www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

3    |    4   |   5 

6   |    7   |   8

    9   |   10  |   11  

 12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

  18  |   19  |   20 

  21  |   22  |   23 

  24  |   25  |   26 

 27  |   28  29

 30    31  |   32

  33  |   34    35 

 36  |  37   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 04

 

DỊCH ÂM

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 39)

 

 

Trong Bài Kỳ 4 (CHƯƠNG 02 – 2), ta đă gặp năm bộ Cổ Chu Dich:  Cổ Chu Dịch , cuả Lă Tổ Khiêm 呂祖謙 (2U), Cổ Chu Dịch Đính Hỗ cuả Hà Giai 何楷 (2V), Cổ Dịch Khảo Nguyên 古易考原 cuả Mai Trạc (2W), Chu Dịch Cổ Nghĩa 周易古義 cuả  Huệ Đống 惠棟 (2X), và Dịch Cổ Văn 易古文 cuả Lư Điều Nguyên 李調元 (2Y). Cả năm bộ sách đều viết bằng cổ-văn và phải đọc bằng cổ-âm Tiên-Tần.

 

I CỔ ÂM-VẬN

 

  Chuyên-thư về cổ-âm Kinh Dịch từ đời Đường đến nay cũng có được 11 quyển:

1.    Chu Dịch Âm-nghiă cuả Lục Đức Minh , đời Đường, san-bản 1756;

2.    Chu Dịch Âm-huấn 周易音訓 cuả Lă Tổ Khiêm 呂祖謙, đời Tống, và Tống-Hàm-Hi , đời Thanh, san-bản 1887;

3.    Chu Dịch Trực-âm周易直音 cuả Tôn Dịch , đời Tống, san-bản 1881;

4.    Dịch-âm cuả Cố Viêm Vũ顧炎武, đời Thanh, san-bản 1922;

5.    & 6. Lục-thị Chu Dịch Âm-nghiă Dị-văn 陸氏周易音義異文và Âm-nghiă Dị-văn Bổ-di 音義異文補遺 cuả Thẩm Thục沈淑, đời Thanh, san-bản 1882;

7.  Chu Dịch Âm-nghiă Khảo-chứng cuả Lư-văn Siêu , đời Thanh, san-bản 1791;

8.  Dịch Kinh Vận-độc cuả Giang-hữu Cáo , đời Thanh, san- bản 1814;

9.   Dịch-âm Bổ-di cuả Thẩm-Đào , đời Thanh, san-bản 1936;

10. Chu Dịch Cựu-âm Biện-chứng cuả Ngô Thừa Sĩ , đầu thời Dân-quốc, bài-ấn-bản 1923;

11. Dịch-âm cuả Từ-Ngang , đầu thời Dân-quốc, bài-ấn bản 1947.

  Bởi chưng Đời Thương/Ân chỉ có Giáp Cốt Văn, mà chưa có Ngữ-âm-học nên ta có thể chia Hán-ngữ Ngữ-âm-sử thành 4 thời-kỳ:

   1.  Thời-kỳ Thượng-cổ gồm có Chu (1111-249 B.C.) và Tần (221-206 B.C.);

  1. Thời-kỳ Cận-cổ gồm có Hán (206 B.C.-220 A.D.), Ngụy (220-265), Tấn (265-420), Nam-bắc-triều (420-589);

  2. Thời-kỳ Trung-cổ gồm có Tùy (581-618), Đường (618-907), Ngũ-đại (907-960) và Bắc-Tống (960-1126);
  3. Thời-kỳ Cận-kim gồm có Nam-Tống (1127-1279), Nguyên (1271-1368), Minh (1368-1644), Thanh (1644-1912) và Trung Hoa Dân-quốc (1912-) cũng như Cộng-hoà Nhân-dân Trung-quốc  (1949-).

  Thời-kỳ thượng-cổ quan-trọng đối với Cổ-Hán-Việt tức Tiền-Hán-Việt, c̣n thời-kỳ trung-cổ quan-trọng đối với Hán-Việt, tức chữ Hán đọc theo âm Việt thời đó. Muốn đọc đúng âm Hán-Việt ta cần nghiên-cứu âm-vận hai thời-kỳ này. 

     Sách bằng tiếng Pháp th́ có:

Henri Maspéro, Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême-Orient, Le Dialecte de Tch’ang-Ngan sous les T’ang, Tome XX, No 2, Imprimerie d’Extrême-Orient, Hanoi, 1920.

André G. Haudricourt, Problèmes de Phonologie Diachronique, SELAF, Paris, 1972.

Sách bằng tiếng Anh th́ có hàng loạt sách cuả học-giả Thụy-điển Bernhard Kalgren (xem Thư Tịch Khảo bên dưới) và cuả học-giả Gia-nă-đại:

Edwin G. Pulleyblank, Lexikon of Reconstructed Pronunciation in Early Middle Chinese, Late Middle Chinese, and Early Mandarin, UBC Press, Vancouver, 1991.           

C̣n sách Hán-văn cũng có rất nhiều nhưng chỉ xin mai-cử một sách quan-trọng nhất là Đẳng-vận Ngũ-thư, đời Nam-Tống, xuất-bản năm Đinh-tỵ (1191), gồm có 5 quyển vận-thư:

1) Vận-kính 韻鏡 của Trịnh-Tiều (1104-1162);

2) Thất-âm-lược 七音略 của Trịnh-Tiều;

3) Tứ-thinh Đẳng-tử 四聲等子 của Tư-mă Quang (1019-1086);

4) Thiết-vận Chỉ-chưởng-đồ của Tư-mă Quang;

5) Kinh-sử Chính-âm Thiết-vận Chỉ-nam 經史正音切韻指南 của Lưu Sĩ Minh 士明.

     Ngoài ra, c̣n có 4 quyển sách cận-kim rất hữu ích là:

·         Hán-ngữ Âm-vận-học của Đổng Đồng Ḥa do Văn Sử Triết Xuất-bản-xă kinh tiêu, Thập-ngũ-bản, Đài-bắc, tháng 10-1998.

