www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 04

 

DỊCH ÂM

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 40)

 

IV SƠ-CỨU CHỮ NÔM

 

Trước khi vào đề xin tŕnh-bầy một nhận xét nhỏ về danh-xưng tiếng Việt tùy thuộc phần đông vào tác-giả. Sau đây là tỷ-giảo giữa tiếng dùng của GS Nguyễn Bạt Tụy và biên-giả:

Nguyễn Bạt Tụy          Biên-giả                    Anh-ngữ 

Nho xưa nay           Hán-Việt           Classical Sino-Vietnamese remained

                              cố-hữu           unchanged phonetically
 

Nôm xưa nay           Nôm cố-hữu       Demotic Vietnamese also remained
                                                    unchanged phonetically

Nho xưa                  Cổ Hán-Việt     Archaic and Ancient Sino-Vietnamese

Nho nay                  Hán-Việt            Sino-Vietnamese

Nôm trước               Nôm cổ/xưa         Early Demotic Vietnamese

Nôm sau                       Nôm              Late Demotic Vietnamese

Quá-tŕnh tiến-triển cuả tiếng Việt, có thể chia làm 4 thời-kỳ:

  1. Thời nguyên-thủy, tiếng Việt c̣n phôi-thai (trước Công-nguyên), mà tôi tạm gọi là tiếng Tiền-Việt-Mường (proto-Việt-Mường).
  2. Thời Thượng-cổ, chịu ảnh-hưởng sâu-đậm cuả Hán-ngữ trong một thiên-kỷ Bắc-thuộc (đến hết thế kỷ 10).
  3. Thời-kỳ trung-cổ và độc-lập: đồng-hóa Hán-ngữ thành Hán-Việt-ngữ, mượn thêm tiếng Chàm (Hời) và Môn-Kmer trong cuộc Nam-tiến.
  4. Thời-kỳ cận-kim và hiện-đại: mượn thêm tiếng Pháp, tiếng Hoa (Quan-thoại), và phát-triến mạnh mẽ tiếng Việt thành một ngôn-ngữ học-thừa đủ sức để diễn đạt bất kỳ một cảm-nghĩ hay suy-tư nào khúc mắc, phức-tạp nhất.

 

Vấn-đề Chữ Nôm được chế-tạo từ bao giờ vẫn chưa và không bao giờ ngă ngũ. Hai Cụ Vương Duy Trinh trong Thanh-hóa Quan Phong 清化觀風cũng như Hoàng Đạo Thành trong Việt-sử Tân ước Toàn-thư 越史新約全書đều cho rằng người Việt ta phải có chữ viết tương-tự như chữ của người Mường nhưng không trưng ra được những cứ-liệu xác-đáng.

 

Họ Hoàng viết: "Nước Nam đời xưa đáng lư phải có chữ. Nếu không th́ những việc cũ theo đâu mà ghi nhớ ? Lúc Sĩ thứ-sử (Sĩ Nhiếp) dạy chữ, khi ấy mới học văn Hán, dùng chữ Hán vậy. V́ văn Hán thông-dụng đă lâu nên quốc-tự không c̣n truyền, không thể khảo ở đâu được. Thử xem dân rừng núi Thượng-du đều có chữ, dân cùng dùng với nhau, há lại riêng dân nước ta không có ru?".

Họ Vương viết: "Tỉnh Thanh-hóa, một châu quan có chữ là lối chữ thập châu đó.

Người ta thường nói là: "Nước ta không có chữ". Ta nghĩ rằng không phải. Thập châu vốn là đất nước ta, trên châu c̣n có chữ, lẽ nào dưới chợ lại không? Lối chữ châu là lối chữ nước ta đó."

 

Trong Việt Nam Văn-học-sử-yếu, Cụ Dương Quảng Hàm cho rằng: "Dân-tộc ta, trước khi nội-thuộc nước Tầu có chữ riêng để viết tiếng ta không? Đó là một vấn-đề hiện nay không thể giải-quyết được, v́ không có di-tích, tài-liệu mà khảo-cứu".

 

Trong sách Việt-Nam Cổ-văn-học-sử, Cụ Nguyễn-đổng Chi có lục đăng 35 chữ cái Mường khi bàn về chữ Việt (4AAM, tr. 48), trích từ Thanh-hóa Quan-phong:


H́nh 41.1 Băm nhăm chữ cái Mường (Thanh-hóa)

 

Sách Khâm-định Việt-sử Tiền-biên Chép: "Năm tân-mủi (791), muà hạ, tháng 4 năm Trinh-nguyên thứ 7 đời Đường, người làng Đường-lâm ở châu Phong nơi Phùng Hưng khởi binh đánh giữ đô-hộ-phủ; khi Phùng Hưng mất chúng lập Phùng An lên làm đô-phủ-quân, tôn Phùng Hưng là Bố Cái Đại-vương". Tôn-hiệu nửa Nôm nửa chữ này báo hiệu chữ Nôm bắt đầu. Sang đời Đinh dân ta mới dùng tiếng Nôm đặt tên nước là Đại-Cồ-Việt. Đây chẳng qua chỉ là sự đặt tên ngẫu nhiên riêng lẻ.

 

Măi sang đời Lư mới thấy có văn bia ghi tên người, tên đất bằng chữ Nôm. Chẳng hạn như trong văn bia "Phụng thánh phu-nhân Lê-thị mộ chí" có 8 chữ Nôm: "Bà Cảm, đầu đ́nh, cửa ngơ, bến sông".

