www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 04

 

DỊCH ÂM

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 41)

 

II  Song-Thanh Điệp-Vận

 

Hồi đầu người ta chỉ dùng có một tiếng đơn 'phản ' hoặc 'phiên ' hoặc 'thiết '. Sau mới dùng tiếng đôi 'phản-thiết 反切'. Sau vụ 'phản Đường' (loạn An Lộc Sơn), người ta mới đổi thành 'phiên-thiết 翻切'. Đường Huyền Độ 唐玄度trong bài tựa "Cửu-kinh Tự-dạng 九經字樣" có viết: "V́ kiêng dùng tiếng ‘phản’ nhưng vẫn nữu (buộc) tứ-thinh  mà định âm-chỉ". Ngày nay, người Trung-Hoa dùng 'phản-thiết', c̣n ta vẫn quen nói là 'phiên-thiết'.

 

Phép thiết-ngữ là dùng hai chữ để thích-âm một chữ: chữ trước song-thinh (cùng thinh-mẫu = initial) và chữ sau điệp-vận (trùng vần = final) với bản-tự. Nói khác đi, chữ trước lấy THINH, chữ sau lấy VẦN. (Xin đọc Phụ-tắc quan-trọng bên dưới).

Với bốn tiếng đa, đắc, đô, đang cũng như tiêu, vưu, hầu, thử ta có:

 

(1) đa= đắc + hà; đắc = đa + tắc; đô = đương + hồ; đang = đô + lang.

(2) tiêu = tô + điêu; vưu = vũ+ cầu (cừu); hầu = hộ+ câu; thử= thư+ thị  

 

Trong "Thiết-vận-khảo ", Trần-Lễ (1810-1882) cũng nói thêm là: chữ trước không được "song-thinh" với chữ sau và chữ sau không được "điệp-vận" với chữ trước. Tỷ như nếu phiên-thiết: cao = cao + cao , th́   song-thinh với và điệp-vận với . Chẳng hoá ra là ta đă dùng trực-âm mất rồi.

Quảng-vận, cuối Quyển V (4D, tr. 527) có phụ-lục một biểu ngoạn-mục nói về phép luyện-tập "Song-thinh Điệp-vận". Trước tiên, lấy âm một chữ tách thành âm hai chữ: tỷ như lấy chữ " chương" tách thành " chước lương (thiết)", lại lấy "chước lương" đảo qua, đảo lại mà đọc là " lương chước", "lương chước" phiên thiết thành chữ " lược", lại thêm vào chữ "chương", "chương lược" lại phiên-thiết ra "chước". Cứ làm như thế rồi đặt bốn chữ "chước, lương, chương, lược" vào bốn góc. Đọc ngang suy ra "Song thinh", đọc chéo suy ra "Điệp-vận". Thật là lư-thú và dễ hiểu.

 

B̀NH  THƯỢNG  KHỨ   NHẬP

Chương   Chước   Chưởng   Chương   Chướng   Chương    Chước   Chương

Lược     Lương      Lương     Lưỡng     Thương   Hướng      Lương   Lược

 

Bảng 41.1  Song-Thanh Điệp-Vận Pháp 

Vận-bộ bao gồm thanh-mẫu (initial) và vận-mẫu (final). Hệ-thống Thiết-vận-Quảng-vận có tất cả 206 vận-bộ phân-phối thành tứ-thanh. Mỗi vận-bộ hoặc độc-dụng (dùng lẻ) hoặc đồng-dụng (dùng với một chữ đồng-âm), có kèm hai chữ để phiên-thiết. Tỷ như chữ Đông có hai chữ Đức Hồng 德紅kèm theo. Bên dưới là Bảng tổng-hợp hai sách Thiết-vận và Quảng-vận (4D, tr. Dẫn-mă 001-002, 110, 111-112, 212, 213-5, 318, 319-321, 426, 427-8) với sự hỗ-trợ của tàn-quyển Thiết-vận in đời Đường (4AV, tr. 11-16), Thiết-vận-khảo (4H) và Cổ-âm Khái-thuyết (4T, tr. 73-75):
 

#

B́nh

-  `

Thượng

̉̃

Khứ

‚   .

Nhập

(‚   .)+

(C, ch,

p, t)

1

1. Đông

1. Đổng

1. Tống

1. Ốc

2

2. Đông

 

2. Tống

2. Ốc

3

3. Chung

2. Thũng

3. Dụng

3. Chúc

4

4. Giang

3. Giảng

4. Giáng

4. Giác

5

5. Chi

4. Chỉ

5. Chố

 

6

6. Chi

5. Chỉ

6. Chí

 

7

7. Chi

6. Chỉ

7. Chí

 

8

8. Vi

7. Vỹ

8. Vị

 

9

9. Ngư

8. Ngữ

9. Ngự

 

10

10. Ngu

9. Ngũ

10. Ngộ

 

11

11. Mô

10. Mỗ

11. Mộ

 

12

12. Tề

11. Tễ

12. Tế *

 

13

 

 

13. Tế

 

14

 

 

14. Thái

 

15

13. Giai

12. Giải

15. Quái

 

16

14. Giai

13. Hăi

16. Quái

 

17

 

 

17. Quyết

 

18

15. Khôi

14. Hổi

18. Đội

 

19

16. Hai

15. Hải

19. Đại

 

20

 

 

20. Phế

 

21

17. Chân

16. Chẩn

21. Chấn

5. Chất

22

18. Truân

17. Chuẩn

22. Chuấn

6. Thuật

23

19. Trăn

 

 

7. Trất

24

20. Văn

18. Vẫn

23. Vấn

8. Vật

25

21. Hân

19. Ẩn

24. Hấn

9. Hật

26

22. Nguyên

20. Nguyễn

25. Nguyện

10. Nguyệt

27

23. Hồn

21. Hỗn

26. Hộn

11. Một

28

24. Ngân

22. Hẫn

27. Hận

 