·         Hán-ngữ Đẳng-vận-học của Lư Tân Khôi , đệ-nhất-bản, Trung Hoa Thư-cục, Bắc-kinh, tháng 11-1983.

·         Cổ-âm Khái Thuyết của Lư Tân Khôi, đệ-nhất-bản, Quảng-đông Nhân-dân xuất-bản-xă, tháng 12-1979.

·         Âm Học Thập Luận 音學十論cuả Tạ Vân Phi 謝雲飛, Vụ Phong xuất-bản-xă, Vụ-phong, Đài-loan, 1971. 

Cổ-vận-học là môn học nghiên-cứu vận-bộ tức thanh-mẫu và vận-mẫu, thời thượng-cổ. Các Thanh-nho như Cố Viêm-Vũ 顧炎武 (1613-82), tự Ninh-nhân寧人, hiệu Đ́nh-lâm , với các sách “Âm-học Ngũ thư và “Vận-bổ Chính 韻補正; Giang-Vĩnh 江永 (1681-1762), tự Thận-tu 慎修, với các sách “Cổ-vận Tiêu-chuẩn 古韻標準, “Âm-học Biện-vi 音學辨微 và “Tứ-thanh Thiết-vận-biểu 四聲切韻表”; Đới-Chấn 戴震 (1723-77), tự Đông-nguyên 東原, chủ trương "do chữ thông được từ, do từ thông được đạo", với các sách “Thanh-vận Khảo 聲韻考” và “Thanh-loại-biểu 聲類 ”; Tiền-Đại-Hân 錢大昕 (1728-1804), tự Hiểu-trưng 曉徵 và Tân-my 辛楣, hiệu Trúc Đinh , với hai sách “Tiềm-nghiên-đường Văn-tập 潛揅堂文集” và “Thập Giá Trai-dưỡng Tân-lục 駕齋養新錄”; Đoàn-Ngọc-Tài 段玉裁 (1735-1815), tự Nhược-ưng 若膺 hoặc Mậu-đường懋堂, với các sách “Thuyết-văn Giải-tự Chú 說文解字注, “Lục-thư Âm-vận-biểu 六書音韻表 "古十七部諧聲表Cổ Thập Thất Bộ Hài-thanh Biểu" và “Kinh-vận Lâu Tập 經韻樓集”,  kế-thừa Cố Viêm-Vũ và Giang Vĩnh mà phân chia cổ-vận thành 6 loại và 17 vận-bộ, dùng hài thanh biên-bàng mà quy nạp 17 vận-bộ; “Vương Niệm-Tôn 王念 (1744-1832), tự Hoài-tổ 懷祖, hiệu Thạch-cù , với 43 bộ sách trong đó ta có thể kể bốn sách "Dịch-lâm Hợp-vận-phổ 易林合韻譜“, “Quảng Nhă Sớ Chứng 廣雅疏證, "Độc thư Tạp Chí 讀書雜" và nhất là “Cổ Vận Phổ 古韻譜" (trong hai quyển thượng-hạ bộ sách sáng giá này, ông sưu-tầm được 21 cổ-vận-bộ  trích dẫn từ Kinh Thi, Quần-kinh và Sở-từ); Khổng Quảng Sâm 孔廣森 (1752-86), đệ-tử cuả Đới Chấn, với “Thi Thanh Loại 詩聲類” trong đó ông phân cổ-vận thành 18 bộ; Trương-Huệ-Ngôn 張惠言 (1761-1802), tự Cao-văn 皋文, hiệu Mính-kha 茗柯 với "Thuyết-văn Hài-thanh-phổ 說文諧聲譜"; Nghiêm Khả-Quân 嚴可均 (1762-1843), tự Cảnh-văn 景文, hiệu Thiết-kiều 鐵橋, với "Thuyết-văn Thanh-loại 說文聲類"; Vương Dẫn-Chi 王引之 (1766-1834), con ruột cuả Vương Niệm-Tôn, tự Bá-thân 伯申, hiệu Man-khanh 曼卿, với “Kinh-truyện Thích-từ 傳釋詞” và “Kinh-nghĩa Thuật-văn 經義述文”; Lưu Phùng-Lộc 劉逢祿 (1776-1829),  tự Thân-thụ 申受 và Thân-phụ申甫, hiệu Tư-ngộ 思誤 với "Thi-thanh-diễn詩聲衍"; Giang Hữu-Cáo 江有誥 (?-1851), tự Tấn-tam 晉三, với "Đường-vận Tứ-thanh Chính 唐韻四聲正", "Âm-học Thập Thư 音學十書"; Chương Bính-Lân 章炳麟 (1868-1936), tự Mai-thúc và Thái-viêm 太炎 với "Quốc-cố Luận-hành 國故論衡" và "Văn-thủy文始"; Hoàng-Khản 黃侃 (1886-1935) với "Dữ Nhân Luận-trị Tiểu-học-thư 與人論治小學書", đă lập một nền tảng vững chăi cho môn học này. Thế-kỷ trước, các học-giả cổ-hán-ngữ-học trứ-danh như Cao Bản Hán 高本漢 (Klas Bernhard Johannes Karlgren) (1889-1978), Đổng-Đồng-Hoà 董同龢 (12.10.1911-18.06.1963) với "Hán-ngữ Âm-vận-học 漢語音韻學", Vương-Lực 王力 (1900-86) với "Hán-ngữ Âm-vận 漢語音韻" và "Long-trùng tịnh Điêu-trai Văn-tập 龍蟲並雕齋文集", Lư-Phương-Quế 李方桂 (1902-1987) với "Thượng Cổ Âm 上古音", Triệu Nguyên Nhiệm 趙元任 (Zhào Yuánrèn) (1892-1982) với "Hiện Đại Ngô Ngữ Đích Nghiên Cứu現代吳語的研究", La Thường Bồi 羅常培 (1899-1958) với "Hán-ngữ Âm-vận-học Đạo-luận 漢語音韻學導論", "Hạ-môn Âm-hệ 廈門音系“, “Lâm-xuyên Âm-hệ臨川音系” và "Đường, Ngũ-đại Tây-bắc Phương-ngôn 唐五代西北方言“, Lâm Ngữ Đường 林語堂 (1895-1976) với "Ngữ Ngôn Học Luân Tùng 語言學論叢", Trần Tân Hùng 陳新雄 với "Cổ Âm Học Phát Vi 古音學發微", lại vận-dụng kiến-thức mới về ngữ-âm-học Tây-phương mà cải-thiện âm-độc cuả các vận-bộ.  