 

Sang đời Trần, cả hai sách Khâm-định Việt-sử Tiền-biênKhâm-định Việt-sử Thông-giám Cương-mục đều chép: "Năm nhâm-ngọ (Thiệu-bảo thứ 4, 1282), mùa thu tháng 8, có cá sấu đến sông Lô, vua sai quan H́nh-bộ Thượng-thư là Nguyễn Thuyên làm văn ném xuống sông, cá sấu tự nhiên đi mất. Vua cho việc ấy giống việc làm của Hàn Dũ đời Đường, bèn cho Nguyễn Thuyên đổi thành họ Hàn. Nguyễn Thuyên giỏi về thơ phú bằng quốc-ngữ, nhiều người bắt chước làm. Ngày nay các nhà làm thơ quốc-âm gọi là Hàn-luật là bắt đầu từ đấy".

 

Sách Đại-Việt Sử-kư Toàn-thư của Lê Văn Hưu lại chép: "Muà thu, tháng 9 ngày 15, giờ tuất, có nguyệt-thực, sai Thiên-chương học-sĩ Nguyễn Sĩ Cố giảng ngũ-kinh. Sĩ Cố giống bọn Đông Phương Sóc ngày xưa: hay làm thơ phú quốc-ngữ …".

 

Trong sách Hải đông Chí-lược, Ngô Th́ Nhậm viết: "Ngă quốc văn-tự đa dụng quốc-ngữ tự Thuyên thủy" (Văn-tự nước ta hay dùng quốc-ngữ bắt đầu từ Hàn Thuyên).

 

Theo chỗ tôi biết, tài-liệu xưa nhất và quan-trọng nhất có đề-cập việc sáng-tạo chữ Nôm hẳn là Chỉ-nam Ngọc-âm Giải-nghĩa 指南玉音解義của nhà sư Pháp-tính, in vào khoảng sau thế-kỷ XVI. Trong lời nói đầu, ông cho là chữ Nôm đă có từ thời Sĩ-Nhiếp và có nhận-định:
 

Vốn xưa làm Nôm xa chữ kép,

Người thiểu (ít) học khôn biết khôn xem.

Bây giờ Nôm dạy chữ đơn,

Cho người mới học nghỉ (dễ) xem nghỉ nhuần.

 

Sách này có cái hay là c̣n giữ được nhiều chữ Nôm cổ đă bị biến-dạng nhưng người chép vẫn c̣n viết theo lối xưa. Chẳng hạn chữ mừng được viết bằng chữ bằng , phản-ảnh tiếng Việt thời-kỳ tiền Việt-Mường tức là lúc hai thứ tiếng này chưa phân-ly.

 

Đặc-biệt là:  m Việt   mb   b Mường. Theo Henri Maspéro, hiện tượng chuyển đổi b > m này đă kết-thúc vào thế-kỷ thứ XIII, khi Nguyễn Thuyên tức Hàn Thuyên sáng tạo ra chữ Nôm. Hoặc giả đây có thể là hệ-quả của chuyển-đổi Hán-Việt b < m và m < v .

Buồn < muộn , muôn < vạn, mùi < vị, muỗi < văn 蚊.

Tương-tự, nhóm phụ-âm kl biểu-thị bằng chữ cự người chép hay khắc vào bia vẫn giữ cách viết xưa mặc dù ngữ-âm đă mất. Vd: tṛn = cự đè chữ luân; trái (cây) = cự đè chữ lại .

 

Sau khi phân-ly, tiếng Việt bắt đầu bằng m th́ tiếng Mường bắt đầu bằng b. Tiếng Việt bắt đầu bằng tr th́ tiếng Mường bắt đầu bằng tl hoặc kl: trâu/tlâu, trốc/tlốc (Mường Thái-thịnh), trắng/tlắng (Stieng), trống/tlống (Mường Thạch-bi).

Việt tận-cùng bằng âu th́ tiếng Mường tận-cùng bằng u: bâu/bu, trâu/tlu, dâu/du, sâu/su, nâu/nu. Thành thử ra phương-âm Thanh-hóa c̣n giữ được nhiều chứng-tích tiếng Mường lắm. Như tiếng Ta "nước, lưới, lưỡi, lửa …" ứng với tiếng Mường "nác, lái, lăi, lă". Phương-ngữ Thanh-hóa có tục-ngữ "khôn ăn nác, dại ăn xác".

Có nhiều vần Nôm c̣n giữ được âm Cổ-Hán-Việt, tỷ như â ~ i : trầm/ch́m, (đàn) cầm/ (đàn) ḱm, tâm/tim, tầm/t́m, nhẫn/nhịn, cập/kịp, cẩn/kín.

Trong Thiếu-phủ Châm (4AAT, tr. 338), Dương-Hùng tác-giả của Thái-Huyền-Kinh, làm bài châm này cho chữ ân vần với  chữ tŕ :

Câu "Bất khôi Hạ Ân" vần với câu "nhi tốt dĩ lăng tŕ".

Tương-tự ta có tương-ứng i ~ ia : bi > bia, li > lià, thỉ > thià, tŕ > đià.

Mặt khác, nếu ta so sánh âm Bắc-phần với âm Bắc Trung-phần ta sẽ thấy có tương-ứng ới ~ í [mới/mí, với/ví, thời/th́, (thổ)-ngơi/(thổ)-nghi], ây /ay/i [gầy/gh́, (con) chấy/(con) chí].

Lạ nhất là tương-ứng ân ~ ưn|ưng giữa tiếng Việt toàn-quốc với tiếng Việt điạ-phương (Bắc-ninh, Vĩnh-yên, Thanh-hoá|Miền Nam). Thân-mẫu Tố-như

Tiên-sinh là người Bắc-ninh, nên Người mới viết:

 

Nhưn điều trông thấy mà đau-đớn ḷng.

 

Về sau người ta chuyển Nôm sai mới thành:

Những điều trông thấy mà đau-đớn ḷng.