29

25. Hàn

23. Hăn

28.  Hạn

12. Hạt

30

26. Hoàn

24. Hoăn

29. Hoán

13. Mạt

31

27. San

25. Sản

30. Gián

14. Hập

32

28. San

26. Sản

31. Kiện

15. Hạt

33

  1. Tiên

27. Tiển

32. Tản*

16. Tiết

34

  2. Tiên

28. Tiển

33. Tuyến

17. Tiết

35

  3. Tiêu

29. Tiểu

34. Khiếu

 

36

  4. Tiêu

30. Tiêu

35. Tiếu

 

37

  5. Hào

31. Xảo

36. Hiệu

 

38

  6. Hào

32. Hạo

37. Hạo

 

39

  7. Ca

33. Quả

38. Cá

 

40

  8. Qua

34. Quả

39. Quá

 

41

  9. Ma

35. Mă

40. Mạ

 

42

10. Dương

36. Dưỡng

41. Dạng

18. Dược

43

11. Đường

37. Đăng

42. Đăng*

19. Đạc

44

12. Canh

38. Nghạnh*

43. Ánh

20. Mạch

45

13. Canh

39. Cảnh

44. Tránh

21. Mạch

46

14. Thanh

40. Tĩnh

45. Kính

22. Tích

47

15. Thanh

41. Huưnh*

46. Kính

23. Tích

48

16. Trưng

42. Chửng

47. Chứng

24. Chức

49

17. Đăng

43. Đẳng

48. Đắng

25. Đức

50

18. Vưu

44. Hữu

49. Hựu

 

51

19. Hầu

45. Hậu*

50. Hậu

 

52

20. U

46. Ấu*

51. Ấu

 

53

21. Xâm

47. Tẩm

52. Thậm

26. Tập

54

22. Đàm

48. Cảm

53. Khám

27. Hạp

55

23. Đàm

49. Cảm

54. Hám

28. Hạp

56

24. Diêm

50. Diễm

55. Diễm

29. Diệp

57

25.Thiêm

51. Thiểm

56. Thiệm

30. Thiếp

58

26. Hàm

52. Hảm

57. Nghiếm

31. Hiệp

59

27. Hàm

53. Hạm*

58. Hăm

32. Hạp

60

28. Nghiêm

54. Nghiễm

59. Giám

33. Nghiệp

61

29. Phàm

55. Phạm*

60. Phạm

34. Phạp

Bảng 41.2 206 Vận-Bộ của Hệ-Thống Thiết-vận-Quảng-vận

                                 [4T, tr. 73-75] 

Chú Thích: Các tiếng ở cột "Khứ" có dấu "*" là đă bị luật "Dương thượng tác khứ" chi-phối rồi. Do đó trong Cổ-Hán-ngữ và Hán-Việt-ngữ chúng vẫn mang dấu hỏi như thường. Tế vẫn đọc là tễ. C̣n các tiếng ở cột "Thượng" có dấu "*" là thời "Quảng-vận" chưa bị luật "Dương thượng tác khứ" chi-phối. Do đó, sau này trong Hán-ngữ và Hán-Việt-ngữ chúng sẽ mang dấu sắc hoặc dấu nặng. Tỷ như "nghạnh", "quưnh", thời "Quảng-vận" đọc là "nghănh", "quỷnh". Trong cột KHỨ "57 Nghiếm" và "59. Giám" nên hoán-vị.
 

36
Tự-mẫu

Nghĩ-âm

Phiên-thiết Thượng-tự

Kiến

c, k, qu

c, k, qu

cổ, công, các, cách, cô, kiêm, quai, quá

cư, quỷ, câu, cử, cửu, cát, kỷ, quy, kỷ

Khê

Kh

 

Kh, C

khổ, khang, không, khẩu, khô, khác, khách,

khải, khiêm, khiển

khử, khâu, khu, khư, khuy, cật, khư, khương,

khải, khu, khuynh, khỉ (ỷ), khâm, khởi

Quần

C, K

cừ, cự, cầu, kỳ, kư, kỳ, cường, cù, cữu, cụ

Nghi

Ng, Ngh

Ng, Ngh

ngũ, nga, ngô, nghiên

ngư, nghi, nguy, ngữ, ngưu, ngô, ngu, ngu, nguy

Đoan

Đ

đô, đức, đa, đương, đông, đinh, đắc

Thấu

Th, Đ

tha, thang, thổ, thông, thổ, thác, đài, thiên

Định

Đ

đồ, đồng, đỗ, đà, đường, độ, điền, đặc, đường

N

nô, nội, năi, na, nặc, năi (nhĩ)

Tri

Tr, Đ

Tr, Ch

trác, đô, trúc, đinh, trắc, trương, trư, trung

trắc, trương, tri, trúc, trư, truy, đinh, trung, chủy

Triệt

S, Th

sửu, sắc, tha

Trừng

Đ, Tr

đà, trữ, trực, đỗ, trừ, trượng, đồ, trường

trực, đỗ, tŕ, tŕ, tŕ, tŕ, trừ, trị, trượng

Nương

N, Nh

nữ, nhĩ, nô, nặc, năi, nă, ni

ni, nữ

Bang

B

T, B, Ph

bác, bổ, bố, bắc, biên, ba, bách, bá

ti, bỉ, phủ, tất, phụ, tinh (phanh), binh, phương,

bỉ, pha (bí), tí, bút

Phi

Ph

phương, phủ, phong, phụ, phân

Bàng

B, Ph, Th

phổ, bang

thất, phi, phô, phủ, thí, phương, phi

Phô

Ph

Phương, phô, phủ, phu, phất, phi, phong

Tinh

(Banh)

