), Hội-ư (tr. 55-162) và H́nh-thanh (tr. 163-193). Ta có thể dùng làm tài-liệu khảo-cứu.
 

II Giới-âm “i” trong Việt-ngữ và Bạch-thoại

E. G. Pulleyblank
 

Chuyên-từ Ngữ-học:

Affix                                Từ-xuyết

Affricate                           Tắc-sát-âm

Alliteration                         Song-thanh

Allophone                          Đồng-vị-âm

Alveolar                            Thiệt-liệt-âm

Alveo-palatal Sound            Thiệt-diện-âm, Thiệt-diện-tiền-âm

Anastrophe                       Đảo-trí

Apical Front Vowel              Thiệt-tiêm-tiền Nguyên-âm

Apical sound                      Thiệt-tiêm-âm

Apical Vowel                      Thiệt-tiêm Nguyên-âm

Apico-alveolar Sound           Tiền-xỉ-bối-âm

Apico-nasal Sound              Độc-phát Tị-âm

Aspirate                            Thổ-khí-âm

Aspiration                         Tống-khí

Bilabial                             Song-thần-âm

Blade Alveolar Vowel           Thiệt-tiêm-tiền-âm

Blade Palatal Sound            Thiệt-tiêm-hậu-âm

Continuant                        Cửu-âm, Khẩu-súc-âm

Dental                              Chính-xỉ-âm, Xỉ-âm

Diachronic Linguistics          Ngữ-ngôn-học Đoán-đại

Disyllabic Roots                  Liên-miên-từ

Disyllabic Word                  Song-tiết, Song-âm-tiết-từ, Phức-âm-từ

Dorsal Vowel                     Thiệt-diện Nguyên-âm

Dorsum                            Thiệt-bối

Diphthong                         Nhị-hợp Nguyên-âm                    

Epigram                            Cảnh-cú

Etymology                         Văn-tự-học, Từ-nguyên-học, Ngữ-nguyên

Euphemism                       Tỵ-húy, Ủy-uyển-ngữ         

Final                                Vận-mẫu, Âm cuối

Fricative                           Sát-âm

Fricative Spirant                 Thâu-liễm-âm

Glottal Sound                     Hầu-âm

Glottalized                         Hấu-âm

Harmonic                          Bồi-âm, Hoạ-tần

Ideogram                          Văn-tự  biểu-ư

Idiom                               Thành-ngữ, Quán-dụng-ngữ, Phương-ngôn

Infix                                Trung-xuyết, Từ-phúc

Initial                               Thanh-mẫu, Âm đầu

Implosive                          Duy-bế-âm

Labial                               Thần-âm

Labialized Vowel                 Viên-thần Nguyên-âm

Labio-dental                      Thần-xỉ-âm, Khinh-thần-âm

Labio-laryngals                   Thần-hầu-đầu-âm

Laryngal Fricative               Hầu-sát-âm

Laryngals                          Hầu-đầu-âm

Lexicography                     Từ-điển-học

Lexicology                         Từ-hối-học

Lexicon                             Ngữ-vựng                        

Lower Tone                       Dương-điệu

Media                               Trọc-âm

Medial                              Giới-âm

Meter                               Tiết-phách, Vận-luật

Modifier                            Tu-sức-ngữ

Mother Tongue                   Tiếng Mẹ Đẻ, Mẫu-ngữ

Nasal                               Tị-âm

Neutral Tone                     Khinh-thanh

Occlusive                          Tắc-âm

Occlusive Fricative              Tắc-thông-âm

Onomasiology                    Danh-xưng-học

Onomatopoeic Word          Nghĩ-thanh-từ, Tượng-thanh-từ, Mô-thanh-từ

Oral Cavity                        Khẩu-xoang

Palatal                              Thiệt-thượng-âm

Palatal Alveolar                  Thiệt-diện-âm

Palatal Sound                     Thiệt-diện trung-âm, Khẩu-cái-âm

Palate                              Cuá

Paleography                      Cổ-văn-tự-học

Phonetics                          Ngữ-âm-học

Phonogram                       Văn-tự Biểu-âm

Point of Articulation             Bộ-vị Phát-âm

Postposition                       Hậu-trí-từ

Predicate                          Vị-từ, Vị-ngữ

Predicative                        Biểu-ngữ

Prefix                               Tiền-xuyết, Từ-đầu

Pronunciation                     Độc-âm

Retroflex Fricative              Quyển-thiệt Sát-âm

Retroflex Sound                 Quyển-thiệt-âm

Rhetoric                            Tu-từ, Tu-từ-học

Rhyming Binomes               Điệp-vận

Rhythm                            Tiết-tấu

Rhythm Book                     Vận-thư

Semantics                         Ngữ-nghĩa-học

Semi-dental Sound             Bán-xỉ-âm

Semi-palatal Sound             Bán-thiệt-âm

Semivocalic Constriction       Bán-nguyên-âm

Sibilant                             Ti-âm

Sinitic Family                     Hoa-Hạ Ngữ-tộc

Sino-Tibetan Language Family                  Hán-Tạng Ngữ-tộc

Sino-Vietnamese                Hán-Việt-ngữ

Soft Palate                        Cuá mềm, Nhuyễn-ngạc

Sonant                             Trọc-âm

Stop Sound                       Phá-liệt-âm, Tắc-âm

Suffix                              Hậu-xuyết, Từ-vỹ

Syllable                            Âm-tiết

Synchronic Linguistics          Ngữ-ngôn-học Đoán-đại

Syntagma                         Đậu, Cú-đoạn, Ngữ-đoạn

Syntax                             Cú-pháp

Terminology                      Thuật-ngữ

Theme                             Chủ-đề

Tibeto-Burmese Language Family              Tạng-Miến Ngữ-tộc

Timbre                             Âm-sắc, Âm-chất

Tone                                Thanh-điệu

Transcription                     Tiêu-âm-pháp

Triphtong                          Tam-trùng-âm, Tam-hợp Nguyên-âm       
                                       Ex: tire, hour