Khi nghiên-cứu cổ-vận, Chương Bính-Lân có sáng chế ra một đồ-biểu đặc-sắc mệnh-danh là "Thành-quân-đồ" để thuyết-minh quan-hệ xa gần cuả 23 cổ-vận. Trừ thuyết-minh chuyển-chú và giả-tá cuả văn-tự và lư-do sinh sôi nẩy nở cuả chúng ra, ông c̣n thuyết-minh thêm hiện-tượng áp-vận ngoại-lệ. Cơ chế cuả đồ-biểu này như sau:

Cho âm-yểm và âm-yểm cùng hàng; dương-yểm và dương-yểm cùng hàng; âm-xỉ với âm-xỉ cùng hàng; dương-xỉ với dương-xỉ cùng hàng. Phàm các bộ ở cùng chỗ gọi là cận-chuyển. Phàm các bộ cùng hàng sánh nhau là cận-bàng-chuyển. Phàm cùng hàng mà lại gần nhau là thứ-bàng-chuyển. Phàm âm dương tương-đối là chính-đối-chuyển. Phàm tự bàng-chuyển mà thành đối-chuyển là thứ-đối-chuyển. Phàm cận-chuyển, cận-bàng-chuyển, thứ-bàng-chuyển, chính-đối-chuyển, thứ-đối-chuyển là chính-thanh. Phàm song-thanh tương-chuyển mà không thuộc điều-lệ cuả ngũ-chuyển th́ là song-thanh.

Trong biểu-đồ bên trái là âm (kể từ trên xuống dưới là: âm yểm, âm-trục và âm-xỉ), bên phải là dương (kể từ dưới lên trên là: dương-yểm, dương-trục và dương-xỉ). Bên trái theo bán-cung từ trên xuống dưới là các bộ:

Ca, thái, đội, chi, chí, chi, ngư, xỉ, u, chi, tiếu.

Bên phải theo bán-cung từ trên xuống dưới là các bộ:

                             đa, xâm

Cái, trưng, tập, đông, dương, thanh, truân, chân, hàn. 

H́nh 40.1  Thành Quân Đồ 

Khổng-tử luôn luôn dùng Nhă-ngôn 雅言, tức chính-âm đời Đông Chu những lúc tụng Kinh Thi, đọc Kinh Thư hay chấp-hành lễ-sự (子所雅言詩書執禮皆雅言也 Tử sở nhă ngôn Thi, Thư, chấp lễ giai nhă-ngôn dă.)   (LN, Thuật Nhi, Tiết 17).

Nếu xét kỹ ta sẽ thấy tương-quan chặt chẽ qua lưng thời Hán, giữa nhă-ngôn thời đó và âm-vận của thời Tùy, Đường.  

Kể từ khi Tôn Thúc-nhiên 孫叔然bắt đầu dùng phản-ngữ song thanh điệp-vận trong Nhĩ-nhă Âm-nghĩa 爾雅音義của ông, các âm-vận được phân-loại, chư Nho mới truyền-thụ vận-bộ tứ-thinh. Về sau, cuối đời Tuỳ mới có Thiết-vận (601) của Lục Pháp Ngôn陸法言, theo sau là Tiên-chú-bản Thiết-vận 箋注本切韻(677) cuả Trưởng-tôn Nột-Ngôn 長孫訥言 và Chu-tiên Bổ-chính-bản Thiết-vận (khoảng thời Khai-nguyên 713-41) của Quách Tri Huyền . Nhóm Tôn-Diện đời sơ Đường đă tăng bổ thành Đường-vận (751). Hậu-thân đời Bắc Tống (960-1126) của Thiết-vận là Quảng-vận cuả nhóm Trần Bành Niên (961-1017). Sách này chỉnh-tề, nhiều chữ và chú-hiệu kỹ hơn Thiết-vận. Tập-vận cuả nhóm Đinh-Độ chỉ là Quảng-vận đă bị biến-chất Nam Tống (1127-1279) rồi. C̣n vận-thư, từ-thư các đời sau chỉ là cạm bẫy âm-vận cho những ai c̣n lưu tâm đến Cổ-Hán-Việt và Hán-Việt chân chính. Giao-Hán-Việt là tiếng Nôm đọc trại từ chữ Hán. Tệ nhất là Tân-Hán-Việt xuất-xứ từ Bạch-thoại tức quan-thoại hậu-kỳ đời nay. 

Nhà kinh-học trứ-danh Tiền Đại Hân, tự Hiểu-trưng và Tân-my , hiệu Trúc-đinh , trong hai tác-phẩm “Tiềm-nghiên-đường Văn-tập 潛揅堂文集” và nhất là “Thập giá Trai-dưỡng Tân-lục 十駕齋養新錄”, có chủ-trương ba điều-lệ quan-trọng về cổ-âm: 

1) Cổ vô tứ-thinh :  

Ông quả-thuyết là Tứ-thinh chỉ mới xuất-hiện thời Tề, Lương đời Nam-Bắc-Triều. Ông chủ-trương cổ không phân-biệt tứ-thinh mà chỉ có hiện-tượng “khinh- trọng, hoăn-cấp 輕重緩急” (Nặng, nhẹ, khoan, nhặt).  Dựa vào các thuyết “Tứ thanh nhất quán 四聲 ” và “B́nh trắc thông-áp 平仄通押” của họ Cố, ông nhận xét rằng âm-vận thượng-cổ chỉ là ḥa điệu nhất thời, chứ không chặt chẽ như tứ-thinh “B́nh (even tone), thượng (rising tone), khứ (falling tone), nhập (entering tone) 平上去入” các đời sau. Ông phân-lập các vận-vỹ cổ ra thành 3 loại: 

·         Âm-thinh tận cùng bằng nguyên-âm (giọng âm hẳn phù tức nổi);

·         Dương-thinh tận cùng bằng tị-âm (giọng mũi): m, n, ng, nh (giọng dương hẳn trầm tức ch́m);

·         Nhập-thinh tận cùng bằng p, t, k (k tức c, ch trong chữ Quốc-ngữ). 