 

Ngoài ra c̣n có hiện-tượng như :

 

Chữ  v(o)i, gồm có phần chỉ ư là bộ khuyển và phần chỉ âm là chữ vi . Tương-tự ta có no(i) ® no. Ngày xưa đánh cờ tướng tôi cứ thắc-mắc măi là chữ mă là con mă có 4 chân đàng hoàng mà sao chữ tượng là con voi lại có bốn vó làm như con voi ngồi? Sách Thuyết-văn Giải-tự (4B) viết vào đời Đông-Hán có nói là người Tầu chỉ biết con voi từ thời Hai Bà Trưng.  Ông Vương-Lực (4U, tr. 771) khi nghiên-cứu cổ-văn-tự-học mới khám-phá ra là chũ vi chính là chữ tượng. Thành thử mới thắc-mắc là thời cổ không biết chữ vi và chữ tượng đọc ra làm sao?

 

Chữ  nai có phần chỉ âm là chữ ni. Người miền Bắc Trung-phần đọc nầy thành ni. Lại thêm tiếng Mường gọi con nai là con nây.

 

Đôi khi chữ Nôm dùng một tiếng trong tiếng ghép mà nay ta lại dùng tiếng kia. Vd: nôm cổ dùng han th́ nay ta nói là hỏi. Tương-tự, ngặt = nghèo, ngơ = hầu, âu = lo, vỉ = van, cả = giá (v́ thế nên ta mới nói mặc cả = trả giá) v.v.

 

Sau đây là một số tiếng Nôm cổ: mựa = chớ, cồ = lớn (Vd: Đại-Cồ-Việt; nữ kê tác quái, gà mái đá gà cồ), đ̣i = nhiều (Kiều: Nghĩ ḷng lại xót-xa ḷng đ̣i phen|| Đ̣i phen gió tựa, hoa kề,||Đ̣i phen nét vẽ câu thơ||), bui = chỉ, dịch chữ duy , bát = chèo thuyền bên tay phải (navim regere ad dexteram dicitur) trái nghĩa với cạy = chèo thuyền bên tay trái (navim regere ad sinistram dicitur), ch́n = ǵn, khứng = chiụ, tua = nên, cốc = biết, giác-ngộ, tua cốc = nên giác-ngộ, cốc hay = giác-ngộ mà biết, mảng = mải (ca-dao: Mảng vui quên hết lời em dặn-ḍ), chúi = dùi, chúi mài = dùi mài, óc = kêu, eo-óc = tiếng gà kêu, rẻ = xem rẻ, mạc = vẽ, nhẫn = đến, kể từ khi (Kiều: Nhẫn từ quán khách lân-la), la đá = ḥn đá, ốc = (gọi) là, mỗ = một, chằm = khâu.

 

Ngô Th́ Nhậm 吳時任 (1746-1803), hiệu Hy-doăn, được Vua Quang-Trung trong kỳ ra Bắc-hà lần nh́, có phong cho chức Binh-bộ Thượng-thư. Ông có viết rất nhiều sách về ngoại-giao (Bang-giao-tập, Bang-giao Hảo-hoại, Hoa-tŕnh Chỉ-nam Tinh Hoạ-đồ, về thơ đi sứ (Hoa-tŕnh Gia-ấn-thi-tập c̣n có tên khác là Hoa-tŕnh Thi-hoạ), về sử-điạ (Kim-mă Hành-dư, Xuân-Thu Quản-kiến, Hải đông Chí-lược v.v.). Ông được coi là tiêu-biểu nhất cho "Ngô-gia Văn-phái" với các tác-phẩm văn-học như Hàn-uyển Anh-hoa, Hy-doăn Thi-văn-tập, Hoàng-hoa Đồ-phả, Yên-đài Thu-vịnh, Cúc-đường Bách-

vịnh, Hào-mân Ai-lục v.v. cùng là các tác-phẩm triết-học như Trúc-lâm Tôn-chỉ Nguyên-thanh. Ngoài ra ông có nhuận-sắc lại cuốn Tam-thiên-tự Toản-yếu 三千字鑽要 (căn-cứ vào bài tựa sách này trong sách Kim-mă Hành-dư của ông th́ TTTTY được viết vào khoảng cuối thế-kỷ XVIII), c̣n phiên-bản Tam-thiên-tự Giải-dịch Quốc-âm 三千字解譯 國音in vào đầu triều Nguyễn, gồm 3000 chữ Nho thường-dụng kèm theo chữ Nôm dịch nghĩa. Mỗi câu gồm 4 chữ được được hiệp-vận theo vần lưng (yêu-vận) trắc/bằng xen kẽ. Đoạn 690 chữ đầu như vầy:


 

