www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

3    |    4   |   5 

6   |    7   |   8

    9   |   10  |   11  

 12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

 18  |   19  |   20 

21  |   22 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 03 - 18

 

THIÊN-VĂN LỊCH TOÁN

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 25)

 

VI  CÁC THỨ LỊCH KHÁC

 

 LỊCH TƯỢNG 

 

CHỦ-ĐÍCH CỦA THIÊN QUAN THƯ

 

Dịch nói: "Dịch lấy trời đất làm chuẩn nên sửa-sang được Đạo của trời đất. Ngửa lên để xem văn trời (Thiên-văn), cúi xuống để xét lẽ đất (Điạ-lư), nên biết căn-nguyên tối sáng, suy ra lẽ nhân-quả, biết được thuyết sống chết, có tinh-khí là vật, có hồn phảng-phất là biến, nên biết được t́nh-trạng của quỷ-thần" (Hệ-từ Thượng-truyện IV/1,2).

 

Đối với người Á-đông ta xưa một công-dụng của Thiên-văn là xem tướng trời mây, tinh-tú để lo việc dân, việc nước; c̣n Điạ-lư là xem tướng, bắt mạch đất để liệu việc mai-hậu cho con cháu. Tinh ở đây là ngũ-tinh và vài sao sáng khác Thiên-lang-tinh (Sirius), Đại-giác (Arcturus) v.v. Tinh cũng có thể là sao chổi, sao giả-định hay bất -định kiểu Quốc-hoàng, Chiêu-minh, Tư-nguy, Ngũ-tàn, Thiên-cổ, Thiên-cẩu ... C̣n tú dĩ nhiên là nhị-thập bát-tú.

 

Cổ-thiên-văn Trung-quốc là một nghệ-thuật đă thất-truyền từ lâu rồi. Ở bên Tầu có Khổng-minh, Viên Thiên Cương, Lưu Bá-ôn v.v. đều là những nhà tinh-thông Thiên-văn cả. Ở nước Nam ta cũng có Hưng-Đạo Đại-Vương là người đă mô-tả bí-thuật này trong chương "Thiên Tượng" ở đầu sách Binh-thư Yếu-lược cuả Ngài. Rất tiếc là dịch-giả Hà-nội Nguyễn Ngọc Tỉnh đă cho đây là mê-tín dị-đoan nên kiểm-duyệt bỏ, chỉ giữ lại có mỗi một đoạn thêm vào sau này trích từ sách Vũ-bị Chế-thắng Chí cuả Mao Nguyên Nghi đời Minh! Thiên-tượng là đại-tập (superset) bất khả tư-ngh́ cuả lịch-tượng. Nói khác đi, lịch-tượng chỉ là một tiểu-tập, một "mai cốt cách" cuả Thiên-tượng mà "tuyết tinh-thần" chính là Dịch-tượng đề-cập trong CHƯƠNG 06.

 

 

Quầng, Tán của đôi vầng nhật-nguyệt

 

Tán Trăng năng thấy hơn tán Mặt Trời  nên mới được dùng làm tín-hiệu khí-tượng canh-nông; ngược lại, tán Mặt Trời hiếm hơn tán Trăng nên thời cổ mới được dùng làm điềm trời. Người dân quê ta có ngạn-ngữ "Quầng hạn, tán mưa". Người Việt ta thường lẫn lộn nghiă hai tiếng đơn này, huống hồ là các học-giả tây-phương. Trong Sử-kư, Thái-sử-công chỉ dùng chung một chữ vựng cho cả quầng lẫn tán.

 

Quầng (corona) là hiện-tượng quang-học xẩy ra khi một mây cao-tằng (altostratus) tức một làn mây mỏng và cao, hạt nhỏ, che Mặt Trời gây nên nhiễu xạ (diffraction) trong các hạt mây, khi áp-suất khí-quyển cao. Quầng thường tím ngoài, đỏ trong.

 

C̣n tán (halo) là hiện-tượng quang-học gây ra bởi khúc-xạ (refraction) ánh sáng Mặt Trời qua các hạt mây lớn của mây quyển-tằng (cirrostratus). Các hạt mây này thường là nước đá. Điă của tán thường rất sáng, mầu xanh dương, thường ngả sang mầu vàng trắng bệch ở chu-vi với viền nâu. Đôi khi bên ngoài điă tán c̣n có những vành mầu rất nhạt khi kích-thước hạt mây tương-đối đều-đặn (3BT, tr. 137).