Âm, Dương thinh hợp thành B́nh-thinh. B́nh-thinh nâng cao lên một chút siú sẽ trở

thành Thượng-thinh; Nhập-thinh nặng một chút sẽ trở thành Khứ thinh. Trong “Cố thị âm-luận ” Cố Viêm Vũ nói rất rơ: ‘Nay khảo văn Giang-tả từ thời Thiên-Giám Nhà Lương trở về trước, hai thinh Khứ Nhập đồng-dụng; về sau mới phân-ly mà không tương-thông nữa. Thế mới biết Tứ thinh khởi từ đời Vĩnh-minh mà định từ giữa đời Lương và Trần mà bằng vào thơ cổ-nhân, ta thấy có tŕ tật khinh trọng (khoan, nhặt, nặng, nhẹ) nên bằng th́ nhiều vần bằng, trắc th́ nhiều vần trắc, nhưng dù có tứ-thanh cũng dùng cả bằng lẫn trắc mà vô-cùng tận, có khi thượng chuyển thành b́nh khứ, hoặc chuyển thành b́nh thượng. nhập hoặc chuyển thành b́nh thượng khứ, ắt lúc ca-ngâm, ức dương (nâng đè) cao thấp mà thôi (4P, tr. 118, 777 và 855).

Bên Trung-hoa, v́ thời cổ nhiều chữ thuộc thinh nhập sau này phân-tán ra thành ba thinh B́nh, Thượng, Khứ nên sau này ta mới có luật "Nhập Phái Tam Thanh " (Thanh nhập phân-phái ra ba thanh kia), tối-cần-thiết cho những người Hoa  chỉ biết quan-thoại mà muốn đọc hay làm thơ Đường-luật hoặc viết từ-khúc (4O). 

Ngoài ra, c̣n c̣n có luật "Âm Dương Đối chuyển ", tức thị âm-thinh thêm vào tị-âm để thành dương-thinh; ngược lại dương-thinh mất đi tị-âm để thành âm-thinh. Xin mai-cử vài thí-dụ về chư thinh, thông thường là dương-thinh, lấy trong hai Dịch-truyện già tuổi nhất là Thoán-truyên và Tượng-truyện:

Thoán-truyện quẻ Kiền dùng vần ép: thiên (thin), h́nh, thành, thiên, mệnh (mịnh), trinh, ninh;

Thoán-truyện quẻ Tụng dùng vần ép: trung, thành, chính (chánh), uyên (uyin);

Thoán-truyện quẻ Đại-súc dùng vần ép: tân, hiền, chính, hiền, thiên.

Tượng-truyện quẻ Cấu dùng vần ép: khiên, tân, khiên, dân, chính, mệnh, lận (lịn);

Tượng-truyện quẻ Cấn dùng vần ép: chính, thanh, tâm, cung, chính, chung;

Tượng-truyện quẻ Hằng dùng vần ép: thâm, trung, dung, cầm (ḱm), chung, hung, công;

Tượng-truyện quẻ Cách dùng các vần ép: th́, vi, gia, chi, chí, úy (âm-thinh) cũng như mệnh, bính, trinh và biến, diện, quân ;

Tượng-truyện quẻ Hoán dùng các vần ép: thuận, nguyện; ngoại, đại, hại (âm-thinh);

Tượng-truyện quẻ Cấu dùng các vần ép: tốn, thuận; đức, pháp, tiếp, thực (nhập-thinh);

Tượng-truyện quẻ Kiền dùng vần ép: đạo, cữu, tạo, cửu, thủ (âm-thinh). 

Các loại hiệp-vận tương-tự, ta bắt gặp rất nhiều trong Kinh Thư và Kinh Thi và ngay cả các dịch-truyện c̣n lại. Các áp-vận này cũng thường thấy trong vận-ngữ Tiên-Tần các nước chư-hầu phương Nam như Sở , Ngô , và Việt

2) Cổ vô thiệt-thượng-âm : 

Trong sách “Thập giá Trai-dưỡng Tân-lục” thượng-dẫn, thiên “Thoại-âm loại cách bất khả tín ”, ông có nêu ra vấn-đề âm cổ không phân-biệt thiệt đầu (đầu lưỡi) với thiệt-thượng-âm (mặt lưỡi), nên thinh-mẫu cuả chữ tri , triệt , trừng , (và nương ), đương thời đều đọc giống chữ  chi và 3 chữ chiếu , xuyên 穿, sàng , nhưng nếu truy sóc âm cổ th́ đọc không khác ǵ thanh đầu chữ đoan , thấu , định . Thanh đầu trong trung , đắc cổ đọc giống nhau (âm t) và thanh đầu trong trừu , thao , cổ đọc giống nhau (âm th). Tỷ như trong Kinh Thi, thiên Dung-phong, bài Bách châu, câu “Thực duy ngă đặc ”, Thích-văn của Lưu-Hi ghi: Hàn-thi chép thành tác ; họ Triệu chú: trực là đăn vậy và đăn, trực thanh na ná. Nếu ta dùng chữ Quốc-ngữ, Hán cổ không phân-biệt CH/TR, S/X cũng như T/Đ/TR. Có biết điều-lệ này ta mới hiểu tại sao người Phúc-kiến (Mân-bắc), người Thái-b́nh (Bắc-phần) và Bùi Chu, Phát-diệm (Đông-nam Bắc-phần) mới phát-âm làm vậy! 