TAM THIÊN TỰ

三千字

Ngô Th́ Nhậm 

001. thiên: trời. điạ: đất. cử : cất. tồn: c̣n. tử : con. tôn: cháu. lục: sáu. tam: ba. gia: nhà. quốc : nước. 011. tiền: trước. hậu: sau. ngưu: trâu. mă: ngựa. cự : cựa nha: răng. vô : chăng. hữu: có. khuyển: chó. dương: dê. 021. qui: về. tẩu: chạy. bái: lạy quỵ: quỳ. khứ: đi. lai: lại. nữ: gái. nam: giai. đái: đai (thắt lưng). quan: mũ. 031. túc: đủ. đa : nhiều. ái: yêu. tăng: ghét. thức: biết. tri: hay. mộc: cây. căn: rễ. dị: dễ. nan: khôn. 041. chỉ: ngon. cam: ngọt. trụ: cột. lương: rường. sàng : giường. tịch: chiếu. khiếm: thiếu. dư: thừa. sừ: bừa. cúc: cuốc. 051. chúc: đuốc. đăng: đèn. thăng: lên. giáng: xuống. điền: ruộng. trạch: nhà. lăo: già. đồng: trẻ. tước: sẻ. 鷄雞kê: gà. 061. ngă: ta. tha: khác. bá: bác. di: d́.  duyên: ch́. tích: thiếc. dịch: việc. công: công. hàn: long. dực: cánh. 071. thánh: thánh. hiền: hiền. 僊仙tiên: tiên. phật: bụt. lạo: lụt.  triều: triều. diên: diều. phụng: phượng. trượng: trượng. tầm: tầm. 081. bàn: mâm. trản: chén. kiển: kén. ty: tơ. mai: mơ. lư: mận. chỉ: cặn. thanh: trong. hung: ḷng. ức: ngực. 091. mặc: mực. chu: son. kiều: non. thục: chín thận: ghín (Nôm cổ nghĩa là cẩn thận). liêm: ngay. tư: tây. mộ: mến. chí: đến. hồi: về. 101. hương: quê. 巿thị: chợ. phụ: vợ. phu: chồng. nội:  trong. trung: giữa. môn: cửa. ốc: nhà. anh: hoa. đế: rễ. 111. phỉ: hẹ. thông: hành. thương: xanh. bạch: trắng. khổ: đắng. toan: chua. sô: sô. giá: giá. thạch: đá. kim: vàng. 121. cù: đàng. hạng: ngơ. Đạc mơ. chung: chuông. phương: vuông. trực: thẳng. trác: đẳng (Nôm cổ có nghĩa là chiếc  bàn vuông, thấp có thể dùng làm ghế ngồi. Ta có thành-ngữ: "Trứng để đầu đẳng". Phương-ngữ Thanh-hóa kêu là tẩng theo quy-luật chuyển-âm đ à t.). hàm: ḥm. khuy: ḍm. sát: xét. 131. miện: liếc. chiêm: xem. muội: em. tỷ: chị. thị: (cây) thị. đào: (cây) điều. cân: ŕu. phủ: búa. cốc: lúa. ma: vừng. 141. khương: gừng. giới: cải. thị: phải. phi: chăng. duẩn: măng. nha:  (mầm) mống. cổ: trống. chinh: chiêng. khuynh: nghiêng. ngưỡng: ngửa. 151. bán: nửa. song: đôi. nhĩ: mồi. luân: chỉ (đạo). hầu: khỉ. hổ: hùm. đàm: chum.  cữu: cối. mộ: tối. triêu: mai. 161. trường: dài. đoản: ngắn. xà: rắn. tượng : voi. vị: ngôi. giai: thứ. cứ: (chứng) cứ. y: y. qú: (hoa) qú. hoắc: (hoa) hoắc. 171. các: gác. lâu: lầu. thị: chầu. ca: hát. phiến: quạt. (?) du: dù [Chữ tản = dù, tán, có ông Thầy Đồ bảo là có âm Việt-Hán là Du. V́ vậy nên "Núi Tản, Sông Đà" c̣n được đọc là "Núi Du, Sông Đà". Ca-dao có câu : "Nhất cao là núi Tản-Viên, Nhất thanh, nhất lịch, là tiên trên đời." c̣n được đọc thành "Nhất cao là núi Du-Viên, Nhất thanh, nhất lịch, là tiên trên đời." Sau khi củ-soát kỹ càng các vận-thư và từ-thư khả-kính và khả-tín tôi không thấy sách nào cho chữ tản một âm đọc khác nào cả.] thu: (muà) thu. hạ: (muà) hạ. băng : giá. vũ: mưa. 181. tiễn: đưa. nghinh: rước. thủy: nước. nê: bùn. khôi: ḥn. đôi: đống. khiếm: súng. liên: sen. danh: tên. tính: họ. 191. cẩu: (cái) đó [Ca-dao có bài: Trời mưa trời gió, vác đó đi đơm, chạy về ăn cơm, chạy ra mất đó, cha thằng phải gió, lấy đó của tao]. thuyên: nơm. phạn: cơm. 漿 tương: nước (tương). xích: thước. phân: phân. cân: cân. đẩu: đấu. hùng: gấu. báo: beo. 201. miêu: mèo. thử: chuột. tràng: ruột. bối: lưng. lâm: rừng. hải: bể. trí: để. bài: bày. chính: ngay. tà: vạy. 211. thị: cậy. kiều: nhờ. 碁棋 kỳ: cờ. bác: (cờ) bạc. lăn: nhác. trắc: nghiêng. tŕnh: chiềng (phương-âm Bắc Trung-phần). thuyết: nói. hô: gọi. triệu: vời. 221. sái: phơi. chưng: nấu. duệ: gấu. khâm: tay (áo). phùng: may. chức: dệt. hài: miệt. lư: giầy. sư: thầy. hữu: bạn. 231. hạc: cạn. dật: đầy. my: (lông) mày. mục: mắt diện: mặt. đầu: đầu. tu: râu. phát: tóc. thiềm: cóc thiện: lươn. 241. oán: hờn. huyên: dức (Trinh-thử: Thôi đừng dức lác huyên thiên tít mù). chức: chức. quan: quan. lan: (hoa) lan. huệ: (hoa) huệ. giá: mía. gia: dừa. qua: dưa. lệ: (quả) vải. 241. ngải: ngải. bồ: bồ (loại cây cói, cây lác để dệt chiếu). măi: mua. mại: bán. vạn: vạn (10,000). thiên: ngh́n . thường: đền. báo: trả. thúy: (chim) trả. âu: c̣. 251. lao: ḅ. thát: rái. ngốc: dại. ngu: (si) ngây. thằng: dây. tuyến: sợi. tân: mới. cửu: lâu. thâm: sâu. thiển: cạn. 261. khoán: khoán (giao-ước, bằng-cớ). bi: bia. bỉ: kia. y: ấy. kiến: thấy. quan: xem. tu: nem. () bính: bánh. tỵ: lánh. hồi: về. 271. phiệt: bè. tùng: bụi. phụ: đội. đề: cầm. ngọa: nằm. xu: rảo. hiếu: thảo (Tần-âm: thảo < hảo). trung: ngay. th́n: ngày (can chi). khắc: (giờ) khắc. 281. bắc: (phương) bắc. nam: (phương) nam. cam: (quả, trái) cam. quất: (quả, trái) quít. áp: vịt. nga: ngan. can: gan. đảm: mật. thận: (quả, trái) cật. cân: gân. 291. chỉ: (ngón) chân.  quăng: cánh (tay). tỉnh: tỉnh. hàm: say. quyền: tay. chủng: gót. quí: rốt. nguyên: đầu. phú: giầu.  ân: thịnh. 301. dũng: mạnh. lương: lành. huynh: anh. tẩu: chị (dâu). chí: chí. trung: ḷng. long: rồng. lư: (cá) gáy. kỳ: (cua) cáy. bạng: trai. 311. kiên: vai. nghạch: trán. quán: (hàng) quán. kiều: cầu. tang: dâu. nại: mít. nhục: thịt.  b́: da. gia: cà.  tảo: táo. 321. y: áo. lănh: tràng. hoàng: vàng. xích: đỏ. thảo: cỏ. b́nh: bèo. di: (cá) nheo. lễ: (cá) chuối. diêm: muối. thái: rau. 331. (tân ) lang: cau. tửu: rượu. địch : sáo. sinh: sênh. ca: anh. thúc: chú. nhũ: vú. thần: môi. hoăn: (cá) trôi. lang: (cá) diếc. 341. bích: biếc.  huyền: đen. thầm: tin. thưởng: thưởng. trướng: trướng. duy: màn. loan: loan. 鹤鶴hạc: hạc. đỉnh: vạc. oa: nồi. 351. xuy (tư): xôi. chử: nấu. xú: xấu. tiên: tươi. tiếu: cười. sân: giận. sắt: rận. nhăng: ruồi. đại (xương ): (đồi) mồi.   nguyên: (con) giải. 361. bố: vải. la: the. thiền: ve. (tất) suất: dế. liễm: khế. đăng: chanh. canh: canh. chúc: cháo. thược: gáo. lư: ḷ. 371. độ: đ̣. tân: bến. nghị: kiến. phong: ong. hà: sông. lĩnh: núi. chẩm: gối. cân: khăn. khâm: chăn. nhục: nệm. 381. thẩm: thím (thiếm). cô: cô. quyết: (cá) rô. th́: (cá) cháy. để: đáy. ngân: ngần. quân: quân.  chúng: chúng. súng: súng.  kỳ: cờ. 391. sơ: sơ. cựu: cũ. vũ:  vũ. văn: văn. dân: dân. xă: xă. đại: cả. tôn: cao. tŕ: ao. tỉnh: giếng. 401. khẩu: miệng. 頣頤 di: cằm. tàm: tằm. dơng: nhộng. tốc: chóng. tŕ: chày. vân: mây. hỏa: lửa. thần: chửa. dục: nuôi. 411. vĩ: đuôi. lân: vẩy. huy: vẩy. chấp:  cầm. niên: năm. nguyệt: tháng. minh: sáng. tín: tin. ấn: in. thuyên: cắt (khắc).