 

Quầng không giúp ích ǵ cho việc phân-biệt mây cao-tằng với mây quyển-tằng. Tuy nhiên ta có thể đoan-quyết rằng lúc nào có tán quanh Mặt Trời, đích thị đó là mây quyển-tằng rồi, nhất-định không phải là mây cao-tằng.

Một cách khác để phân-biệt hai loại mây là cúi nh́n xuống mặt đất: v́ mây quyển-tằng ở cao hơn mây cao-tằng, nên khi Mặt Trời chiếu qua nó sẽ để trên mặt đất bóng người rất rơ, trong khi mây cao-tằng không in bóng người như với Peter Pan vậy.

 

Xin xem bài đọc thêm, kỳ 25 (IV. Pronostics tirés du soleil)

Mặt Trời đương có tán khi hai đạo-binh xáp-chiến, nếu tán vừa vừa hai bên ngang sức, nếu dầy, dài và rộng th́ có chiến-thắng, nếu mỏng, ngắn và nhỏ ắt bất-phân thắng-phụ. Nếu có tán kép ắt đại-bại. Nếu chỉ có tán đơn ắt hoà-hợp. Nếu tán song hành với Mặt Trời ắt có bất-hoà và chia rẽ. Nếu trải dài ra ắt có vương-hầu tiếm-quyền.

 

Nếu có quầng là Đại-tướng-quân trận-vong (trường-hợp Đại-tướng Lư Quảng-Lợi ở bài kỳ 25). Nếu lộn ngược, ắt có đại-khánh. Nếu vành tṛn giữa trời, ắt Trung-nguyên sẽ thắng; nếu vành tṛn chệch ra dià ắt di-địch sẽ thắng.

Nếu là tán (xanh dương mé ngoài và đỏ bên trong) ắt có chia-ly ôn-hoà. Nếu là quầng (đỏ ngoài, xanh dương chính giữa) là phân-ly trong hận-thù.

Nếu tán vẩn đục tan đi rồi hiện trở lại, là đạo binh có triển-vọng ca khúc khải-hoàn.

Nếu xuất-hiện sớm mà tan đi sớm là điềm tiền cát, hậu hung.

Nếu xuất-hiện muộn mà tan đi muộn là điềm tiền hung, hậu cát.

Nếu xuất-hiện muộn mà tan đi sớm là b́nh-hoà.

Nếu xuất-hiện và tan-biến đều nhanh là chiến-thắng không vẻ-vang.

Nếu thấy được cả nửa ngày là vinh-quang. Nếu có viền trắng với điểm sáng ở chóp và đáy là có đổ máu dữ-dội trong vùng sở-quan.

Tán Mặt Trời báo hiệu chiến-thắng trong ṿng từ 30 đến 60 ngày.

Người đoán phải để ư đến vị-trí trên ṿm trời của tán cũng như tiết-khí lúc quan-sát để định phận nước tương-ứng dưới đất.

 

Bài Đọc Thêm II

 
Lịch Thái-sơ

 
 

Trong phần Lịch Tầu chúng ta đă duyệt qua tất cả các thứ lịch được dùng bên Tầu từ đời Đế Nghiêu cho đến đời Thanh cũng như làm quen với các thông-số và hằng-số của lịch-pháp Trung-quốc (Xin xem lại Bài Kỳ 10, Chương 03/6). Ở đây xin lại nói đến Lịch Thái-sơ v́ tác-đông trên lịch-sử cuả lịch này.Ta biết rằng các đời trước Lịch Chuyên-Húc đươc dủng cho đến Đời Tần, nhưng chưa xứng-đáng với danh-xưng lịch-thư v́ các đo-lường thiên-văn chưa đúng mức.

Có hai chu-kỳ thường được dùng trong sử-học là chu-kỳ Meton quen thuộc liên-quan đến tuế-thực và sóc-thực và chu-kỳ Saros liên-quan tới giao-thực tức nhật-thực và nguyệt-thực.

Lịch Thái-sơ là kết-quả của cuộc cải lịch đầu tiên năm Thái-sơ nguyên-niên (104 BC) với

 

385

 

tuế-chu = 

365

 

ngày

_____________________________________

 

1540

 

Lưu-Hướng và con ông là Lưu-Hâm chế ra Lịch Tam-thống trong khoảng từ  32 BC đến 5 AD với

 

385

 

tuế-chu = 

365

 

ngày

_____________________________________

 

1539

 

miễn sao áp-dụng Dịch triệt-để c̣n lịch-pháp có đúng hay không là chuyện phụ.

