www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

3    |    4   |   5 

6   |    7   |   8

    9   |   10  |   11  

 12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

  18  |   19  |   20 

  21  |   22  |   23 

24  |   25  |   26 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 03 - 18

 

THIÊN-VĂN LỊCH TOÁN

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 28)

 

VI  CÁC THỨ LỊCH KHÁC

 

 LỊCH TƯỢNG 

LỊCH CỘNG-HOÀ LA-MĂ
 

Lịch này là tỵ-tổ của Dương-lịch hiện-hành, tương-tự như Lịch Cổ-Hy-lạp nhưng thô-sơ hơn, và dường như phỏng theo một âm-lịch 10 tháng đi từ Martius đến Decembris với khoảng trống hai tháng muà đông. Dữ-kiện về Lịch Cộng-hoà La-mă (LCHLM) được lấy từ một mẩu lịch tiền-julian của thành-phố Antium thập-niên 70 BC và vài văn-kiện khác.

Người La-mă cũng bắt đầu ngày vào lúc Mặt Trời lặn. Họ cũng chia ngày thành ba phần không ranh giới rơ-rệt: sáng, trưa, chiều. Kể từ năm 263 BC, họ mới bắt đầu chia ban ngày thành 12 giờ sau khi cướp được một nhật-quy (sundial) người Hy-lạp xây ở Catane, đảo Sicile. Hiển-nhiên nhật-quy làm cho Catane cho giờ sai ở Roma. Một trăm năm sau, họ mới hiệu-chính được. Người ta kể rằng lậu-hồ được chế ra năm 158 BC, và từ đó một sĩ-quan có nhiệm-vụ thông-tri giờ cho dân trong thành-phố vào đầu giờ thứ nhất, và cuối giờ thứ ba, thứ sáu, và thứ chín. Thường nhật dân-sự, đêm được chia thành: chiều tối, giờ đi ngủ, đêm khuya, gà gáy, và b́nh-minh; trong quân-đội, đêm được chia ra làm 4 canh. Năm nguyên-thủy tức năm Romulus gồm 10 tháng, dài 304 ngày; có 4 tháng 31 ngày, là các tháng dài là các tháng 3, 5, quintilis (7) và 10. Các tháng c̣n lại ngắn và chỉ có 30 ngày.

Dưới triều Vua Roma thứ nhất Tarquin và hoặc thứ nh́ Numa Pompilius, hai tháng giêng và hai được thêm vào để năm có 354 ngày như cổ-lịch Hy-lạp vậy. Nhưng v́ các số lẻ làm vừa ḷng các thần-nhân nên họ thêm vào 51 ngày và lập ra hai tháng mới bằng cách mượn một ngày của mỗi tháng ngắn. Tóm lại, các tháng lẻ vẫn có 31 ngày; các tháng kia chỉ c̣n 29 ngày. Tháng giêng mới có 29 ngày, duy tháng 2 mới thua-thiệt đủ đường: vừa ngắn nhất (28 ngày), lại vừa có số ngày chẵn. Các tháng có tên là: Martius (31), Aprilis (29), Maius (31), Junius (29), Quintilis (31), Sextilis (29), Septembris (29), Octobris (31), Novembris (29), Decembris (29), Januaris (29) và Februaris (28).

 

Từ-vựng La-mă

                             Brutus: Is not tomorrow, boy, the ides of March?

                                                                Lucius: I know not, sir.

                             Brutus: Look in the calendar and bring me word.

                          -Shakespeare: Julius Cæsar, Act II, scene i (1623)
 

Chia tháng đă quái-đản, đặt tên ngày lại càng phản-luận-lư. Ngày trăng mới là calendes (Anh-ngữ: Kalends). Nones là ngày 5 hay 7 (thượng-tuần = first quarter), ides  (La-ngữ: iduare = Chia) là 13 hay 15 (Tuần rằm = second quarter, xin xem bảng ngày trong năm bên dưới). Từ nones đến ides có 9 ngày (kể cả nones và ides) do Theo định-nghĩa đó mới danh-xưng nones (ngày thứ 9). Giống như học-tṛ đếm xem c̣n bao nhiêu ngày nữa mới nghỉ hè, người La-mă xưa gọi tên các ngày bằng khoảng cách của chúng đến tận ngày lễ kế. Calendes vừa mới qua người ta đă quy-chiếu vào nones. Sau nones, người ta đếm số ngày trước ides. Sau ides, người ta lại quy-chiếu vào calendes của tháng sau: khi ides nhẳm ngày 13, người ta phải đếm 18 ngày trước calendes. Theo định-nghiă:

                   calends         =  1

                   nones           =  2

                   ides              =  3

Bữa trước ngày lễ được gọi là ngày canh-thức. Ngày trước nữa thay v́ gọi là ngày- thứ-hai-trước lại được gọi là ngày-thứ-ba-trước, với sai-số dây chuyền hằng-định là 1 ngày.

Chẳng hạn như tháng giêng sau cuộc cải lịch Julian có 31 ngày, sẽ có tên như sau:

 1.  Calendes                               17.  XVI trước calendes

 2.  IV trước nones                       18.  XV           « 

 3.  III         «                             19.  XIV          « 

 4.  Ngày trước nones                   20.  XIII          « 

 5.  Nones                                  21.  XII           «

 6.  VIII trước ides                       22.  XI            « 

 7.  VII         «                            23.  X             «

 8.  VI          «                            24.  IX            «

 9.  V           «                            25.  VIII         «

10.  IV         «                            26.  VII          «

11.  III        «                             27.  VI           «

12.  Ngày trước ides                     28.  V            «

13.  Ides                                    29.  IV           «

14.  XIX trước calendes                 30.  III          «

15.  XVIII        «                          31.  Ngày trước calendes của Februaris

 16. XVII         «

Tương-truyền, LCHLM là công-tŕnh của vị Vua thứ nh́ của thành Roma, Numa Pompilius (khoảng 716-673 BC), và người ta tin rằng hai tháng Januaris và Februaris được thêm vào để cho một năm dài 12 tháng. Người ta cũng gợi ư là 12 tháng này gốc từ người Etruscan ở Tuscany: người ta bảo rằng là tên tháng thứ tư, Junius, gốc ở tiếng Etruscan Iunonius liên-quan đến nữ-thần Etruscan Uno (Juno).

Tháng nhuận (mensis intercalaris): Năm 355 ngày này lệch pha rất nhanh với bốn muà; người La-mă cũng như đa-số các chủng-tộc khác, thấy cần phải hiệu-chỉnh bằng tháng nhuần: mỗi hai năm, một tháng 22 ngày mệnh-danh là Mercedonius được thêm vào giữa ngày 23 và 24 Februaris. Sau tháng Mercedonius, lại tiếp-tục với 24 Februaris v.v. Dù tháng Mercedonius kéo dài năm trung-b́nh thành 366 ngày, người La-mă cũng không biết làm sao điều-hoà năm hành-chánh với muà.

Rất lâu, Martius là tháng đầu năm, nhưng nhiều học-giả cho rằng đối với người Etruscan bị trục-xuất khỏi nước Ư từ thế-kỷ thứ tư BC, bao giờ năm cũng bắt đầu bằng Ianuarius bởi v́ tên này dành cho lễ tế Thần Cổng tức Thần nguyên-thủy. Ngày Ianuarius 1 chính-thức thay ngày Martius 1 làm ngày đầu năm kể từ năm 153 BC. Nhưng người b́nh-dân vẫn c̣n nghĩ trong đầu là năm  kết-thúc vào ngày Februaris 23 (Terminalia) bởi v́ tháng nhuận được thêm vào sau ngày này.

Sau nhiều cuộc điều-chỉnh bất thành, rút cuộc, người La-mă giao cho xă-đoàn đại-tế-tư trọng-trách cho tháng nhuận một số ngày thích-hợp. Mỗi tháng các đại-tế-tư quan-sát trăng mới để công-bố ngày đầu tháng. Sau khi xây xong Capitol năm 509 BC, họ công-bố ngày mùng một cũng như ngày nonæ tức "nones", ngày thứ 9 trước idus tức ides, được phát đi từ công-thự này. Ides bao giờ cũng nhằm khoảng giữa tháng, tức gần rằm. Nói đúng hơn nhằm ngày 15 cho các tháng Martius, Maius, Quintilis và Octobris và nhằm ngày 13 cho các tháng c̣n lại. Ngày đầu tháng, ngày công-bố trăng mới và ngày nones được mệnh-danh là calendæ. Ngày thứ nh́ gọi là postridie calendas. Ngày này, ngày nones và ides được coi là ngày xấu, nhất là ngày  postridie calendas. Ngày nones đôi khi được coi là ngày lễ, trong khi vào các  ngày calendas giống vật hi-sinh được dùng để tế-thần Juno, phối-ngẫu của Jupiter, và thần Janus, của các khởi-nguyên; các ngày ides dành riêng cho Jupiter.