421. vật: vật. nhân: người. hy: chơi. hư: cợt. cơ: chốt (trong máy). mành: mành. vu: quanh. kính: tắt. thiết: cắt. tha: mài. 431. vu: khoai. đậu: đậu. lăng: (củ) ấu. thị: (cây) hồng  (cây thị). cung: (cái) cung. nỗ: (cái) nỏ. phủ: (cái) chơ. đang: (cái) xanh. chi: cành. diệp: lá. 441. toả: khóa. kiềm: kềm. nhu: mềm. kính: cứng. lập: đứng. hành: đi. uy: uy. đức: đức. cấp: bực. 堦階giai: thềm. 451. gia: thêm. giảm: bớt. hước: cợt. thành: tin. dự: khen.  dao: ngợi. quán: tưới. bính: soi (sáng). thần: tôi . chủ: chúa. 461. vũ: múa. phi: bay. trinh: ngay. tĩnh: lặng. xưng: tặng. thành: nên. vong: quên. kư: nhớ. thê: vợ.  thiếp: hầu. 471. bào: bầu. Quản: ống (sáo) [Quản huyền đâu đă giục người sinh ly]. tích : (xương) sống. xoang: ḷnghư: không. thực: thật. thiết: sắt. đồng: đồng. đông: đông. sóc: bắc. 481. trắc: trắc. b́nh: bằng. bất: chăng. da: vậy (sao)? dược: nhẩy. tiềm: ch́m. châm: kim. nhận : (mũi) nhọn. toàn: trọn. tịnh: đều. 491. đài: rêu. cấu: bụi (bặm). vịnh: lội. thoan: trôi. tư (xuy): xôi. mễ: gạo. hồ: cáo. 鹿lộc: hươu. hoài: cưu (mang). hiệp: cắp (xốc nách). 501. ủng: lấp. lưu: trôi. chùy: dùi. trượng: gậy. bôn: chạy.  văng: qua. viễn: xa. hồng: cả. chá: chả. trà: chè. 511. nghệ: nghề. tài: của. trợ: đũa. chủy: muôi (th́a). khôi: vôi. phấn: phấn. hàm: mặn. lạt: cay. doanh: đầy. phạp: thiếu. 521. bào: áo. bị: chăn. đ́nh: sân. khuyết: cửa. dựng: chửa. thai: thai. cai: cai.  kế: kể. 婿tế: rể. hôn: dâu. 531. cú: câu. thư: sách. đổ: vách. tường: tường. phường: phường. phố: phố. bộ: bộ.phiên: phiên. quyền: quyền. tước: tước. 541. đắc: được. vi: làm. tham: tham. dục: muốn. quyển: cuốn (lại). trương: trương (ra). sương: sương. thử: nắng. hạo: (sáng) trắng. hinh: thơm. 551. thiêm: rơm.  lạp: hạt. lương: mát. băo: no. khố: kho. khuân: vựa (tṛn chứa thóc). hán: đứa. lang: chàng. hoành: ngang. khoát: rộng. 561. ba: sóng. hưởng: vang. thê: thang.  kỷ: ghế. mẫu: mẹ. nhi: con. viên: tṛn. nhuệ: nhọn. soạn: dọn. thu: thâu. 571.châu: châu.  huyện: huyện. tụng: kiện. minh: kêu. tùng: theo. 使sử: khiến. miện: (mũ) miện. trâm: (cây) trâm. đảo: đâm. đào: đăi. 581. thải: sẩy. 研硏nghiên: nghiền. liên: liền. tục: nối. đoan: mối. phái: ḍng. lung: lồng. quĩ: sọt. đố: mọt. trùng: sâu. 591. câu: câu. điểm: chấm. thố: giấm. du: dầu. phù: trầu. toán: tỏi. khoái: gỏi. hà: tôm. kiêm: gồm. phổ: khắp. 601. hạ: thấp. cao: cao. cao: sào. đà: lái. trại: trại. thôn: thôn. nộn: non. khổng: dại. phái: phái. tông: ḍng. 611. tài: trồng. ngải: cắt. sắc: gặt. ưu: cày. tích: gầy. ph́: béo. xảo: khéo. tinh: ṛng. Phùng: (họ) Phùng. Mạnh: (họ) Mạnh. 621. tính: sánh. lượng: tin. kiên: bền. xác: thật. tất: ắt. tu: tua. tự: chùa. bưu: dịch. bích: (ngọc)  bích. cơ: (tú) cơ. 631. đê: bờ (đê). cảnh: cơi. vấn: hỏi. thiết: bày. thư: lầy. táo: ráo. thương: giáo. kiếm: gươm. liêm: liềm. 帚箒trửu: chổi. 641. quĩ: củi. sương: rương. hương: hương. lạp: sáp. tháp: tháp. đ́nh: đ́nh. khu (xu): ḿnh. mạo: mặt. mật: nhặt. 疎疏sơ: sưa (thưa). 651.án: trưa. thần: sớm. cảm: cảm. phu: tin. bộc: min. tê: đứa. tích: chứa. sung: đầy. hậu: dày. khinh: nhẹ. 661. thế: thế. tài: tài. đài: đài. miếu: miếu. kiệu: kiệu. tri: xe. thính: nghe. đổ: thấy. thủ: lấy. ban: ban. 671. từ: khoan. cấp: kíp. tư: níp (rương đựng sách vở hay quần áo. Kiều: Đeo bầu quẩy níp rộng đường vân-du. Phương Hoa: Cầm-thư một níp rủ nhau lên đường). đan: (gầu) giai (Ca-dao: Th́ tḥm tát nước gầu giai, Đến khi vợ đẻ lấy ai tát cùng). cức: gai. nhân: hạt. đạm: lạt. nung: nồng. ước: mong.  tưởng: nhớ.  581. trái: nợ. duyên: duyên. nghiễn: nghiên. tiên: giấy (giấy hoa tiên thường dùng để viết thư. Kiều: Tiên thề cùng thảo một chương). dă: vậy.  tai! : thay! hạnh: may.  kham: khá. quyền: má. nhĩ: tai v.v.  