B

B, Ph, T

bồ. bạc, bùi, bàng, bộ, bộ, bạch

b́, b́nh, phù, tiện, tỳ, pḥng, phù, tỳ, phù, bật

Phụng

Ph

pḥng, phùng, phù, phù, phù, bật

Minh

M

mạc, mô, mẫu, mộ, mô, mạc

Vi

V

Vũ, văn, vô, vong, vọng, vu

Tinh

T

tắc, tác, tang, tổ

tức, tôn, tư, túy, tử, tỷ, tướng, tư, tá

Thanh

Th

Thương, thiên, thố, thái, thô, thương, thanh

thất, thư, thủ, thử, thân thiên

Tùng

T

tộ, tồ, tành, tài, tại, tạc, tiền

tật, từ, thái, t́nh, tiệm, tự, tượng

Tâm

T

Tô, tiên,tang, tố, tốc

tức, tương, tư, tuy, tế, tư, tư, tân, tu, tả, tất, tư

T

tự, tường, từ, tuần, tùy, từ, tịch, tự, tích

Chiếu 2

Tr, S, T

trắc, trắc, trở, xu, trâm, táo, tranh

Chiếu 3

Ch

Chi, chức, chương, chư chỉ, chi, chỉ, chinh, chính,

chử, chiếm, chi

Xuyên 2

S, Tr

sơ, sở, trắc, sáng, sang, sô, sí

Xuyên 3

X, S

xương, sung, xích, sất, xứ, xích, xuân

Sàng 2

S, Tr

sĩ, sĩ, sài, sực, tra, sừ, trợ. sĩ, sàng, sồ, sừ, sùng

Sàng 3

Th

thần, thực, thực, thừa

Thẩm 2

S

sở, sơn, sắc, số, sinh, sa, sa, sớ, sơ, sử

Thẩm 3

Th

thức, thư, thi, thất, thích, thương, thư, thương,

thức, thỉ, thủy, thưởng, thức, thi

Thiền

Th

thời, thường, thị, thị, thục, thù, thừa, thự, thần,

thưởng, thực, thực, thực, thị, thị, thành

Ành

A, Â, Ô,

Ơ, Ê, U,

ô, ai, an, ư, ái, ác, ê, yên

ư, ất, y, ức, vu, yết, ưu, y, ất, nhất, ương, y

Hiểu

H

hô, hoả, hoang, hải, ha, hổ, hinh

hứa, hương, hưng, huống, hỉ, hư, hủ, hy, hưu

Hạp

H

hồ, hộ, hồ, hầu, hoàng, hạ, hà, hài

Dụ 3

V

vu, vũ, , vi, vị, vinh, vũ, vương, vân, vân, vĩnh, vi, quân (?), doanh (?)

Dụ 4

D

dĩ, dương, dữ, dư, dư, dực, di, dực, duyệt, di, dư

Lai

L

lư, lang, lạc, lai, lặc, lỗ, luyện, lại, lạc

Nhật

Nh

nhi, nhân, như, nhữ, nhi, nho, nhưng, nhĩ

       Bảng 41.3  Phiên-thiết Thượng-tự (chữ trước) [ 4T, tr. 85-87] 

Nhận xét quan-trọng:

Thời Thiết-vận-Quảng-vận, dấu ̉ bổng c̣n dấu  ̃ ngă là trầm. Bây giờ đă đảo ngược rồi. Nên nhớ kỹ điều này khi áp-dụng nghiêm-chỉnh luật phiên-thiết v́ chúng ta âm-vận của Hán-Việt-ngữ Trung-cổ. 

Phụ-tắc quan-trọng:

Mặt khác, đối với các phương-âm giầu thinh-điệu như Việt-ngữ粵語tức tiếng Quảng-đông và Hán-Việt-ngữ漢越語của ta, hay ngay cả phương-âm Huyện Nam-xương Tỉnh Giang-tây (cả ba phương-âm này có mẫu-số chung là giữ được nhập-thanh đến tận bây giờ và có điạ-bàn chung là cương-vực của Cổ-Bách-Việt, không những chữ đầu biểu-thinh, chữ sau biểu-vận, mà chữ đầu c̣n cho biết mạnh/yếu (hồng /tế) tức cứng/mềm (ngạnh-âm /nhuyễn-âm ) của thinh-mẫu 聲母 (âm đầu) cũng như trầm bổng (cao đê) của giới-âm hay nguyên-âm chính trong vận-mẫu (âm cuối) và chữ sau c̣n cho biết tứ-thinh tức B́nh Thượng Khứ Nhập của vận-mẫu. Xin nhắc lại là Khẩu-xoang mở rộng (khai khẩu) phát ra hồng-âm; c̣n khẩu-xoang thu nhỏ (hợp khẩu) phát ra tế-âm.

Ví-dụ minh-hoạ 1: Chúc = Chi + dục , bởi v́ dục tận cùng bằng c nên là nhập-thanh, chi không dấu nên là bổng tức phù à chúc là phù-nhập-thanh nên mang dấu sắc.               

Ví-dụ minh-hoạ 2: Diệp = D + thiệp (trầm-nhập-thanh).

Ví-dụ minh-hoạ 3: Hoảng   = H + hoảng (phù-thượng-thanh)

Ví-dụ minh-hoạ 4: Chức = Chi + dực (phù-nhập-thanh)

Ví-dụ minh-hoạ 5: Thiên = Thương + tiên (phù-b́nh-thanh)

Ví-dụ minh-hoạ 6: Quang = C + hoàng (phù-b́nh-thanh)

Ví-dụ minh-hoạ 7: Nghiệp = Ngư + kiếp (trầm-nhập-thanh)

Ví-dụ minh-hoạ 8: Tích = Tiên + kích (phù-nhập-thanh)
 