Trong bài "Beiträge zur Astronomie der Hanzeit II", Chương 3 (1D, tr. 156-178), GS Eberhard đặt câu hỏi: "Phải chăng Lưu-Hâm đă mạo sửa Kinh Xuân Thu?". Câu trả lời là có sửa sang sử-kiện. Cho nên khi lấy tín-kiện từ Kinh Xuân Thu ta phải thận-trọng.

Sử-gia  đôi khi cũng là một nhà thám-tử mà người đọc sử có lúc cũng trở thành một thám-tử tư (PI). Trong Việt-sử Tân-biên (1960), Sử-gia Phạm-văn Sơn đă vụng về chứng-minh là bài sấm của Sư Vạn-Hạnh là một bài sấm giả. Tôi đă phản-bác lập-luận này bằng chiết-tự nghiêm chỉnh câu "Chấn cung xuất nhật 震宮出日": Cung Chấn ' là phương đông thuộc mộc là cỏ cây tức chữ măng ; măt trời mọc là chữ nhật + thăng ở dưới đáy chữ măng; ba chữ họp lại thành chữ mạc là nhà Mạc. Ở đây tôi muốn lật lại một nghi-vấn lịch-sử mà nhiều sử-gia đă bỏ qua và nhiều sử-gia khác chưa truy-cứu đến nơi đến chốn: đó vấn-đề Thời-kỳ Xuân Thu kết-thúc năm nào?482 BC hay đúng hơn 481 BC? Tôi đă rơi vào một ṿng luẩn-quẩn của Điện-toán (infinite loop): một câu hỏi dây mơ rễ mái với một câu hỏi khác cho đến vô-cùng, vô-tận.

Theo Hậu-Hán-thư (2K, Quyển 12, 5b) thời khoảng từ năm gốc Thất-diệu Tề-nguyên đến năm bắt được kỳ-lân đánh dấu kết-thúc Thời-kỳ Xuân Thu là 2,760,000 năm.

Xin nhắc lại là sóc-thực = 29.530589 ngày = 29 ng 12 gi 44 ph.

Chú-thích: Chu-kỳ giao-thực Saros do chữ "sar" của tiếng Babylonian có nghiă là một kỷ 3600 năm. Tiếng Saros chưa hề được dùng để chỉ chu-kỳ giao-thực cho đến năm 1691 khi thiên-văn-gia Anh-quốc Edmund Halley dùng nó lần đầu tiên. Theo R. H. van Gent, Halley lấy tiếng này từ một từ-vựng Byzantine thế-kỷ thứ 11, trong đó học-giả Suidas nhầm lẫn gán tên Saros cho một chu-kỳ giao-thực 223 tháng cuả Babylon chưa có tên, xuất-hiện trong tác-phẩm cuả Pliny the Elder (Naturalis Historia II.10[56]).

Chu-kỳ Saros bằng 223 sóc-thực và cũng bằng 239 chuyển-cận-điạ giác-thực (Anomalistic months) tức chu-kỳ giữa hai lần liên-tiếp đi qua điểm cận-điạ (perigee) và 242 chuyển-La-Kế giác thực (Draconic months) tức chu-kỳ giữa hai lần liên-tiếp đi qua cùng một nút lên hay xuống (xê-xích vài giờ)!  

Ta có:

223 sóc-thực = 6585.3223 ngày = 6585 ng 07 gi 43 ph 03 sao         
239 chuyển-cận-điạ giác-thực = 6585.5375 ngày = 6585 ng 12 gi 54 ph
242 chuyển La-hầu/Kế-đô giác thực = 6585 ng08 gi 35 ph

Thông thường là: 18 năm + 10 hay 11 ng + 0.3223 ngày tùy theo trong thời-khoảng sở-quan có 4 hay 5 năm nhuận. Chẳng hạn, lấy giao-thực (eclipse) ngày 11.08.1999. Trước đó có giao-thực tương-tự ngày 31.7. 1981, và sau đó có giao-thực tương-tự ngày 21.8. 2017. Khuyết-khẩu (gap) dẫy Saros đầu có 4 năm nhuận (1984, 1988, 1992, 1996) nên xẩy ra trong năm sở-quan sớm hơn 11 ngày trong khi Khuyết-khẩu dẫy Saros thứ nh́ có 5 năm nhuận (2000, 2004, 2008, 2012, 2016) nên giao-thực kế sẽ xẩy ra 10 ngày muộn hơn (Kiểm!).