LCHLM cũng dùng nundinæ tức thị ngày thứ 9 hay ngày phiên chợ, từ đó sinh ra tuần 8 ngày là thời-khoảng giữa hai phiên chợ. Các tuần 8 ngày độc-lập đối với tháng, không có tên riêng cho từng ngày và không dính dáng ǵ đến các lễ-tiết tôn-giáo ; chúng chỉ là thời-gian từ một phiên chợ này đến phiên chợ kế-tiếp. Trong LCHLM hậu-kỳ có nhiều ngày mang tính cách bói toán và được gọi là ngày Ai-cập (dies Ægyptiaci), nhưng không liên-quan ǵ đến thờ-phụng La-mă. Mặt khác, tháng Martius ràng buộc tôn-giáo với thần Mars và tiết thanh-minh (februa) nhằm vào tháng Februaris. Các lễ-tiết thường nhằm ngày lẻ và nếu lễ kéo dài hơn một ngày, phải có khoảng trống 1 hay 3 ngày giữa hai ngày đó. Tỷ dụ như Lễ Lučaria dài hai ngày sẽ được cử-hành trong hai ngày Quintilis 19 và 21 và lễ Farmentalia trong hai ngày Januaris 11 và 15.

Các ghi chú trên LCHLM c̣n giữ được cho thấy rằng mỗi ngày có kư-hiệu kèm theo cho biết điạ-vị hành-chánh của ngày : F = fas (luật-lệ) dành riêng cho công việc luật-pháp ; N = nefas dành cho các công việc c̣n lại ; C cho comitialis (liên-quan đến comitia tức hội-họp); NP (có thể là nefas feriæ publiæ) có nghĩa là ngày lễ công-cộng có dâng thần - nhân vật hi-sinh. Một ngày có thể kiêm-nhiêm hai công việc : buổi sáng là N, buổi chiều là F.

Lạm-dụng quyền-hành có được, xă-đoàn đại-tế-tư dần-dà hối-mại quyền-thế và gian-lận. Cicero và Suetone tường-tŕnh là các đại-tế-tư kéo dài hoặc thu ngắn một năm tùy theo họ muốn ưu-đăi các chấp-chính-quan và thẩm-phán-quan đương-nhiệm hay các người sẽ kế-vị, tuỳ theo họ là bạn hay thù.  Các phiên toà hay các kỳ-hạn tá-điền trả nợ bị xáo-trộn làm nhiều người hoặc giầu to hoặc khánh-tận gia-sản, các lễ-tiết nhằm vào ngày trái khoáy. Nhân-dân bất-măn. Ai ai cũng thấy là đă đến lúc phải cải lịch.

 

LỊCH JULIAN

(THE JULIAN CALENDAR)

                                                 

Cæsar set out the problem before the best philosophers

         and mathematicians and, from the methods available, he

                concocted his own correction that was more precise.

                                           -Plutarch: Life of Cæsar (75 AD)

Kể từ năm 46 BC, LCHLM lệch pha trầm-trọng với bốn muà: xuân-phân của lịch chệch ba tháng với xuân-phân thiên-văn. Lịch không c̣n liên-kết chặt-chẽ với muà nữa: Đông đă trôi ngược về Thu và Thu đă trôi ngược về Hạ. Với cố-vấn là thiên-văn-gia Sosigenes của Thành Alexandria, Julius Cæsar bắt đầu cải lịch bằng cách không những xen 23 ngày cố-hữu mà  c̣n bồi thêm 67 ngày nữa giữa hai tháng Novembris và Decembris làm cho đương-niên dài 445 ngày. Làm như thế, năm hành-chánh và năm thiên-văn đồng pha trở lại và tân-lịch không c̣n vấp phải lỗi lầm của cựu-lịch nữa.