Thinh-Điệu 

Tiếng ta có tám giọng (thinh-điệu): Ngang (không dấu), Huyền, Hỏi, Ngă, Sắc, Nặng, Sắc Nhập, Nặng Nhập. Tiếng Quảng-đông cũng có 8 bắt làm 9 giọng: âm-b́nh, dương-b́nh, âm-thượng, dương-thượng, âm-khứ, dương-khứ, âm-nhập, trung-nhập, dương-nhập. Trừ trung-nhập tiếng ta không có, c̣n 8 giọng kia tương-đồng. Tuy nhiên, người Quảng-đông đọc giọng "thượng" như người miền Nam nghĩa là thinh thượng đọc dấu hỏi hết (không có dấu ngă), cho nên 9 giọng lại hoàn 8 giọng như tiếng ta. "Hỏi, Sắc, Không" là âm, là bổng, là phù, là cao, là thanh; "Huyền, Ngă, Nặng" là dương, là trầm, là thấp, là trọc. Trong tiếng Hán-Việt, "Luật Thanh Trọc" tức "Luật Tương Thanh" tùy thuộc âm khởi đầu và có thể được phát-biểu như sau:

Những tiếng khởi đầu bằng nguyên-âm (a, â, ê, i/y, o, ô, u, ư), thứ-thanh-âm (ph, th, kh) và thanh-âm (p, t, c, k, qu, ch, x, s, h) thuộc thanh-thinh; những tiếng khởi đầu bằng trọc-âm (b, đ, tr, v, d, gi) và hữu-âm (l, m, n, ng, ngh, nh) thuộc trọc-thinh. 

Thời trung-cổ bên Trung-Hoa, người ta khu-biệt b́nh tức b́nh-thinh với trắc tức thượng, khứ và nhập-thinh. Trong 3 thinh này, thượng-thinh vừa cao vừa thăng (giọng lên), khứ-thinh đại-để là trung-giáng (trung-b́nh và giọng xuống), c̣n nhập-thinh vừa ngắn vừa thâu rút lại. 

Khoảng năm 880 AD, Hoà-thượng Nhật-bản An Nhiên 安然có viết ra sách Tất Đàm Tạng 悉曇藏 rất phong-phú về mặt thẩm-sát bằng-trắc. Sau này, có hai tài-liệu Nhật-bản khác, dựa vào sách này, khai-thác triệt-để phân-loại bằng trắc này là:

  • Minh Giác Tất Đàm Yếu-quyết 明覺悉曇要訣 (1773) có chép trong Đại-tạng-kinh, Tất-đàm-bộ, Sách #84, tr. 501-567, nhất là tr. 507:

Sách này phân-biệt 6 loại thanh-điệu: 1/ trước ngang sau thấp = khinh-b́nh-thanh; 2/ trước sau đều thấp = trọng b́nh-thanh; 3/ trước sau đều ngang = khinh-nhập-thanh; 4/ trước sau đều thấp = trọng-nhập-thanh. Thế mới biết trọng-âm là sơ-đê-âm. Trước sau đều ngang nay gọi là thượng-thanh. Trước thấp sau ngang có thể gọi là trọng-thượng-thanh (dấu hỏi).  Nay mỗi tiếng thứ tư đều phát-âm trước thấp sau ngang, nên gọi là trọng-âm đấy mà! Thế mới biết khứ-thanh nay là trọng-âm vậy. Trước sau thấp ngang nay các thanh-vận-gia gọi là khứ-thanh vậy. Ta có thể phân-loại như sau:

1/ Âm-b́nh = khinh-b́nh-thanh = giáng-điệu = dấu huyền

2/ Dương-b́nh = trọng-b́nh-thanh = đê-b́nh-điệu = ngang (không dấu)

3/ Âm-thượng = khinh-thượng-thanh = cao-b́nh-điệu = dấu ngă

4/ Dương-thượng và khứ không phân-biệt = thăng-điệu = dấu hỏi

5/ Âm-nhập = khinh nhập-thanh = cao-b́nh-điệu = dấu sắc + (c, ch, p, t)

6/ Dương-nhập = trọng-nhập-thanh = đê-b́nh-điệu + (c, ch, p, t)

  

  • Liễu Tôn Tất Đàm Luân-lược Đồ Sao 了尊悉曇輪略圖抄 (1287), sách thượng-dẫn, tr. 657.

Tư Tụng viết: Trọng-b́nh-thanh, trước sau đều thấp; khinh-b́nh-thanh, trước ngang sau thấp. Trọng-thượng-thanh, trước thấp sau ngang; khinh-thượng-thanh, trước sau đều ngang. Trọng-khứ-thanh, trước thấp sau ngửa; khinh-khứ-thanh, trước ngang sau ngửa. Trọng-nhập-thanh, trước sau đều thấp; khinh-nhập-thanh, trước sau đều ngang.

Rơ-ràng đoạn văn trên mô-tả 8 loại điệu-trị. Ta có thể nói trước năm 1287, một phương-ngôn Hán-ngữ nào đó (cũng như Hán-Việt-ngữ nhưng bằng lề-lối đối-song), tứ-thanh đă phân-hóa thành bát-thanh-điệu:

1/ Âm-b́nh = khinh-b́nh thanh = giáng-điệu

2/ Dương-b́nh = trọng-b́nh-thanh = đê-b́nh-điệu

3/ Âm-thượng = khinh-thượng-thanh = cao-b́nh-điệu

4/ Dương-thượng = trọng-thượng-thanh = thăng-điệu

5/ Âm-khứ = khinh-khứ-thanh = cao-giáng-điệu

6/ Dương-khứ = trọng-khứ-thanh =đê-giáng-điệu (hoặc trung-giáng-điệu)

7/ Âm-nhập = khinh-nhập-thanh = cao-b́nh-điệu

8/ Dương-nhập = trọng-nhập-thanh = đê-b́nh-điệu 

Xin bàn qua về Đẳng-vận . Trong "Âm-học Biện-vi", Giang Thận-tu Tiên Sinh chủ trương rằng: 'Hợp-khẩu là hai môi chúm lại; khai-khẩu là hai môi không chúm, 'Nhất-đẳng là hồng-đại, nhị-đẳng là thứ-đại; tam-, tứ-đẳng đều tế mà tứ-đẳng lại rất tế . Các sách về Đẳng-vận-học và Đẳng-vận-đồ đều nói: 'Nhất-đẳng đi đôi với Nhị-đẳng, Tam-đẳng đi đôi với Tứ-đẳng’. Hồng-âm với khẩu-xoang tương-đối hẹp ắt vận-đầu không có giới-âm "i" như trong các tiếng "hồng", "công", "đông", "đồng", "thông" ... Trái lại, tế-âm với khẩu-xoang mở rộng hơn ắt vận-đầu có giới-âm "i(u/ư)" như trong "trung", "cung", "chung", "nhung", "dung", "thung" ...