Bất kỳ 2 giao-thực nào cách nhau một Saros cũng có một h́nh-học tương-tự. Chúng xẩy ra tại cùng một nút (lên hay xuống) của Trăng và nút này cách Điạ-cầu cùng một khoảng cách và ở cùng thời-gian trong năm. Bởi v́ Saros có lẻ mấy giờ, nên bất tiện ở chỗ là các giao-thực kế-tiếp sẽ xẩy ra tại một điạ-phương khác. 1/3 ngày dôi ra có nghiă là Trái Đất phải xoay thêm ~8 giờ nữa tức ~ 1200 mỗi chu-kỳ. Với nhật-thực, thực-quỹ-đạo xoay ~ 1200 về phiá tây.  Vậy một dẫy Saros sẽ trở lại cùng vùng trên mặt điạ-cầu sau 3 Saros tức thị 54 năm 34 ngày. Chuyện này c̣n rắc-rối lắm.

Lịch-thư thời cổ thường nhắc đến ba thông-số:

Tuế-số Na = 513 = 33 x 19: trong Nb = 135 tháng có Nc = 23 nguyệt-thực, nghiă là có nguyệt-thực mỗi

 

20

 

5

 

tháng

_____________________________________

 

23

 

Một năm âm-lịch có

235

 

 

tháng

_____________________________________

19

 

55

1081

 

2

 

 = 

 

nguyệt thực

_____________________________________

_____________________________________

113

513

 

Hơn nữa, 513 là bội-số chung nhỏ nhất của tuế-thực, sóc-thực và thực-suất (chu-kỳ của nguyệt-thực). Nói khác đi 513 năm = 27x19 là 27 chương-nguyệt. Lấy Thất-diệu Tề nguyên là năm gốc th́ năm kết-thúc Thời-kỳ Xuân Thu là năm 2,760,000. Kinh Xuân Thu chấm dứt vào năm người coi xe là Tử-Sừ-Thương, gia-thần họ Thúc-tôn, bắt được kỳ-lân ở đồng Đại-dă, vào năm thứ 14 đời vua Lỗ-Ai-công. Sử-kư cũng kết-luận in hệt. Xin so-sánh tín-kiện của hai sử-thư:

                 Cột  A.  Kỳ-lân Kinh Xuân Thu              Cột B. Kỳ-lân Sử-kư

2,760,000 = a:     5,380 x 513 (Na) + 60    a:     5,380 x 513 ( Na) + 7 x 60   

                 b:   20,440 x 135 (Nb) + 60   b:  20,447 x 135 (Nb)  + 15 (=

60

 

 

)

_____________________________________

4

 

                   c:  120,000 x  23(Nc)   + 60   c: 120,015 x   23 (Nc)  + 15 (=

60

 

 

)

_____________________________________

4

 

Ta nhận thấy rằng trong cả 2 cột A và B, các sử-gia Tả Khưu Minh (Lưu Hâm của thời Hậu-Hán đă nhuận-sắc Kinh Xuân thu vả cải Lịch Thái-sơ thành Lịch Tam-thống) và Tư-mă Thiên đă cho năm cuối Thời-kỳ Xuân Thu, một tầm quan-trọng Thiên-văn. Na, Nb và Nc đều dẫn đến chu-kỳ nguyệt-thực. Nc thấy rơ nhất. Ta thấy có một liên-hệ số-học giữa năm bắt được kỳ-lân với chu-kỳ nguyệt-thực trong cột A. Cột B cũng vậy nhưng kém hơn tại v́ năm cải lịch 104 BC (rất quan-trọng đối với lịch Thái-sơ và lịch Tam-thống) phải điều hoà  với chu-kỳ. Tuy nhiên,  điều sau đây quan-hệ: liên-ư kỳ-lânChu-kỳ nguyệt-thực phải có từ thời lịch Thái-sơ, có nghiă là điều đó chỉ mới có từ thời Hậu-Hán.