Để duy-tŕ tính trường-cửu của tân-lịch, Cæsar nghiệm thấy rằng cần loại bỏ hẳn lệch pha của cựu-lịch. V́ vậy cần độc-tài: do lời bàn của Sosigenes, ông tuyên-bố bỏ âm-lịch và thay bằng dương-lịch với một năm dài

 

1

 

365

 

ngày.

__________

 

4

 

đúng theo tín-kiện thiên-văn của Sosigenes. V́ lẽ dư ¼ ngày, nên tân-lịch sẽ theo chu-kỳ 4 năm: 3 năm đầu đều 365 ngày, năm thứ tư mới có 366 ngày. Tân-lịch được ban-hành năm 45 BC, 708 năm sau năm thiết-lập thành Roma, và bắt đầu bằng ngày Januaris 1.

Tương-truyền là trong cuộc cải lịch, Julius Cæsar hạ lệnh cho các tháng lẻ (Januaris, Martius, Maius, Quintilis, Septembris và Novembris dài 31 ngày; Aprilis, Junius, Sextilis, Octobris và Decembris 30 ngày; Februaris 28 ngày năm thường, hay 29 ngày mỗi năm thứ tư. Tuy nhiên, không thấy có bằng-cứ xưa hay nay nào cả và nhà văn-phạm-học Ambrosius Theodosius Macrobius (thế-kỷ thứ 4, thứ 5 AD), trong tác-phẩm Saturnalia lại c̣n phản-bác thuyết này. Năm 44 BC tháng Quintilis được đổi tên thành Julius mensius hay Julius gọn lỏn, để kỷ-niệm cuộc cải lịch của Julius Cæsar.

Năm 8 BC, Hoàng-đế Augustus sửa lại Lịch Julian v́ có sai lệch trong việc thêm ngày trong 38 năm qua. Ông hiệu-chính lại cách đếm ngày và hạ lệnh bỏ năm nhuận trong 12 năm. Măi đến năm 5 AD trật-tự tân-lịch mới được phục-hồi. Trong thời khoảng 50 năm trước đó, các sử-kiện phong-phú và hệ-trọng đă sai về cả ngày-tháng, lễ-lạc lẫn ngày trong tuần một cách rắc-rối: người ta mệnh danh 50 năm này là năm julian sai lạc. Một bảng hiệu chính đă được lập thành.

Tương truyền rằng Augustus thêm ngày cho tháng Sextilis và cho tháng này mang tên ḿnh. Các học-giả thế-kỷ 19 không t́m ra được chứng-cớ cụ-thể nào. Macrobius lại cho biết là chính hai chấp-chính-quan Asinius Gallus và Marcius Censorinus mới là tác-giả việc đổi tên tháng này. Dường như việc đổi tên tháng theo tên Hoàng-đế đương-triều vẫn c̣n tiếp-tục, v́ Macrobius và vài tác-giả khác tường-thuật là Caligula đổi tên tháng Septembris thành Germanicus là tên Vua Cha và Domitian xuống chiếu đổi tên tháng Octobris thành tên ḿnh. Hai chiếu đổi tên tháng bị huỷ bỏ ngay sau khi hai Hoàng-đế này băng-hà. Rút cuộc, các tên tháng cũ được giữ nguyên vẹn, ngoại trừ hai tháng Julius và Augustus.

Theo chiếu của Julius Cæsar, ngày nhuận mỗi 4 năm được thêm vào Februaris là tháng ngắn nhất, giữa hai ngày 23 và 24, tức thị ngày thứ 6 trước Calendas Martias (mùng 1 tháng 3). Việc xen ngày này làm cho bất kỳ lễ-tiết cố-định nào sau tháng Februaris cũng có ngày trong tuần lệch chậm 1 ngày.   Thành thử ra ngày nhuận làm Feb. 23 xẩy ra hai lần: bis-sexto
calendas martias (hai ngày thứ 6 trước calendas tháng martias) dẫn đến tĩnh-từ bissextile cho năm nhuận. Trong sách vở, ngày nhuận được gọi là: bis-sextus (ante) calendas martias.