Như quả nếu ta căn-cứ vào tiếng "đẳng" mà phân-loại vận trong "Quảng-vận", th́ ta có biểu sau đây :

  • Độc-lập Nhất-đẳng-vận: Đông, Mô, Thái, Khôi, Hai, Đài, Hồn, Ngân, Hàn, Hoàn, Hào, Ca, Đường, Đăng, Hầu, Đàm, Đàm
  • Độc-lập Nhị-đẳng-vận: Giang, Giai, Giai, Quyết, San, San, Hào, Canh, Hàm, Hàm
  • Độc-lập Tam-đẳng-vận: Vi, Phế, Văn, Ân, Nguyên, Nghiêm,Hoàn, Trăn, U
  • Độc-lập Tam-đẳng-vận: Tề, Tiên, Túc, Thanh, Thiêm
  • Nhất-tam-đẳng Hợp-vận: Đông, Qua
  • Nhị-tam-đẳng Hợp-vận: Ma, Canh
  • Tam-tứ-đẳng Hợp-vận: Chung, Chi, Chi, Chi, Ngư, Ngu, Tế, Chân, Truân Tiên, Tiếu, Dương, Thanh, Trưng, Vưu, Xâm, Giám

Sở dĩ ta gọi là "Độc-lập" là bởi trong "Đẳng" này chỉ có một ḿnh nó. Sở dĩ ta gọi là "Hợp-vận" là bởi trong "Đẳng" này các chữ đều được liệt-kê vào cả hai "Đẳng" liên-hệ. Như chữ Đông vừa liệt vào nhất-đẳng, vừa liệt vào tam-đẳng.

Trong giọng Bắc i, ư đọc trại thấy rơ: hiũ ~ hữu, riệu ~ rượu, hiêu ~ hươu, kiú ~ cứu, tiủ ~ tửu, khiếu ~ khướu, biếu ~ bướu v.v.

Nên để ư các tiếng Hán-Việt hợp-khẩu khởi đầu bằng nguyên-âm chỉ có giọng bổng (ngang, hỏi, sắc), không có giọng trầm (huyền, ngă, nặng): oa, oai, oải, oán, uế,uy, úy, ủy. Nếu chúng khởi đầu bằng h, khi chuyển sang nôm sẽ bắt đầu bằng v: ḥa > và, vừa; họa > vẽ; hoạch > vạch, hoàng > vàng. C̣n bắt đầu bằng qu, chuyển Nôm sẽ biến thành qu, c, g: quái > quẻ; quán > quen, quyển > cuốn, quá > qua, quất > quít, qụy > qùy; quan > cửa (ải), quản > cuống (dạ dày), quư > cuối; quả > góa. 

Từ khi Ngô Quyền giành độc-lập cho nước nhà, tiếng Việt biến đổi theo ngữ-âm lịch-sử Việt trong khi Hán-ngữ có rất nhiều thay đổi về cả thinh-mẫu, vận mẫu lẫn tự-âm (âm của chữ). Đấy là không kể từ nhà Nguyên trở đi (1271-1368), Quan-thoại tiền-kỳ dần dần chiếm ưu-thế trong cách phát-âm chữ Hán, với 2 luật kiêm-soát “dương thượng tác khứ và “nhập phái tam thinh” của thời trước, đă nói qua ở bên trên.

        

III CỔ-HÁN-VIỆT VÀ NÔM CỔ
 

Thành thử ra chúng ta không lạ ǵ khi thấy các biến-âm Hán Nôm như: phàm buồm; pḥng buồng; phọc/phược buộc, phù bvăn muỗi, v mù (mây mù), vụ   mùa (màng), vũ   múa, vi minh, v mùi (chi thứ 8) v.v. Lạ nhất là chữ Nôm tối cổ  % mà cổ-nhân khi viết chữ theo cột đă vô-t́nh phân thành hai chữ Văn-lang, nguyên đọc là mlang (v́ chữ văn chỉ là chỉ thanh đầu m) và có nghĩa là làng. Người Mường (Mlường < mlàng) có nghiă là người làng, v́ chẳng qua họ là người Việt chính-cống, rút lên rừng núi, chống giặc ngoại-xâm phương bắc. Quan lang chính là viên quan của làng. Hai vị anh-hùng dân-tộc đánh đuổi giặc Minh về Kim-lăng đều là người Mường 100%: B́nh-định-vương Lê Rị (người đời sau v́ kỵ húy đọc trại thành Lị rồi Lợi), nguyên-quán làng Lam-sơn, huyện Lương-giang, phủ Thọ-xuân, tỉnh Thanh-hoá; c̣n Ức-trai Tiên-sinh nguyên-quán làng Chi-ngại, huyện Phượng-sơn (Chí-linh), tỉnh Hải-dương. Ngày nay dân Thái-lan (Thailand) vẫn gọi nước của họ là Mường-Thái. Ngay đến quốc-danh của nưóc rộng thứ nh́ thế-giới là Canada cũng có nghĩa là làng! Thế mới hiểu tại sao “phép vua thua lệ làng”. Làng, cũng có nơi gọi là láng, như phủ Thọ-xuân, tỉnh Thanh-hoá, có láng Xuân-phả, láng Yên-lăng v.v. Ngoại-ô Sài-g̣n cũng có láng Thọ (người Pháp phiên-âm là Lantho, người Việt lại đọc tiếng Tây này thành Lăng-tô hay tệ-hại hơn đọc sai ra là Lăng-cô) .