3) Cổ vô khinh-thần-âm : 

Trong sách thượng-dẫn, ông nhận xét mọi khinh-thần-âm cổ tức thần-xỉ-âm đương kim (labiodental) đều đọc thành song-thần-âm (bilabial). Các sát-âm (fricative, spirant), Tắc-sát-âm (affricate), và tị-âm (nasal) đều thuộc loại này.

Nói theo ngôn-ngữ hiện-đại, mọi song-thần-âm của thời cổ đọc như thần-xỉ-âm của đời sau. Tỷ như chữ phô xưa đọc như chữ bố , chữ phương đọc như chữ bàng , chữ văn đọc như chữ môn . Điều này cắt nghiă sự có mặt trong những chữ thuộc loại hài-thanh, cuả phần chỉ-âm nay đă biến-âm. 

Sau hết, xin bàn qua phương-cách người đời xưa đă dùng để chú-âm chữ Hán. Cổ-nhân gọi giải-thích cách đọc là “giải-độc 解讀”. Vậy xin giải-độc Hán-ngữ. 

Phương-pháp xưa nhất hẳn là “tỷ-huống 譬況 ”, c̣n đọc là “thí-huống”. Phương-pháp này mô-tả rơ ràng cách phát-âm của mỗi chữ. Tỷ dụ như Lưu Hy thời Đông-Hán, trong “Thích-Danh 釋名”, thiên Thích-thiên”, có mô-tả cách phát-âm chữ “phong ” như sau: “Châu Duyện, châu Dự, châu Kư, miệng đưa ngang môi mím, nên hơi gió bác-phiếm mà thổi vào vật; người châu Thanh, châu Từ lại mở rộng môi mở để đẩy khí ra v́ phong là phóng-tán khí ra vậy. Sách sử không thấy chép tiểu-truyện Lưu Hy. Trong sách “Trực-trai Thư-lục Giải-đề của Trần Chấn Tôn đời Tống có ghi: ‘Sách Thích Danh do trưng-sĩ đời Hán Lưu Hy Thành-quốc quận Bắc-hải soạn’. Ông là người cùng làng với Trịnh Huyền. Thế-thuyết Tân-ngữ 世說新語 do Lưu Nghiă-Khánh triều Tống thời Nam-triều soạn, thiên Ngôn-ngữ Đệ-nhị (4I, Thượng Quyển Hạ, tr. 13-39) cũng ghi: ‘Thời Hậu Hán Di Chính B́nh, Lưu Thành-quốc, Quản Trữ, Lậu Nguyên đều là người có tài đức đất Thanh”. Ông có làm Thái-thú Giao Châu. 

Người thời cổ cũng hay dùng chữ đồng-âm thông dụng chú-âm một chữ ít dùng và gọi là "độc nhược ", c̣n gọi là "độc như ". Cách này hay được dùng thời Hán như ta thường bắt gặp trong các sách chú Kinh Truyện của Trịnh Huyền, hay sách Thuyết-văn Giải-tự của Hứa-Thận v.v. Ngay đến "Khang-hy Tự-điển " sau này cũng c̣n dùng cách chú-âm này.

Các cổ-tịch lúc chú-âm cũng dùng "độc nhược", "độc như" để biểu-minh một chữ nào đó cần được cải-biến âm và nghĩa: đó là một loại "giả-tá ” (âm mượn)" hoặc "độc-phá 讀破" (đọc trại ra). Cách này không những diễn-dịch âm một chữ mà c̣n ngụ-ư huấn-hỗ  tức chú-giải văn-nghĩa. Tỷ như Trịnh Huyền khi giải-thích chữ tín trong câu "Cánh thân kỳ chí 竟信其志" đă giả-tá chữ tín thành chữ thân trong khuất thân 屈伸, giống hệt trường-hợp của Dịch-truyện: "Xích hoạch chi khuất, dĩ cầu thân dă 尺蠖之屈以求信也" (Sâu đo co lại để cầu duỗi ra vậy.) (Hệ Hạ V/3). Lại như "Lễ-kư, thiên Biểu-kư", có câu:"Y-phục dĩ sỉ chi 衣服以移之" (Quần áo để mặc rộng răi). Trịnh-Huyền chú: " đọc như trong thủy phiếm sỉ 水泛移 = nước mênh mông”. Bởi chưng nếu b́nh-thinh th́ đọc là di và nghiă là di-dịch 移易, c̣n nếu khứ-thinh lại đọc là sỉ và nghiă là rộng răi, mênh mông. Kinh Dịch cũng có nhiều tỷ-dụ một chữ có nhiều âm. Có lẽ ngoạn-mục nhất phải kể đến chữ "xạ " (khứ-thinh). Khi nào có nghiă là bắn trúng lại phải đọc là thiệc (nhập-thinh), như trong các đậu: “公用射隼于高墉之上” (Công dụng xạ chuẩn vu cao dung chi thượng, hào-từ thượng-lục quẻ Giải h); "井谷射鮒" (Tỉnh cốc xa phụ, hào-từ cửu-nhị quẻ Tỉnh p); đôi khi lại phải đọc là dịch như trong đậu "水火不相射" (Thủy hoả bất tương dịch = Thủy hoả không nhàm chán nhau, Thuyết-quái-truyện, III/1). Trong 12 luật-lă, luật thứ 5, phải đọc là vô-dịch. Tương-tự trong Kinh Dịch chữ có ba âm: thuyết (nói) như trong "滕口說也。Đằng khẩu thuyết dă: quẻ Hàm _/Hào Thượng Tượng", duyệt (vui vẻ) như trong "說而順。Duyệt nhi thuận: quẻ Tuỳ Q/Thoán", thoát (cổi, tuột, sút) như trong "輿說輻。Dư thoát phúc (xe sút bánh): quẻ Đại-súc Z/Hào nhị". Âm thứ tư thuế chưa có trong ngữ-vựng thời đó. 