Để t́m sử-thực nhiều câu hỏi đươc đặt ra. Phải chăng Đức Khổng-tử đă liên-kết việc bắt được kỳ-lân với chu-kỳ nguyệt-thực mà ngưng Kinh Xuân Thu vào năm thứ 14 đời vua Lỗ-Ai-công. Sau này Sử Thiên cũng lập lại y hệt. Hoặc giả Sử Thiên thấy liên-kết nên mới du-di lịch-pháp cho có được trùng-phùng ấy. Hoặc giả các người đời sau sửa chữa Sử-kư? Hay là con thú bắt được cuối thời-kỳ Xuân Thu có đúng là kỳ-lân không? Hay là con kỳ lân bắt được có đúng vào cuối thời-kỳ Xuân Thu không? Có nhiều điều chép trong Kinh Xuân Thu rất khả nghi! Tỷ như thời-kỳ này có đúng 12 ông Vua cho phù-hợp với 12 cung đia-bàn và 12 tháng của Nhà Vua, 2x10 nhật-thực. Hán-thư cũng đáng nghi tương-tự: cũng có 12 ông Vua chính-thống; có 2x12 vụ hạn-hán; có 3x12 nhật-thực; có 3x12 Vương-tử bị ám-sát; có thể chia thành ba thời-kỳ, mỗi thời-kỳ dài 9x9 năm với sai-số một năm. Sách có đúng 10x10 chương.

 

CHAPITRE XXVI

Quatrième Traité : Le calendrier T'ai-ch'u

p.320 Autrefois, si l’on part de ce qui existait dans l’antiquité, [ (101) le principe institué par le calendrier était celui du com­mencement du printemps (102). En ce temps, la glace fond ; p.321 les animaux hibernants se mettent en mouvement ; les cent sortes de plantes s’élancent et prospèrent ; (l’oi­seau) tse‑koei (103) crie le premier. Les êtres accomplissent entièrement leur destinée dans l’année ; ils naissent à l’est (104) ; ils se conforment successivement aux quatre sai­sons ; ils périssent à la saison d’hiver qui marque la sé­paration (105). — Lorsque le coq a chanté trois fois, c’est le jour (106) ; on parcourt les douze divisions pour finir à tch’eou Sửu(107). — Le soleil et la lune existent et c’est pour­quoi il y a la clarté (108). La clarté, c’est le commencement ; p.322 l’obscurité, c’est la jeunesse (109) ; l’obscurité et la clarté, c’est (l’élément) femelle et (l’élément) mâle. (L’élément) femelle et l’élément mâle prédominent tour à tour et se conforment à la totalité du principe parfait (110). Le soleil s’en va vers l’ouest et élève sa clarté du côté de l’est ; la lune s’en va vers l’est et élève sa clarté du côté de l’ouest. — Lorsque le principe (du calendrier) ne se guide pas sur le Ciel et qu’en outre il n’émane pas de l’homme (111), alors toutes choses tournent à leur perte et la réussite est difficile. — ] Lorsque les rois changent de nom de famille et reçoivent le mandat (céleste) (112),  il leur faut examiner avec soin comment ils institueront le commencement, comment ils changeront le premier jour du premier mois, comment ils modifieront la cou­leur des vêtements, comment ils feront évoluer l’ori­gine (qui vient) du Ciel fondamental et comment ils re­cevront sa pensée pour s’y conformer (113).

Le duc grand astrologue dit : Avant Chen‑nong Thần-nông, c’est la haute antiquité (114). Mais Hoang ti Hoàng-đế examina et détermina p.323 les étoiles et le calendrier (115) ; il institua et établit les cinq éléments ; il mit en mouvement la mort et la naissance (116) ; il rendit corrects les intercalations et les restes (117). Alors il y eut les fonctionnaires préposés au Ciel et à la Terre, aux dieux du Ciel et de la Terre, et aux divers classes d’êtres, ce fut ce qu’on appela les cinq (classes de) fonctionnaires (118). Tous observaient leurs rangs respec­tifs et ne se troublaient pas les uns les autres. Par là, le peuple put être fidèle à son devoir ; par là, les dieux purent avoir une vertu évidente ; le peuple et les dieux eurent chacun une tâche distincte ; ils s’en acquittèrent avec soin et ne furent pas négligents ; c’est pourquoi les dieux faisaient descendre (sur terre) d’excellentes mois­sons ; le peuple jouissait de l’abondance ; les calamités p.324 et les fléaux ne se produisaient pas ; ce qu’on deman­dait ne faisait pas défaut.