. Từ ghép Anh-ngữ "leap year" lấy từ Old Norse hlaupar, dù đôi khi tiếng ghép bissextile vẫn c̣n được dùng. Trong Pháp-ngữ chỉ có h́nh-dung-từ bissextile mà thôi. C̣n danh-từ bissexte để chỉ ngày nhuận rất ít ai dùng.

 

                      Đặt:                kalends = 1

nones = 2

ides = 3

    nones - of - month(month) = ides of - month(month) - 8

Ngày-tháng nhằm kalends, nones hoặc ides sẽ được gọi tên y-chuẩn. Vd: March 15 sẽ được gọi là "ides of March" trong khi January 1 và 5 lần lượt là Kalends and nones of January. Ngày trước hai ngày kalends và nones được mệnh-danh là pridie (la-ngữ của ngày trước); chẳng hạn, July 4, ngày trước nones of July, la-ngữ là pridie Nonæ Quintilis. Mọi ngày không phải là kalends, nones, hoặc ides, hoặc các ngày ngay trước các ngày này sẽ được mô-tả bằng số ngày (kể cả = inclusive) next upcoming event: tên la-ngữ của October 30 là ante diem III Calendæ novembris, 3 ngày (kể cả) trước Calendæ của November (Anh-ngữ nói là "2 days before the first of November), nhưng la-ngữ nói như vậy đó.

Năm nhuận, februarius thêm một ngày xen vào hai ngày 24 và 25. Bởi v́ februarius 24 là ante diem VI Calendæ Martias, ngày nhuận sẽ là ante diem bis VI (đọc là bis sextum) Calendæ Martias. Nên chi ngày nhuận Anh-ngữ sẽ nói là bissextus và tĩnh-tự sẽ là bissextile.

Ngoài ra, người ta quyết-định từ đấy trở đi, ngày xuân-phân sẽ cố-định là ngày Martius 25. Để điểu-chỉnh xáo trộn trên, người ta cho năm thành-lập thành-phố Roma (753 BC) dài 455 ngày: các tác-gia La-mă gọi các năm ấy là "các năm lộn-xộn". Nhưng mà người La-mă cho lịch-nguyên bắt đầu ngày April 21. Năm 1 AD ứng với năm Roma 753 trong non 4 tháng, và với Roma 754 cho những ngày c̣n lại. Để tiện việc tính toán người ta cho năm 1 AD ứng với năm Roma 754.
.

Sau đây là bảng tên la-ngữ viết tắt của tất cả các ngày trong năm:

 

 

 

 

Ngày

 

Januarius

Augustus

December

 

 

Februaris

(thường)

 

 

Februaris

(nhuận)

Martius

Maius

Quintilis

Octobris

Aprilis

Junius

Septembris

Novembris

1

Calendæ

Calendæ

Calendæ

Calendæ

Calendæ

2

a.d. iv Non.

a.d. iv Non.

a.d. iv Non.

a.d. vi Non.

a.d. iv Non.

3

a.d. iii Non.

a.d. iii Non.

a.d. iii Non.

a.d. v Non.

a.d. iii Non.

4

Pridie Non.

Pridie Non.

Pridie Non.

a.d. iv Non.

Pridie Non.

5

Nonæ

Nonæ

Nonæ

a.d. iii Non.

Nonæ

6

a.d. viii Id.

a.d. viii Id.

a.d. viii Id.

Pridie Non.

a.d. viii Id.

7

a.d. vii Id.

a.d. vii Id.

a.d. vii Id.

Nonæ

a.d. vii Id.

8

a.d. vi Id.

a.d. vi Id.

a.d. vi Id.

a.d. viii Id.

a.d. vi Id.

9

a.d. v Id.

a.d. v Id.

a.d. v Id.

a.d. vii Id.

a.d. v Id.

10

a.d. iv Id.

a.d. iv Id.

a.d. iv Id.

a.d. vi Id.

a.d. iv Id.

11

a.d. iii Id.

a.d. iii Id.

a.d. iii Id.

a.d. v Id.

a.d. iii Id.

12

Pridie Id.

Pridie Id.

Pridie Id.

a.d. iv Id.

Pridie Id.

13

Idus

Idus

Idus

a.d. iii Id.

Idus

14

a.d. xix Cal.

a.d. xvi Cal.

a.d. xvi Cal.