Nên khu-biệt giữa “độc nhược”, "độc như" (đọc như) và “độc vi 讀為” (đọc là), “độc viết 讀曰” (đọc ra rằng).  “độc vi”, “độc viết” nhấn mạnh đến tính cách giả-tá hoặc độc-phá cuả đương-tự, chứ không dùng để chú-minh cách đọc ban đầu của cách âm độc. Ví dụ 1:  “Thi-kinh, thiên Vệ-phong có câu:  “Kỳ tắc hữu bạn    ”. Trịnh-Huyền tiên-chú: “Phán” đọc như “bạn”, nghĩa là bờ. Ví dụ 2: “Kinh Thư, thiên Nghiêu-điển 堯典” có câu: “Bá thị bách-cốc 播時百穀”. Trịnh-Huyền chú: “ th́” đọc thành “thị ”, nghĩa là trồng-trọt.

Đôi khi cũng có thể dùng chữ giả-tá để thuyết-minh bản-tự. Như 'Thuyết-văn' chú: “Chữ sáng đọc như chữ sáng”, có nghĩa là 2 chữ này dùng thông nhau. Lâu ngày chữ dùng quen biến thành dị-thể hoặc tục-thể của chữ . Lại như 'Thuyết-văn' chú: “chữ   tập đọc như tập”. Vậy chữ là bản-tự của chữ trong "集合 tập hợp". Về sau, cổ-tịch hay dùng chữ  nên chữ này trở thành thông-tự của chữ . Các tự-điển hay dùng "độc nhược", "độc như" để chỉ rơ liên-hệ văn-tự giữa bản-tự và giả-tá-tự. Nhờ đó ta mới thấy các điểm dị-đồng giữa "độc nhược", "độc như" và "độc vi", "độc viết". Tựu trung, "độc nhược", "độc như" được dùng quy-mô hơn hai cách đọc kia. Vậy th́ trong rất nhiều trường-hợp, “độc nhược” và “độc vi” phải được thêm vào để phân-biệt hai chữ có âm tương-tự. Thế th́ cổ-nhân khi chú-giải cổ-thư cũng thường hỗn-dụng chúng. Người đời sau, không biết thế,  nên không biết phân-biệt. Đoàn Ngọc Tài khi chú 'Thuyết-văn’, dưới câu: "Chữ   thuế đọc như chữ   thuế trong thành ngữ 舂麥為  cữu mạch vi thuế", có chua: "Phàm nói 'độc nhược' đều là nghĩ đến âm chữ". Nhà văn-tự-học đời sơ Tống Từ-Huyễn 徐鉉 tức Đại Từ 大徐 có nói là thành ngữ "cữu mạch vi thuế" nay không c̣n thấy nữa.

Chú Kinh ắt kiêm cả hai chữ nên mới có 'độc vi', 'độc nhược': 'độc vi' cũng nói là 'độc viết'; 'độc nhược' cũng nói là 'độc như '. Nhưng mà tự thư nói tới bản-âm một chữ, nên có 'độc nhược' mà không có 'độc vi'. Ngay đến người đời Đường Khổng Dĩnh Đạt, khi viết 'Chính-nghĩa' cho Kinh Dịch, cũng không phân-biệt 'vi' và 'nhược', nên mới có ngoa-loạn trong lời chú". Câu ông nói: "Phàm nói 'độc nhược' đều là nghĩ đến âm chữ" cũng không đúng hẳn. Đôi khi chua 'độc như' cũng biểu-ư nên đổi cả âm lẫn nghĩa, giống như trường-hợp của 'độc vi'. Trong “Tiềm-nghiên-đường Văn-tập 潛揅堂文集”, nơi mục “Cổ đồng-âm giả-tá thuyết 古同音假借說”, Tiền Đại-Hân đă từng vạch rơ thuyết 'độc nhược' của người đời Hán, đều thuộc về lệ giả-tá của văn-tự. Ông viết: "Người đời Hán dùng 'độc nhược' để cho thí-dụ về giả-tá, đồng thời cũng để ngụ ư 2 chữ có thể dùng thông cho nhau". Tỷ như trong 'Thuyết-văn', các thí-dụ chữ tập ( , ), chữ sáng (, ) đều là "ngụ ư hai chữ có thể dùng thông cho nhau". Tóm lại, 'độc nhược' và 'độc như' không cứ chỉ nghĩ đến âm, đôi khi cũng c̣n ngụ-ư dùng thông hai chữ cả về âm lẫn nghĩa.

Có người gọi cách chú-âm bằng 'độc nhược' là 'trực-âm 直音'. Kỳ thực, 'trực-âm' là chú-âm một chữ bằng một chữ khác. Chỉ cần giở "Thập-tam-kinh Chú-sớ" (1H) của Nguyễn Nguyên ra là ta có vô khối thí-dụ. Như trong "Cốc-Lương-truyện, Ẩn-công ngũ niên" có câu: "Trảm thụ mộc, hoại cung thất, viết phạt 斬樹木宮室曰伐" (Chặt cây-cối, phá cung thất th́ gọi là phạt). Chú rằng: "hoại âm quái". (1H, Hạ Sách, tr. 2370a). Ngay đến các tự-thư đời sau như "Khang-hy Tự-điển 康熙字典" cũng năng dùng cách này sau khi “phiên-thiết ”. Tỷ như chữ Hào , dưới mục 'Quảng-vận', 'Tập-vận', 'Chính-vận正韻' đều nói Hồ Đao thiết, âm Hào (trực-âm). Vô h́nh trung, “độc nhược” biểu-thị cách đọc hay cách phải đọc một chữ đă biến-âm. Chu-tử là một ngoại-lệ: trong "Chu-Dịch Bản-nghĩa 周易本義", Ngài dùng phương-âm Mân-bắc để chú cổ-âm, tương-tự trường-hợp "Bạch Dịch" đă đổi tên 22 quẻ trong số 64 quẻ (34 %). Chính Chu-tử đă hiệp-vận quẻ Quyết thành Quải cho vần với Giải. Trên thực-tế, 'trực-âm' và 'độc nhược' có vài bất-tiện. Một là trường-hợp chữ đương-quan không có đồng-âm. Hai là chữ đương-quan có đồng-âm nhưng lại khó và ít dùng hơn chữ muốn t́m âm. Do đó cần có cách chú-âm hữu-hiệu hơn. Vậy nên, xin phân-giải vắn tắt phép chú-âm cổ-điển mệnh-danh là “Song thanh điệp-vận ” mà Lục Pháp Ngôn, tác giả cuả Thiết-vận tổng hợp từ công-tŕnh cuả năm biên-giả vận-thư Đời Tùy (Lă Tĩnh, Hạ-Hầu Vịnh, Dương Hưu Chi, Lư Quư Tiết và Đỗ Đài Hương), tức “phiên-thiết ” mà các nhà Trung-Hoa-học thế-giới đă bàn đến rất nhiều.  