Lors de la décadence (qui marqua le règne) de Chao­-hao Thiếu-hạo (119), les neuf Li (120) Cửu-Lê bouleversèrent la vertu ; le peuple et les dieux se confondirent et se firent du tort ; il fut im­possible de se conformer aux êtres (121). Les fléaux et les calamités survinrent en foule ; nul ne put atteindre jus­qu’au bout de sa destinée.

Tchoan‑hiu Chuyên-Húc reçut (la succession de Chao‑hao) ; il or­donna au directeur du sud, Tchong Trọng, de s’occuper du ciel et d’avoir ainsi sous son administration les dieux ; il ordonna au directeur du feu, Li (122), de s’occuper de la p.325 terre et d’avoir ainsi sous son administration le peuple. Il fit que (les dieux et le peuple) observèrent de nou­veau l’ancienne règle, n’empiétèrent plus les uns sur les autres et ne furent plus négligents (123).

Dans la suite, les trois Miao Tam-Miêu (124) imitèrent la rébellion des neuf Li. C’est pourquoi les deux fonctionnaires manquèrent à leurs devoirs et les intercalations et les restes (125) violèrent l’ordre de succession. Le premier (mois) Tseou Mạnh-tưu fut aboli ; (la constellation) Cho‑t’i Nhiếp-đề ne servit plus de règle ; les nombres du calendrier perdirent leur ordre.

Yao Nghiêu réintégra dans leur dignité les descendants de Tchong et de Li ; ceux qui n’avaient point oublié les an­ciens principes, il les chargea derechef de les mettre en vigueur ; il institua donc les charges de Hi Hi et de Ho Hoà (126) ; il rendit claires les saisons et rectifia les mesures ; alors le yn âm et le yang dương furent en harmonie ; le vent et la pluie p.326 furent bien réglés ; l’abondance et les bonnes influences survinrent ; le peuple ne souffrit plus de morts préma­turées ni de maladies. (Yao) étant devenu vieux céda (l’empire) à Choen Thuấn et lui donna cet avertissement (dans le temple de) Wen‑tsou Văn-tổ (127) : « Les nombres du calendrier du ciel vous sont confiés. » Choen à son tour remit le décret (céleste) à Yu Vũ.

Par là on voit ce qui était tenu pour important par ­ceux qui furent rois.

Le principe des Hia Hạ fut le premier mois ; celui des Yn Ân fut le douzième mois ; celui des Tcheou Chu fut le onzième mois (128). Ainsi les principes des trois dynasties furent comme un cycle qui, une fois terminé, revient à son point de départ. Lorsque l’empire était dans la droite voie, on ne perdait point la règle ni l’ordre de succes­sion ; lorsqu’il n’était pas dans la droite voie, le premier mois et le premier jour du mois n’étaient pas observés par les seigneurs.

Après (les rois) Yeou U et Li Lệ (129), la maison des Tcheou se pervertit ; ceux qui étaient doublement sujets exercèrent le gouvernement ; les astrologues ne tinrent plus le compte des saisons, les princes ne déclarèrent plus le premier jour du mois (130). C’est pourquoi les descendants des hommes dont la fonction était héréditaire (131) se p.327 dispersèrent : les uns restèrent en Chine (132), les autres se rendirent chez (les barbares) I Di et Ti Địch; aussi les pronos­tics surnaturels dont ils s’occupaient furent‑ils négligés et on ne les coordonna plus. La vingt‑sixième année (626 av. J.‑C.) du roi Siang de (la dynastie) tcheou Chu-Tương-vương, il y eut un troisième mois intercalaire et le Tch’oen‑ts’ieou Xuân-Thu condamne cela (133) (en disant) :

« D’après la méthode suivie par les anciens rois pour régler les saisons, on plaçait le début au commencement ; on établissait l’exactitude au milieu ; on renvoyait les surplus à la fin (134). Quand on avait placé le début au commencement, l’ordre de succes­sion n’était pas en défaut ; lorsqu’on avait établi l’exac­titude au milieu, le peuple n’était pas incertain ; lors­qu’on avait renvoyé les surplus à la fin, les affaires n’étaient pas contraires (à l’ordre naturel) .