Pridie Id.

a.d. xviii Cal.

15

a.d. xviii Cal.

a.d. xv Cal.

a.d. xv Cal.

Idus

a.d. xvii Cal.

16

a.d. xvii Cal.

a.d. xiv Cal.

a.d. xiv Cal.

a.d. xvii Cal.

a.d. xvi Cal.

17

a.d. xvi Cal.

a.d. xiii Cal.

a.d. xiii Cal.

a.d. xvi Cal.

a.d. xv Cal.

18

a.d. xv Cal.

a.d. xii Cal.

a.d. xii Cal.

a.d. xv Cal.

a.d. xiv Cal.

19

a.d. xiv Cal.

a.d. xi Cal.

a.d. xi Cal.

a.d. xiv Cal.

a.d. xiii Cal.

20

a.d. xiii Cal.

a.d. x Cal.

a.d. x Cal.

a.d. xiii Cal.

a.d. xii Cal.

21

a.d. xii Cal.

a.d. ix Cal.

a.d. ix Cal.

a.d. xii Cal.

a.d. xi Cal.

22

a.d. xi Cal.

a.d. viii Cal.

a.d. viii Cal.

a.d. xi Cal.

a.d. x Cal.

23

a.d. x Cal.

a.d. vii Cal.

a.d. vii Cal.

a.d. x Cal.

a.d. ix Cal.

24

a.d. ix Cal.

a.d. vi Cal.

a.d. vi Cal.

a.d. ix Cal.

a.d. viii Cal.

25

a.d. viii Cal.

a.d. v Cal.

a.d. bis vi

Cal.

a.d. viii Cal.

a.d. vii Cal.

26

a.d. vii Cal.

a.d. iv Cal.

a.d. v Cal.

a.d. vii Cal.

a.d. vi Cal.

27

a.d. vi Cal.

a.d. iii Cal.

a.d. iv Cal.

a.d. vi Cal.

a.d. v Cal.

28

a.d. v Cal.

pridie Cal.

a.d. iii Cal.

a.d. v Cal.

a.d. iv Cal.

29

a.d. iv Cal.

 

pridie Cal.

a.d. iv Cal.

a.d. iii Cal.

30

a.d. iii Cal.

 

 

a.d. iii Cal.

pridie Cal.

31

pridie Cal.

 

 

pridie Cal.

 

Một ngày trong một tháng được biểu-diễn bằng một danh-sách gồm có năm, tháng, số đếm cho tới (inclusive) một sự việc, một Boolean đúng/sai cho năm nhuận:

     

Do đó muốn đổi một ngày-tháng cố-định sang dạng Roman ta phải đổi ngày-tháng cố-định này sang năm-tháng-ngày Julian rồi xác-định event tới. Nếu tháng February nhuận, ta phải xét riêng biệt trường-hợp này (Xem 3D, tr. 68-70): nếu event sắp tới là một kalends, đó là kalends của tháng tới  chứ không phải kalends của tháng này; thành thử ra, ngày-tháng theo sau ides của một tháng mang tên tháng tới, và sau ides của tháng December, ngày-tháng mang tên của ngày tháng sang năm!

Lịch Julian cho một năm dài 365.25 ngày trong khi tuế-thực chỉ là 365.2422 ngày. Thừa mất 0.0048 ngày hay 11 ph 14 s mỗi năm. Trong một thế-kỷ Julian sai 0.78 ngày. Trong 130 năm mới sai hơn 1 ngày. Sau bốn thế-kỷ sai mất 3 ngày, nghiă là lịch Julian chậm hơn muà 3 ngày. Đời người ba vạn sáu ngàn ngày, ba ngày có là bao.  Trong t́nh huống này GS Vật-lư Bouasse thân-yêu của chúng ta sẽ nói: ô Zeus secourable, où seront alors nos vertèbres ?

Tuy nhiên, một lịch-thư tốt phải làm căn-cơ cho lịch-sử. Không chóng th́ chầy lịch Julian sẽ lệch pha với bốn muà, và sẽ bị lịch Giáo-hội rồi Lịch Gregorian thay thế là chuyện tất nhiên.

 

 

   

 

    Xem tiếp Kỳ 30

 

  

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com