Trong phép phiên-thiết thời xưa, có một loại gọi là “Loại-cách-thiết 類隔切”: thinh-mẫu chữ trước và thinh-mẫu bản-tự không phù-hợp hoàn-toàn mà chỉ na ná. Nguyên-nhân chính là thời cổ, có một số thinh-mẫu vốn cùng thuộc một loại âm đọc, hoặc âm đọc từa tựa, như trường-hợp song-thần-âm (b, m) và thần-xỉ-âm (ph, v) hay thiệt-đầu-âm và thiệt-thượng-âm đă đề-cập bên trên. Thời cận-cổ, lúc mới đặt ra phiên-thiết, các thinh-mẫu ấy chưa phân-hoá, hoặc chỉ mới phân-hoá phần nào, nên người thời đó hỗn-dụng bất phân hai loại âm đó. “Quảng-vận” bảo-tồn lối “Loại-cách-thiết”, trong khi “Tập-vận” đă hợp-thức-hoá “Loại-cách-thiết” bằng cách đổi chữ phiên-thiết trước sao cho phù-hợp hoàn-toàn với thinh-mẫu bản-tự và gọi là “âm-hoà-thiết ”. “Loại-cách-thiết” phản-ảnh biến-âm lịch-sử của một chữ. Dữ kiện quan-trọng này cắt nghĩa tại sao hai chữ biến và thiên , chẳng hạn, lại khác âm trong Hán-Việt-ngữ nhưng đồng-âm trong Hán-ngữ.  

Đa-số học-giả đồng-ư rằng “phiên-thiết” xuất-hiện khoảng cuối đời Đông-Hán, bởi chưng Nhan Chi Thôi 顏之推, đời Bắc-Tề, có viết trong Nhan-thị Gia-huấn 顏氏家 nơi thiên “Âm-từ 音辭”:

Kịp khi Trịnh-Huyền chú Lục-kinh, Cao Dụ giải "Lă Giám" và "Hoài-nam-tử", Hứa-Thận tạo “Thuyết-văn”, Lưu Hy chế “Thích-danh”, mới có tỷ-huống để chứng tự-âm. Mà âm xưa và nay khác biệt trong khinh/trọng, thanh/trọc, mới thêm vào các loại: nội-ngôn, ngoại-ngôn, cấp-ngôn, từ-ngôn, độc như, càng làm người ta thêm ngờ. Tôn Thúc-nhiên sáng nghĩ ra “Nhĩ-nhă Âm-nghiă 爾雅音義”, là người đời Hán-mạt riêng biết phản-ngữ. 

Do đoạn văn đó, người đời quy việc phát-minh “phiên-thiết” vào Tôn-Viêm, tự Thúc-nhiên. Cũng có người bảo “phiên-thiết”  bắt đầu từ Phục-Kiền 服虔, Cửu-giang thái-thú thời Hán Linh-đế, tác giả cuả “Xuân Thu Tả-thị-truyện-giải”. Như trong bài tựa “Nhất-thiết-kinh Âm-nghiă ” cuả Tuệ-Lâm, Cảnh Thẩm 景審viết: “Từ xưa phản-âm thường dùng bàng-nữu làm song-thinh, bắt đầu từ Phục Kiền, nguyên lai vốn không có định-chỉ. Bất quá Tôn Viêm chỉ là người có công tu sửa và sử-dụng “phiên-thiết” nhiều, chưa chắc đă là người sáng nghĩ. Theo nghiên-cứu cuả nhóm Chương Thái Viêm, trước Tôn-Viêm đă có Ưng Thiệu 應劭, Phục-Kiền. Sách cuả Tôn Viêm đă thất-truyền, chỉ c̣n đựợc giữ lại ít nhiều trong “Kinh truyện Thích-từ cuả Lục Đức-Minh. C̣n “phiên-thiết” cuả Ưng Thiệu, Phục-Kiền, lại càng hiếm hoi hơn. 

“Khang-hy Tự-điển” dẫn-dụng các vận-thư như “Đường-vận”, “Quảng-vận”, “Tập-vận”, “Vận-hội ”, “Hồng-vũ Chính-âm 洪武正音”, “Ngọc-thiên 玉篇”, “Chính-vận 正韻”, “Thiên-hải 篇海”, “Tự-vựng-bổ 字彙補”. Riêng đối với người Việt ta chỉ nên tin vào hai quyển đầu; c̣n bốn quyển sau, đă biến-âm cho giống âm cận-kim, chỉ dành riêng cho người Hoa. Nhận xét này càng đúng cho những từ-thư thế-kỷ 20 có phiên-thiết như Trung-Hoa Tự-điển, Từ-Hải, Từ-nguyên, Từ thông, Từ-vựng v.v.          