Dans la suite, les royaumes combattants entrèrent tous en lutte ; on se trouva plongé dans les attaques et les rivalités des royaumes puissants, dans les secours apportés aux (princes) en détresse, dans les désunions et les combinaisons et ce fut là tout ; comment aurait‑on eu le loisir de songer à ces choses (135) ? En ce temps‑là il p.328 n’y eut que le seul Tseou Yen Trâu-Diễn (136) qui fut instruit dans l’évo­lution des cinq vertus et qui divulgua la distinction de la mort et de la naissance de manière à se rendre illustre parmi les seigneurs. Et de même, lorsque Ts’in Tần eut anéanti les six royaumes, les armes défensives et offen­sives purent très fréquemment être mises en usage. Quoique (Ts’in Che‑hoang‑ti Tần-thủy Hoàng-đế) ne soit monté au rang su­prême que pendant peu de jours et quoiqu’il n’ait pas en­core eu de loisir, il ne laissa pas que de faire avancer (la succession des) cinq triomphes (des vertus élémen­taires) (137) ; estimant que lui-même avait obtenu le présage favorable de la vertu de l’eau (138), il changea le nom du (Hoang) Ho qu’il appela l’eau efficace (139), puis il prit pour principe le dixième mois ; parmi les couleurs, il mit en honneur le noir. Cependant pour ce qui concernait le calendrier, les mesures, les intercalations et les restes, il ne put point encore voir clairement ce qui était la vérité.

Les Han Hán arrivèrent au pouvoir. Kao‑tsou Cao-tổ dit :

— Le lieu saint du nord m’attendait pour être mis en hon­neur (140).

Il estima que, lui aussi, il avait obtenu le pré­sage favorable de la vertu de l’eau ; même ceux qui étaient versés dans la connaissance du calendrier ainsi que Tchang Ts’ang Trương-Thương (141) et ses collègues, furent tous de ce même avis. En ce temps, l’empire venait d’être raffermi et c’est tout juste si l’on avait mis l’ordre dans la grande p.329 fondation (142). L’impératrice (femme de) Kao(‑tsou(143) fut une femme sur le trône. Tous (ces souverains) n’eurent point encore de loisir et c’est pourquoi ils adoptèrent le prin­cipe du calendrier et la couleur des vêtements des Ts’in.

Au temps de (l’empereur) Hiao‑wen Hiếu-Văn-đế, un homme du pays de Lou Lỗ, Kong‑suen Tch’en Công-tôn Thần (144), fit, au sujet du cycle des cinq vertus, une requête au trône dans laquelle il disait :

« Les Han ont obtenu la vertu de la terre ; il faut modi­fier l’origine, changer le premier jour du premier mois, transformer la couleur des vêtements ; il doit y avoir un présage favorable ; le présage favorable sera l’apparition d’un dragon jaune.

L’affaire fut déférée au grand con­seiller Tchang Ts’ang. Tchang Ts’ang avait lui-même étudié les tuyaux sonores et le calendrier ; estimant que (la théorie de Kong‑suen Tch’en) était contraire à la vérité, il la repoussa. Dans la suite, un dragon jaune parut à Tch’eng‑ki Thành-kỷ (145). Tchang Ts’ang donna de lui-même sa dé­mission ; ce qu’il avait désiré prouver ne s’était pas con­firmé. Puis Sin‑yuen P’ing Tân-Viên-B́nh (146), à cause qu’il percevait de loin les émanations, fut reçu en audience (par l’empe­reur) ; il ne laissa pas que de discuter sur les matières concernant le calendrier correct et la couleur des vête­ments ; il fut honoré et jouit de la faveur impériale ; dans la suite, il fit des troubles ; c’est pourquoi l’empe­reur Hiao‑wen le renvoya et ne l’interrogea plus.

Quand l’empereur actuel eut pris le pouvoir, il manda p.330 auprès de lui le savant T’ang Tou Đường-Đô (147) et lui assigna le mi­nistère du ciel. Puis Lo‑hia Hong Lạc-Hạ-Hoành (148), originaire (du pays) de Pa Ba, fit avancer les calculs et progresser le calendrier. Alors les mesures du soleil et des constellations zodia­cales coïncidèrent avec le principe des Hia ; (l’empereur) modifia donc l’origine ; il changea les titres des fonc­tionnaires ; il accomplit le sacrifice fong Phong sur le T’ai-chan Thái-sơn; puis il adressa au yu‑che ngự-sử un édit en ces termes :