Vua Tự-Đức có viết Tự-Đức Thánh-chế Tự-học Giải-nghĩa-ca 嗣德聖製自學解義歌 (3K) cắt nghĩa các khái-niệm căn-bản về kham-dư (điạ-lư), nhân-sự, chính-hóa, khí-dụng, thảo-mộc, cầm-thú và trùng-ngư.

 

Một điều lư-thú là chỉ dưới hai triều Hồ Quư Ly, Quang-Trung chữ Nôm được dùng làm văn-tự chính-thức. Hồ Quư Ly đă dịch thiên Vô-dật cuả Kinh Thư (Thượng-Thư Chính-Nghiă, Chu Thư, Quyển XVI, Thiên Vô-dật, 1H, tr. 221a-223a) ra quốc-âm. C̣n vua Quang-Trung có thảo chiếu gửi cho La-sơn Phu-tử Nguyễn Thiệp.

 


       H́nh 41.2 Chiếu Vua Quang-Trung gửi cho La-sơn Phu-tử

 

GS Bửu Cầm (4AAK) có một nhận xét rất tinh-xác về chính-tả chữ Nôm để phân-biệt các thanh-mẫu d/gi, ch/tr cũng như các vận-mẫu –n/-ng, -c (-k)/-t:

 1) Viết d- khi có chữ tương-đương miền bắc Trung-phần bắt đầu bằng đ: cay da/cây đa; cái diă/cái điă; trên dưới/trên đưới/trên đướn (Thanh-hóa); dạy/đáy (Thanh-hóa); con dao/con đao; gươm dàn/gươm đàn: dàn là cây cung lớn. Kiều có câu:

Gươm dàn (đàn) nửa gánh giang-sơn một chèo.