Muốn t́m các từ Nôm cổ bắt đầu bằng ml chẳng cần t́m đâu xa, chỉ cần giở Tự-vị Việt-Bồ-La (Dictionarivm  Annamiticvm (seu Tunkinensis cum) Lusitanvm, et Latinvm (3F), viết tắt là DALEL) của Cố Đắc-lộ (Alexandro de Rhodes), tiêu-biểu cho tiếng “đằng trong” là có khối thí-dụ: mlả > lả > nhả = fatuus; mlác > mác (mlác nồi = mác nồi= panella de borda quebrada => nồi mác = nồi mẻ); mlạc > lạc > nhạc (nhạc ngựa, lục-lạc); mlắc > lắc; mlầm > lầm > nhầm; mlát > lát > nhát; mlặt > lặt > nhặt; mlạt > lạt > nhạt; mlẽ > lẽ > nhẽ;mlể > lể > nhể; mlểng ~ mlỉng > lỉnh; mlọ > lọ > nhọ; mlỡ > lỡ > nhỡ; mlời > lời > nhời; mlớn > lớn > nhớn; mlót > nhót (Blái mlót); mlụt > lụt > nhụt. Chung quy ml > m hoặc ml > l > nh. 

Chúng ta cũng bắt gặp phụ-âm ghép ml trong Quốc-âm Thi-tập (QÂTT) hay trong "Cả blả ơn áng ná cực nặng" (Cả trả ơn cha mẹ cực nặng) của Nguyễn-Trăi như: mlằn > lằn; mliễn ~ mlẫn > lẫn.  Nhưng lư-thú nhất phải kể đến tiếng ghép "mờ-lỡ" lấy trong "Tân-san Chinh-phụ-ngâm Diễn-âm Từ-khúc 新刊征婦吟演音辭曲" của Bà Đoàn-thị-Điểm (1705-1746), do Chính-trực-đường hiệu-tân năm Gia-long thứ 14 (1816), nơi câu 330:

Thiết một kẻ buồng không luống giữ,

Thời-tiết lành mờ-lỡ đ̣i nau,

Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,

Người đời thấm thoát qua màu xuân xanh.     

Có nhà Hán Nôm bảo từ cổ "mờ-lỡ" (Thế-kỷ 13) c̣n thấy trong QÂTT và CPN, sang  thế-kỷ 19 mới bị đọc thúc lại thành mlỡ > lỡ > nhỡ (?). Cố Đắc-lộ trên đây nói khác. Đấy có thể là từ-trễ , từ-đàn của ngôn-ngữ, giăn ra thun vào hoặc khựng lại, như thường bắt gặp trong Hán-Việt-ngữ. Có bản lại phải đọc là “trần trữa”.

Ngoài ra, trong DALEL, ta c̣n một số thanh-mẫu ghép khác như bl, bv (mà Cố Đắc-lộ viết là ) và tl, bl có thể biến 3 cách: bl > tr (Vd: dối blá, blả ơn, tốt blai, blái núi, blầu cau, bọt blào ra, blăng blối, blẹo chân, blề môi, ma blơi, blang sách, nướng blui, bluông, blồng, têm blầu, blổ tài, blẹt = sái, tlần tlữa); bl > b (bliủ, blẽ > bẽ = rẽ); bl > l (Vd: blúc blắc, đức chúa blời); bl > v (blẹo chân, sưng blếu lên). Một hệ quả của bl > tr là bl > t (blét miệng  = toét miệng = tét miệng) hoặc bl > r (tôi blẽ đường này, ông blẽ đường kia). Đôi khi bl > gi (blề bliủ = giè biủ, blề môi = giè môi > trề môi).

Thanh-mẫu bv c̣n giữ được trong cách phát-âm Miền Nam. Giống như trường-hợp ml, bv có thể biến thành b (ruồi bvâu, bvấm nhau, bvưng tinh = sáng tinh mơ) hoặc v (ăn tlộm bvặt, bvai, bvặt bvănh, lấy bvợ, bvơ bvét, bvin ngành xuống, bvuất = vuốt, bvững, bvui bvẻ, nhà bvưng = bếp), hay cả hai (phân bvua = phân bua = phân vua). 

C̣n tl > tr. Vd: tlợn tlạo, tḷng tlứng, tlàng hạt, tlánh, tlên núi, tlên tlời, tlét, tlát, áo tlẽ, tlâu, tlểy lếy blái, tlước hết, tlống tlải. Có khi tl > l như: tliú tlo, tlúc tlắc. 

Tương-đương "đàng ngoài" của DALEL chỉ c̣n t́m thấy trong "Quốc-âm Thi-tập" với trợ-lực của Thiết-vận! Ta mới hiểu tại sao ch thừa chữ h. Ngay DALEL và Đại-Nam Quấc-âm Tự-vị (ĐNQÂTV) của Paulus Huỳnh Tịnh của (4Z) cũng c̣n chứng-tích. QÂTT: Sang sảng người rằng chuông ấy thíc   (= đánh). Mốc thíc > mốc thếc = mốc thật (mucor is) ... Đọc ĐNQÂTV nhiều khi kể cũng vui, như tiếng ghép "nung-sừ" (Kiều: Sông Tương một giải nung sừ) cắt nghiă là minh-mông, mịt-mù (4Z, tr. 311b). 

Xin nhắc lại rằng Hán-Việt-ngữ, cũng chỉ là âm-vận Tùy, Đường của Thiết-vận, tổng-hợp tiêu-chuẩn-ngữ Lạc-dương phương bắc với Trường-an phương nam, Đường-vận và Quảng-vận bổ-túc bằng “Nhất-thiết-kinh Âm-nghĩa ” của Tuệ-Lâm và “Vận-kinh ” thời Nam-Tống mà tàn-bản kinh này khai-quật tại Đôn-hoàng chứng tỏ là phù-hợp với âm-vận thế-kỷ thứ IX và X.  Tỷ như, nhạn (Hán) ~ nga Ngan (vịt xiêm lai ngỗng); tiên tươi; tiêm tươm; biên bên bề, chích chiếc; dịch diệc; tịch tiệc; bích biếc, song song với những biến-âm thuần Nôm d đ, iêni: bể biển; y, ỳ yên, hoặc điạ-phương ṛng như: dạy => đáy, dưới đướn, về viền (Thanh-hoá) . 