« Il est de fait que des officiers ont déclaré que les mesures des étoiles n’étaient point encore certaines ; j’ai mandé de nombreuses personnes et j’ai fait une enquête étendue, afin de rendre conformes à la raison les mesures des étoiles ; mais on n’a point encore pu en vérifier l’exacti­tude (149). Or, j’ai appris que, dans l’antiquité, Hoang‑ti Hoàng-đế trouva l’accord (150) et ne mourut pas. Les dénominations furent contrôlées et les mesures furent vérifiées. (Hoang-ti) détermina le pur et le trouble (151) ; il établit les cinq départements (152) ; il institua les divisions et les nombres des vapeurs et des êtres. Cependant cela remonte à la haute antiquité ; les livres font défaut et la musique s’est p.331 relâchée ; j’en suis très affligé ; je n’ai point encore pu parvenir à la conformité et à l’intelligence. En combi­nant ensemble minutieusement les divisions du soleil, en somme on se trouve répondre à ce qui triomphe de la vertu de l’eau (153). Aujourd’hui, on est d’accord avec le solstice d’été (154). Le (tuyau) hoang‑tchong hoàng-chung rend (la note) kong Cung; le (tuyau) lin‑tchong lâm-chung rend (la note) tche chủy; le (tuyau) t’ai-ts’eou thái-thốc rend (la note) chang thương; le (tuyau) nan‑lu nam-lă rend la note yu vũ; le (tuyau) kou‑sien cô-tẩy rend (la note) kio giốc(155). Do­rénavant, les divisions de l’année (156) sont de nouveau correctes ; la note yu est de nouveau pure ; les dénomi­nations sont de nouveau modifiées exactement ; (cette harmonie va) si loin qu’au jour tse a dû se produire le solstice d’hiver (157) ; alors la façon régulière dont (les principes) yn et yang se séparent et s’unissent est en vigueur. Le onzième mois, au jour kia‑tse giáp-tư qui était le premier jour du mois, au matin, est survenu p.332 effectivement (158) le solstice d’hiver. Je change donc la septième année (159) et j’en fais la première année t’ai-tch’ou Thái-sơ nguyên-niên.

Le nom de l’année est Yen‑fong Cho‑t’i-ko yên-phùng nhiếp-đề-cách; le nom du mois est Pi-tsiu tất-tụ (160). Quand le jour marqué du signe kia‑tse est arrivé, au milieu de la nuit qui est le matin du pre­mier jour du mois, c’est le solstice d’hiver (161)

Tableau de la méthode du calendrier disposé d’après le cycle kia‑tse  

La première année t’ai-tch’ou, le nom de l’année est Yen‑fong Cho‑t’i-ko ; le nom du mois est Pi-tsiu ; quand le jour kia‑tse est arrivé, au milieu de la nuit qui est le matin du premier jour du mois, c’est le solstice d’hiver.

[tableau p.333-337 ]

p.338 Dans le tableau ci-dessous du calendrier, les grands restes sont des jours, les petits restes sont des mois (162). Toan (‑mong) Đoan-mông ou Tchan‑ mong est le nom d’une année. Parmi les branches (terrestres), tch’eou a pour nom tch’e­-fen jo et yn a pour nom cho‑t’i-ko. Parmi les troncs (cé­lestes), ping bính a pour nom yeou‑tchao du-triệu. — Nord franc ; Ouest franc ; Sud franc ; Est franc (163).

 


 

   

 

 THƯ TỊCH KHẢO

 

 3BR  Sử-kư Hội-chú Khảo-chứng Giác-đính 史記會注考證, Xuất-vân Lung-Xuyên Tư-Ngôn  出雲隴川資言Khảo-chứng, Tú-thủy Nghiêm Nhất-B́nh 嚴一萍 Giác-đính (dùng kèm theo để-bản 3H)

3BS   Tinh Học Đại Thành 星學大成, Nhất-bản, Minh è Vạn Dân Anh 萬民英soạn, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 8-1995.

3BT   The Cloudspotter’s Guide by Gavin Pretor-Pinney, Sceptre, London, 2007.

3BU   Was Einstein Right? by Clifford M. Will, Basic Books, New York, 1986.

3BV   Gravitation by Charles W. Misner, Kip S. Thorne and John Archibald Wheeler, W. H. Freeman and Company, San Francisco, 1973.

 

 

    Xem tiếp Kỳ 27

 

  

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com