 

V́ tương-đương d ~ đ này, nên chữ Nôm bao giờ cũng dùng một chữ Nho có thanh-mẫu đ- làm phần chỉ-âm. Vd: da = bộ nhục + đa ; dế = bộ trùng + đế; Trong khi các chữ Nôm bắt đầu bằng gi-, phần chữ Nho chỉ-âm cũng bắt đầu bằng gi-. Vd: giăng = bộ thủ + giang; giạng (chân) = bộ thủ + giang

Mặt  khác, các chữ Nôm bắt đầu bằng ch-, phần chữ Nho chỉ-âm thường cũng bắt đầu bằng ch-. Vd: che = bộ vũ + chi; chém = chiếm + bộ đao; chén = bộ thạch + chiến ; chốc (lở) = bộ nạch + chúc.

Trong khi các chữ Nôm bắt đầu bằng tr-, phần chữ Nho chỉ-âm thường cũng bắt đầu bằng tr-. Vd: tre = bộ mộc + tri;  trắng = bạch + tráng; trứng = tráng + noăn.

3) Chữ Nôm và chữ Nho chỉ-âm tương-ứng đều có vận-mẫu –n/-ng hoặc -c (-k)/-t giống nhau. Vd: buôn = bôn; buông = bộ thủ + bồng; mắc (việc) = bộ mịch + mạc; mắt = mạt + mục; mặt = mạt + diện; mất = mạt + thất; mọt = bộ trùng + mạt.

 

Sơn-Bản Đạt-Lang (4AAR) trong bài Luận về bài "Luận Chữ Nôm no Tổ-chức cập kỳ Hán-tự chi Quan-thiệp" của Văn-Hựu (4AAS), có nhận thấy sự biến-chuyển của các âm đầu (thanh-mẫu) sau đây: b/v,b/ph, b/m, ph/b, ph/v, ph/m, v/qu, m/h, đ/d, đ/th, đ/gi, d/r, đ/ch, đ/x, đ/n, đ/nh, t/d, t/r,t/ch, t/tr, th/d, th/gi, th/h, th/tr, th/ch, th/r, th/n, đ/r, d/l, d/s, d/th, d/qu, d/g, d/ch, s/r, s/x, s/ch, l/s, l/gi, l/r, l/tr, l/ch, tr/r, tr/r, tr/s, tr/x, tr/gi, tr/ch, gi/nh, nh/n, x/ch, ch/x, ch/g, ch/nh,c/g, c/kh, c/v, g/ng, k/g, k/r, tr/x, kh/g, kh/h, kh/ng, h/v và h/ng.

 

Vd: b/v bổ/vá, bích/vách, bản/ván, bổn/vốn, biên/ven, bị/vế, bằng/vững.

                ph/v phá/vỡ, phủ/vỗ.

                l/r long/rồng, liêm/rèm.

                h/v hoạ/vẽ, hoạ/vạ, hoạch/vạc, hoạch/vạch, hoặc/vược,
                         hoàng/vàng.

                c/g can/gan, cận/gần.

 

C̣n các âm đuôi (vận-mẫu) cũng biến-chuyển như sau: m/p, p/m, n/m, t/c, nh/n, nh/ng, ng/n,ng/nh, c/t và c/ng.

Ông Văn-hựu đă căn-cứ vào bảng sách-dẫn của Tự-điển Việt-Pháp (Dictionnaire Annamite-Français) của Bonnet.

Bài Tập: T́m ví dụ cho mỗi biến-âm Hán sang Nôm kể trên. 

Vô-h́nh-trung, ta có thể tạm chia quá-tŕnh h́nh thành chữ Nôm làm 4 giai-đoạn:

  1. Giai-đoạn I, đại-biểu là các văn bia Lư Trần.
  2. Giai-đoạn II, đại-biểu là các tập thơ Nôm thời Lê sơ như Quốc-âm Thi-tập (QÂTT), Hồng-đức Quốc-âm Thi-tập, Bạch-vân-am Thi-tập (Thế-kỷ XV, XVI). Một điểm son cuả giai-đoạn này là bảo-tồn được song-âm-tiết-từ nói thúc lại thành song-tiết (disyllabic word) tức thị phụ-âm kép đầu kiểu cl-, bl- có thể đọc tẽ ra thành hai âm-tiết (phonemes). Thành thử ra, trong các bài thơ 7 chữ cuả cả ba thi-tập cuả giai-đoạn này, tất cả các câu 6 chữ bắt làm 7 chữ đều có chứa một song-tiết. Vd: Trong QÂTT, bài Tư Thán 3 có câu:

    Phú-quí treo (cleo, tleo) sương ngọn cỏ.

     

     

    Chữ treo  = liêu + cự (treo < tleo < cleo). tleo = tơ-leo: phú-quí chỉ như những giọt sương trông giống như những sợi tơ leo trên ngọn cỏ. Ư thơ đẹp tuyệt vời! Chúng ta chỉ cần t́m trong bàn Nôm cuả 3 thi-tập kể trên những câu chỉ có 6 chữ là có liền thí-dụ song-tiết khác.

    Bài Tập: Hăy t́m song-tiết trong những câu sau đây trích từ QÂTT:

    QÂTT37.   Từ ngày gặp hội phong vân (Kiền Văn ngôn)

    QÂTT1.     Con đ̣i trốn dường ai quyến (Độn cửu tam)

                   Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn.(Thuyết-quái-truyện)

    QÂTT87.   Cương-thường khôn biến tấc son.

    QÂTT187. Trung hiếu cương thường ḷng đỏ,

    QÂTT94.   Nợ cũ chước nào báo bổ.

    QÂTT136. Chẳng ngừa nhỏ âu nên lớn.

    QÂTT187. Tự nhiên trọn nghiệp ba thân (Trikya).

    QÂTT64.   Cḥm tự nhiên một  thảo am.

    QÂTT114.  Ngoan mùi đạo phiến hoàng quyển.