Typological                        Loại-h́nh

Unaspirated                       Bất-thổ-khí

Velar Semi-vowel               Bán-nguyên-âm màng cuá (nhuyễn-ngạc)

Velar Sound                      Thiệt-căn-âm, Hầu-ngạc-âm, Nha-âm

Velum                              Màng cuá, Khẩu-cái-phàm

Vernacular Writing              Ngữ-thể-văn

Vocalization                       Nguyên-âm-hoá

Voiced                              Hữu-âm  

Voiceless                          Vô-âm

Zero Initial                        Linh-thanh-mẫu

 

 

 

III  A New Interpretation

of the Even and Oblique Tones

by TING Pang-hsin

4AW, pp. 1-15

English Summary

 

The meaning of the contrast between the even (p’ing) and oblique (tse) tones in Ancient Chinese was discussed by several scholars, such as Chou Fa-kao 周法高 (Chu Pháp-Cao, Wang-li 王力 (Vương-Lực) and Mei Tsu-lin梅祖麟 (Mai Tổ-Lân). The purpose of this paper is to suggest a new interpretation and to propose for each tone the possible tonal contour, Basing on the rich material collected in Hsi-t’an tsang 悉曇藏, by the Japanese monk Annen 安然 (An-nhiên), in the year 880 A.D., and some other evidences, the author comes to the following conclusion: The distinction between the even and oblique tones is that the former is a real level tone with normal length and the latter ones are are non-level tones. Among the non-level tones, the shang is a high rising tone with normal length, the chü a mid falling tone also with normal length, and the ju a short interrupted tone with unknown contour.

          From this conclusion, the correct function of the even and oblique tones in Chinese literatures, especially poetry, shouls be explained as a rule of level versus non-level. Fundamentally, it has nothing to do with long or short, high or low, and lighrt or heavy. Secondarily, the p’ing, the shang and the chü could be grouped together as long tones versus the only short tone ju. This groupimg could be used as a secondary rule of length applied after the fundamental rule of level versus non-level. 

 

IV Chữ Nôm và sự Cống Hiến của Chữ Nôm

 đối với Cổ Văn Học Việt Nam 

Nguyễn Khắc Kham 

Từ xa xưa ở Việt Nam đă có văn tự hay không th́ hiện vẫn chưa rơ, nhưng có một điều chắc chắn rằng dưới thời Trung Quôc thống trị, ngoài chữ Hán ra không có một loại văn tự nào khác. Theo giả thuyết của một số học giả th́ chữ Nôm được phát minh vào khoảng thế kỷ thứ 2 hoặc thế kỷ thứ 8 hoặc cuối thể kỷ 13. Chúng tôi thử đề xuất ư kiến mới về niên đại phát kiến ra chữ Nôm và thử tŕnh bày thật kỹ về những qui tắc tạo chữ Nôm. Ở đây chúng tôi chú trọng vào sự cống hiến của chữ Nôm đối với văn học Việt Nam. Nhờ có chữ Nôm mà trải qua gần bảy thế kỷ, một nền văn học phong phú đă h́nh thành, cho đến nay đă để lại nhiều tác phẩm Nôm. Hơn nữa trong số đó có rất nhiều tác phẩm liên quan đến lịch sử và dân gian Việt Nam. Chính v́ vậy chữ Nôm giữ một vai tṛ lớn và không thể thiếu trong việc khảo cứu văn học Việt Nam cổ. Đồng thời chữ Nôm cũng là một công cụ cần thiết cho việc nghiên cứu lịch sử và văn hoá Việt Nam.

Nguyễn Đức Kính

                                                                    chuyển nhập và dịch

 

字喃と昔の越南文学に対する字南の貢献

 

                                                                               Nguyễn Khắc Kham

 

越南には大昔から文字があったかどうかは今も解らないが、中国の支配下

にあった頃漢字の外には何の文字もなかった事は確かな事である。数人学者

によれば、字喃西暦二世紀又八世紀又十三世紀末発明されていた

とのだにある。字喃発見年代いて、新しい見解提出その

のルールを出来るだけしくべて又越南の文学に対する貢献に重き

いた。字喃によって七世紀近くに豊富文学出来上がって

、今までに多くの字喃作品を残してきた。更に残っている字喃文献は越南の歴

史や民俗に関するものが多くある。それ字喃越南文学勉強する

になくてはならない大きな役目を持っている。又越南の歴史や文化を研究する

にも必要道具である

 

 

   

 

    Xem tiếp Kỳ 44

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com