Văn-bản mà tôi có là “Nhất-thiết-kinh Âm-nghĩa ” của Sa-môn đời Đường Thích Nguyên Ứng 釋元應với phụ-lục “Bổ-đính Tân-dịch Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Âm-nghĩa補訂新譯大方廣佛華嚴經音義” do Kinh-triệu Tịnh-pháp-tự Sa-môn Tuệ Uyển thuật.

“Nhất-thiết-kinh”, c̣n gọi là Đại Tạng Kinh 大藏經 hay “Tạng Kinh” Tripitaka, gồm 443 Kinh Phật phân thành 25 quyển. Nếu ta kể cả phụ-lục, ta có tất cả là 444 Kinh Phật. Trong “Nghiên-kinh-thất Ngoại-tập 揅經室外集”, Nhà thạc-học Nguyễn Nguyên viết:

Hăm nhăm quyển “Nhất-thiết-kinh Âm-nghĩa”do Sa-môn Đời Đường Thích Nguyên Ứng soạn. Đời Khai-nguyên (713-42), Thiền-sư Thích Trí Thăng chép: “Cuối Đời Trinh Quan (trị v́ 627-50), Thích Nguyên Ứng thu thập “Tạng Kinh”, thêm âm-nghĩa rồi chú thích, huấn-giải, viện dẫn quần-tịch, chứng-cứ trác-minh v.v.

Án: Đời Tề, Sa-môn Thích Đạo Huệ釋道惠có viết “Nhất-thiết-kinh Âm-nghĩa”. Cao-tăng Đời Tống có kể truyện rằng: “Thích Tuệ Lâm Đời Đường có viết 100 quyển “Đại-Tạng Âm-nghĩa”. Cả hai quyển sách này nay không c̣n nữa (??).

Đường-thư Nghệ-văn-chí có trước-lục và gọi chúng là “Chúng Kinh Âm-nghĩa眾經音義”. Từ Kinh Phật, sách này sách-dẫn quần-tịch, tỷ như “Thượng Thư Chú尚書注”, “Luận Ngữ Chú論語注”, “Tam Gia Thi三家詩” của Trịnh Huyền tức Trịnh Khang-thành, “Xuân Thu Truyện Chú春秋傳注” của Giả Quỳ賈逵và Phục Kiền, “Nhĩ Nhă Chú爾雅注” của Lư Tuần 李巡và Tôn Viêm, cho chí “Tam Thương三倉” của Thương Hiệt , “Tự Uyển字苑”, “Tự-lâm Thanh-loại字林聲類” của Cát Hồng葛洪, “Thông-tục Văn-thuyết通俗文說”, “Văn Âm Ẩn文音隱” của Phục Kiền. Toàn là những bí-thư thất-truyền. Nguyên Ứng thông hiểu Nho-thuật, soạn sách uyên-bác. Phiền một điều, Người không biết chuyển-chú, giả-tá của người Đời Hán và lại quá câu nệ vào đẳng-vận các đời sau. Đó là sở-đoản của sách vậy.  

Trong 'Lịch-sử Ngữ-ngôn Nghiên-cứu-sở Tập-san' của Quốc-lập Trung-ương Nghiên-cứu-viện, Đệ-nhất-bản (4AV, tr. 165-82), học-giả Hoàng Thối Bá có viết bài “Tuệ-lâm Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa Phiên-thiết Thanh-loại Khảo慧琳一切經音義聲類”. Ông chủ trương phiên-thiết định-thanh, cùng thanh-loại có thể dùng để phiên-thiết và khảo-sách thanh-loại của Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa, rồi phân nhóm các phiên-thiết thượng-tự và xem chúng phiên-thiết với những chữ nào để liên-hệ chúng với nhau. Trong mỗi loại, ông chọn tiếng cộng-thiết làm tên loại. Nhiều khi trong một loại  đẳng-vị không giống nhau, lại phân thành nhiều hệ, lấy chữ cộng thiết mới làm hệ mục.

      Điều-lệ cũng tương-tự như của các tự-mẫu-gia khác. Ông phân thành tám tổ: 

1.    Tổ thứ nhất: Thiệt-căn-âm (velar sound) gồm 6 loại: 

a)    Cư  loaị;

b)    Khương loaị;

c)    Cừ  loaị;

d)    Ngư  loaị;

e)    Hô  loaị;

f)     Hồ  loaị.

2.    Tổ thứ hai  : Hầu-âm (glottal sound)

3.    Tổ thứ ba   : Thiệt-diện-tiền-âm (alveo-palatal sound)

4.    Tổ thứ tư    : Thiệt-tiêm-hậu-âm (blade palatal sound)

5.    Tổ thứ năm: Thiệt-tiêm-âm (apical sound)

6.    Tổ thứ sáu : Thiệt-tiêm-tiền-âm (blade alveolar vowel)

7.    Tổ thứ bẩy : Song-thần-âm (bilabial)

8.    Tổ thứ tám : Thần-xỉ-âm (labio-dental sound)

C̣n một quy-luật biến-vận từ thời Tiên-Tần sang thời Tùy Đừờng là Luật “Dương Thương Tác Khứ ” qua lưng thời Hán. Chẳng hạn, Quẻ Tỵ thời Xuân-Thu Chiến-quốc đọc là Tỷ, Quẻ Khốn đọc Khổn. Chính việc biến-âm quan-trọng này mới đưa đến chuyện tréo cẳng ngỗng là trong Tứ-thinh B́nh Thượng Khứ Nhập của chữ Quốc-ngữ, thanh Thượng lại không mang dấu '̉' nguyên-thủy (thưởng). 