     

  3. Giai-đoạn III, đại-biểu là các tác-phẩm Tân-biên Truyền-kỳ Mạn-lục Tăng-bổ Giải-âm Tập-chú, Chỉ-nam Ngọc-âm Giải-nghiă, Thập-tam Phương Gia-giảm (Thế-kỷ XVII).
  4. Giai-đoạn IV, đại-biểu là các trước-tác Tam-thiên-tự Toản-yếu, Đại-Nam Quốc-sử Diễn-ca, Đoạn-trường Tân-thanh, và Cung-oán Ngâm-khúc (Thế-kỷ XVIII, XIX).

Năm xưa Trương-Tửu (Nguyễn Bách-Khoa) gọi Ca-dao là Kinh Thi Việt-Nam. Bây giờ, tôi xin thưa Ca-dao xứng-dáng làm Kinh Thi kiêm Kinh Dịch Việt-Nam. Xin đan-cử câu:

Ba vuông sánh với bẩy tṛn,
Đời cha phú-quư, đời con sang giầu. 

Xin bàn qua ư-nghĩa câu ca-dao này. Trong Lạc-thư, số 3 và số 7 tượng-trưng cho Khảm + (trung-nam), Ly % (trung-nữ) hậu-thiên. Ta thường nói đông tây, do đó thủy trước hỏa sau, Khảm trên Ly dưới để lập thành quẻ Thủy Hỏa Kư-tế (tới bến). Có nghĩa là thành-công hoàn toàn và lâu bền, v́ sáu hào đều đắc chính (dương cư dương vị, âm cư âm-vị), và hào nhị lại đắc trung. Hơn nữa, nếu ta xét ba tầng Thiên Địa Nhân của quẻ Kư-tế , ta sẽ được ba thiếu dương (;), hàng hàng lớp lớp thăng-tiến. Huống hồ, thiên Hồng-phạm trong Kinh Thư bảo rằng "Hỏa viêm thượng 火炎上", quẻ Ly Hỏa từ dưới bốc lên, hẳn là làm ăn phát đạt như lửa bốc. Lại thêm thủy hỏa ở đây không phải là thủy hỏa tương khắc của ngũ-hành mà là "thủy hỏa bất tương dịch水火不相射" (Nước lửa không nhàm chán nhau) của Thuyết-quái-truyện trong Kinh Dịch.

Sau khi đọc đi đọc lại "Hoàng-Cực Kinh Thế Thư" của Thiệu-tử lẫn "Dịch Nhất Quán" của họ Lă, tôi mới hiểu vi-ngôn đại-nghĩa câu ca-dao độc-đáo này: một câu mà sáu nghĩa thâm sâu. Chẳng hạn như  trong HCKTT có câu: “Thiên địa chi số thập chi Tam 天地之數十之三” (Số của Trời Đất là ba phần mười). (Q8, tr. 3). Sách “Phát-vi ” cắt nghĩa như sau: 

Dụng-số của thể là 12 x 30 = 360. Dụng của dụng-số là 252. C̣n giao-số 108 là số không dùng của dụng-số vậy. Dụng-số hiển-dương, c̣n giao-số u-âm. Trời thống-lĩnh thể, đất phân nơi dụng. Từ số của 1 Nguyên mà nói th́ dụng-số 7, giao-số 3. Dương thắng âm là trời 7 ở trên giao với đất 3 ở dưới, chủ việc Khảm Ly (tiên-thiên) ở măo dậu mà phân ngày đêm. Dương lấn âm, ngày lấn đêm, đó chính là lẽ “Tam thiên lưỡng địa nhi ỷ-số” vậy. Lấy 1 ngày mà nói th́ từ giờ dần đến giờ tuất, lấy 1 Nguyên tức 12 Hội mà nói th́ Khai-vật (ở Hội Dần, Tinh Kỷ 76, tiết Kinh-trập) đến Bế-vật (ở Hội Tuất, Tinh Mậu 315, tiết Lập-đông) chỉ lấy 90720 năm trong 129600 năm làm dụng. Lấy số ngày mà nói trong 360 ngày chỉ lấy 7/10 tức 252 ngày làm dụng. Lấy năm mà nói 3 phần mùa đông không dùng. Lấy một ngày mà nói, 3 phần đêm không dùng. 

Nhiều khi ca-dao dẫn Dịch một cách bất ngờ như:

Ai chẳng ham sang trọng,

Ai chẳng vọng sang giầu.
 

Nhưng mà em xét lại câu:

Đồng thanh tương ứng, đồng-khí tương-cầu. (Văn-ngôn quẻ Kiền)

                                                          

Vậy nên em bỏ thảm, bỏ sầu,

Đành cam chịu cực hơn cơ-cầu về sau.  

Ngay đến thành-ngữ “đêm năm canh, ngày sáu khắc” ai mà chẳng biết. Nhưng khi hỏi tại sao lại 6 khắc ít có ai biết. Số là: từ đời Đông-Chu đến nay người Tầu vẫn chia một ngày thành 100 khắc (4 khắc dư để dành cho tháng nhuận). Trong “Chu-lễ, Hạ-quan, Khiết-hồ thị 禮,夏 官,挈 ”, Trịnh-Huyền chú danh-xưng “huyền-hồ ”rằng:  " Lậu chi tiễn trú dạ cộng bách khắc." (Lậu-hồ chia ngày đêm thành 100 khắc). C̣n cổ-nhân ta lại chia một ngày thành 6 khắc.

Không biết rồi ra “Kho Ca-dao Nôm“ khổng-lồ tàng-trữ tại Trường Viễn-đông Bác-cổ (EFEO), 22 rue Président Wilson, Paris 16 è, có c̣n ai đoái hoài không?

 

   

 

    Xem Kỳ 42

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com