Riêng “Hán-ngữ Đại-tự-điển ” (4AAQ), do Từ Trung Thư chủ-biên, xuất-bản năm 1986-1990 tại Thành-đô, đặc sắc ở chỗ là có chứa khoảng 55 000 chữ đơn. Phần chú-âm chia thành thượng-cổ-âm tương-ứng với Cổ-Hán-Việt, trung-cổ-âm tương-ứng với trung-cổ hán-Việt (Early Middle Chinese) Hán-Việt và hiện-đại-âm tức âm quan-thoại. Kèm theo “phiên-thiết”, sách c̣n cho một lối chú âm mới khá độc-đáo: Chữ đầu là tứ thinh (b́nh, thượng, khứ, nhập), chữ giữa cho vần (vận-mẫu) và chữ cuối cho thinh-mẫu kiêm hồng/tế và thanh/trọc. Trong số nguyện-vấn học-thuật, ta nhận thấy có bốn danh-sĩ: Vu Tỉnh Ngô , Vương Lực , Chu Tổ Mô và Vương Thế Lộc 祿.

Xin nói thẳng, chữ Hán cổ trong bài này tôi đều dùng âm Tiên-Tần tức Cổ-Hán-Việt cuả nhà ngữ-học Vương-Lực (1900-86), tiến-sĩ Sorbonne (1927), là học-giả từ muà thu 1939 đến muà hè 1940, đă nghỉ dạy tại Đại-học Bắc-kinh một năm, để sang nghiên-cứu Hán-Việt-ngữ tại Trường Viễn-Đông Bác-cổ (EFEO) Hà-nội. Tôi may mắn c̣n giữ được bài tường-tŕnh giá-trị dài 114 trang cuả ông về "Hán-Việt-Ngữ Nghiên-cứu "(4U, Đệ-nhị sách, tr. 704-818), là người mà tôi có vinh-dự làm tái-truyền đệ-tử qua trung-gian cuả Diệp giáo-thụ. Sau đây, tôi sẽ xin nối điêu họ Vương để bàn qua về Cổ-Hán-Việt (Archaic Sino-Vietnamese) cuả Kinh Dịch. Có thế ta mới biết được tiền-nhân ta thời Hán-mạt, Tam-quốc (trong đó có mấy trăm đệ-tử cuả Ngu-Phiên) đọc âm Kinh Dịch ra làm sao. 

Kinh Dịch là một Quyển Thơ đặc-sắc không thua ǵ Kinh Thi, tiềm-tàng đầy đủ cả “song-thinh điệp-vận” mà Trần-Lễ đề-cập trong “Thiết-Vận-Khảo” (4H, tr. 46). Như trong hai quẻ “cửa ngơ” Kiền Khôn, lần lượt ta có những hào-từ: Kiền Cửu Nhị: Hiện Long tại điền; Cửu Tam: Quân-tử chung nhật kiền kiền; Cửu Tứ: Hoặc dược tại Uyên; Cửu Ngũ: Phi long tại thiên (vần yên). Khôn Sơ Lục: Lư sương; Lục Nhị: Trực phương (orthogonal); Lục Tam: Hàm chương; Lục Tứ: Quát nang; Lục Ngũ: Hoàng thường; Thượng Lục: Kỳ huyết huyền-hoàng (vần ương ~ ang).

Hào Cửu-tứ quẻ Phệ-hạp: "  Phệ can t, đắc kim th = cắn chạo khô, được tên vàng".

Hào lục-tứ quẻ Tập Khảm có liên-đậu: " Tôn tửu, quỹ nhị dụng phữu, nạp ước tự dữu. Chung vô cữu". 

Trong Dịch-truyện ta hay gặp các đậu liên-tiếp bắt vần với nhau:

Cổ chi dĩ lôi-đ́nh. Nhuận chi dĩ lôi vũ. Nhật nguyệt vận-hành. Nhất hàn nhất th. (Thượng-Hệ I/3)

Thiên Điạ nhân-uân. Vạn-vật hoá thuần. Nam nữ cấu tinh. Vạn-vật hoá sinh. (Hạ-Hệ V/13).

"Sơ suất kỳ từ nhi quỹ kỳ phương. Kư hữu điển-thường. (Hạ-Hệ VIII/4).

Phân âm, phân dương. Dât dụng nhu cương. Cố Dịch lục vị nhi thành chương". (Thuyết-quái-truyện II/1).

"Vi huyết quái, vi xích. Kỳ ư mă dă vi mỹ-tích = Là quẻ có máu, là sắc đỏ, ở ngựa là xương sống đẹp". (Thuyết-quái-truyện XI/5).

" Vi khẩu thiệt, vi hủy triết, vi phụ quyết = là miệng lưỡi (tranh-luận, căi nhau), là bẻ nát, là phụ-quyết (đem cất d8ồ gặt)". (Thuyết-quái-truyện XI/8).

Cước-vận trong Kinh Dịch vô số như ta vừa thấy. Như hào-từ Lục Tứ Quẻ Khảm có liên-đậu (chain of syntagmas): 'Tôn Tửu. Quỹ nhị dụng phữu. Nạp ước tự dữu. Chung vô cữu” v.v. Thậm chí, đôi khi ta bắt gặp cả Lục-bát lẫn Song-thất là hai thể thơ hoàn-toàn VN như trong ba quẻ Khôn (Hào-từ Lục Tam), quẻ Truân (Hào-từ Lục-tứ) và quẻ Thái (Hào-từ Lục-tứ):

·          Lục-tam hàm chương khả trinh,

           Hoặc tùng vương-sự, vô thành hữu chung.

·          Lục-tứ: thừa mă ban như,

      Cầu hôn cấu, văng cát, vô bất lời.

·          Thái lục tứ phiên phiên bất phú,

      Dữ kỳ lân bất giới dĩ phu.

 Đôi khi lại có cả yêu-vận là một loại vần rất VN. Như Văn-ngôn Quẻ Kiền có liên-đậu: 'Vân tùng long. Phong tùng hổ. Thánh-nhân tác nhi vạn-vật đổ.'  

 

   

 

    Xem Kỳ 41

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com