Trong Truyện cũng vậy. Như trong Hệ Thượng có liên-đậu:”Phù Kiền, kỳ tĩnh dă chuyên, kỳ động dă trực, thị dĩ đại sinh yên”; “Thành tính tồn tồn, đạo nghĩa chi môn”; “Phạm vi thiên địa chi hoá nhi bất quá. Khúc thành vạn-vật nhi bất di, thông hồ trú dạ chi đạo nhi tri”; “Bàng hành nhi bất lưu, lạc thiên tri mệnh, cố bất ưu”; “Cổ chi dĩ lôi-đ́nh. Nhuận chi dĩ phong-vũ. Nhật nguyệt vận-hành. Nhất hàn, nhất thử. Kiền-đạo thành nam. Khôn-đạo thành nữ.” Như Hệ-hạ có các liên-đậu:"Biến động bất cư, chu lưu lục-hư"; "Nguy giả sử b́nh, dị giả sử khuynh"; “Sơ phong kỳ từ nhi quỹ kỳ phương. Kư hữu điển-thường.”;"Thiên Điạ nhân-uân, vạn-vật hoá thuần. Nam nữ cấu tinh, Vạn-vật hoá sinh". Như Thuyết-quái-truyện có liên-đậu: “Phân Âm, phân Dương. Điệt-dụng Nhu Cương. Cố Dịch lục-vị nhi thành chương” v.v. Tạp-quái-truyện đương-nhiên là vần rồi, không cần đến hiệp-vận của Chu-tử, tức ép vần theo Mân-bắc-âm (tiền-thân của thổ-âm Bắc Phúc-kiến và một phần Đài-loan).

Luận-giả Án về Suy-cứu Thượng-cổ-âm

Bên trên chúng ta đă duyệt qua quan-điểm của các nhà Trung-Hoa-học như Karlgren, Maspéro, La Thường-Bồi, Triệu Nguyên-Nhiệm, Lư Phương-Quế … về Thượng-cổ-âm. Họ nhiều khi có bất-đồng quan-điểm. C̣n đây là đứng theo góc nh́n tiếng Việt của riêng tôi.

Các cứ-liệu nền tôi dùng là Kinh Thi (Mao Thi Chính-nghiă, Thập-tam-kinh Chú-sớ, 1H, tr. 259-629), 33 bài Châm của Dương-Hùng (4AAT, tr. 263-359):

[1) Kư Châu Châm, 2) Thanh Châu Châm, 3) Duệ Châu Châm, 4) Từ Châu Châm, 5) Dương Châu Châm, 6) Kinh Châu Châm, 7) Dự Châu Châm, 8) Ích Châu Châm, 9) Ung Châu Châm, 10) U Châu Châm, 11) Tinh Châu Châm, 12) Giao Châu Châm, 13) Tư-không Châm, 14) Thượng-thư Châm, 15) Đại-tư-nông Châm, 16) Thị-trung Châm, 17) Quang Lộc Huân Châm, 18) Đại Hồng Lư Châm, 19) Tông-chính-khanh Châm, 20) Vệ-úy Châm, 21) Đại-bộc Châm, 22) Đỉnh-úy Châm, 23) Thái-thường Châm, 24) Thiếu-phủ Châm, 25) Chấp Kim Ngô Châm, 26) Tương-tác Đại-tượng Châm, 27) Thành-môn Hiệu-úy Châm, 28) Thái-sử-lịnh Châm, 29) Bác-sĩ Châm, 30) Quốc Tam-lăo Châm, 31) Thái-dược-lịnh Châm, 32]Thái-quan-lịnh Châm và 33) Thượng Lâm-uyển-lịnh Châm.]

19 Bài Cổ-thi đời Hán của Vô-danh-thị (Quyển XXIX, Tạp-thi Thượng, 1B, tr. 417-420):

[1) Hành Hành Trùng Hành Hành, 2) Thanh Thanh Hà Bạn Thảo, 3) Thanh Thanh Lăng Thượng Mạch, 4) Kim Nhật Lương Yến Hội, 5) Tây Bắc Hữu Cao Lâu, 6) Thiệp Giang Thái Phù Dung, 7) Minh Nguyệt Dạ Quang, 8) Nhiễm Nhiễm Cô Sinh Trúc, 9) Đ́nh Trung Hữu Kỳ Thụ, 10) Điều Điều Khiên Ngưu Tinh, 11) Hà Xa Giá Ngôn Mại, 12) Đông Thành Cao Thả Trường, 13) Khu Xa Thương Đông Môn, 14) Khứ Giả Nhật Dĩ Sơ, 15) Sinh Niên Bất Măn Bách, 16) Lẫm Lẫm Tuế Vân Mộ, 17) Mạnh Đông Hàn Khí Chí, 18) Khách Tùng Viễn Phương Lai và 19) Minh Nguyệt Hà Hiêu Hiêu.]

và vô khối bài Hán-thi trong Văn-tuyển (Văn-tuyển, Quyển XXIX-XXXI, Thi-giáp- Thi-canh, 1B, tr. 277-463)

Kỹ-thuật tôi dùng là Hài-thanh của lục-thư (Xin đọc Phụ-lục I: Lục-thư, bên dưới và tham-khảo "List of the 858 Phonetics" và "Phonetic Series" của Cố Wieger, 4AAU, tr.387-566) với phụ giúp đắc-lực của Song Thanh Điệp Vận.

Cần nhớ một điều là Hứa-Thận, tác-giả của Thuyết-văn Giải-tự (4AAV), thuộc trường-phái Cổ-văn.

Cuối-cùng, ta chỉ cần kiểm soát cách đọc âm cổ trong Khang-hi Tự-điển (4AAW) hay Hán-ngữ Đại-tự-điển (4AAQ).

 

   

 

    Xem tiếp Kỳ 43

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com