www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

3    |    4   |   5 

6   |    7   |   8

    9   |   10  |   11  

 12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

18

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 03 - 17

 

THIÊN-VĂN LỊCH TOÁN

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 20)

 

VI  CÁC THỨ LỊCH KHÁC

 

LỊCH AI-CẬP 

Hơn mười thiên-kỷ trước, văn-minh Ai-cập đă tạo ra một quyển lịch giản-dị nhưng thô-sơ: một năm dài 360 ngày được chia đều thành 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày và được chia thành 3 tuần-nhật 10 ngày. Số 360 này có liên-quan đến cơ-số đếm  60 và việc chia ṿng tṛn thành 3600 của người Chaldean, mà một tàn-tích là một giờ có 60 phút và một phút có 60 giây. Người Chaldean cũng dùng giờ kaspu-đôi rất tiện cho các tính-toán thiên-văn v́ thiên-cầu xoay 10 mỗi phút.

 

Năm 4236 BC (theo Th. von Oppolzer) hoặc năm 4228 BC (theo Zinner), lịch này được cải-biến thành lịch Mơ-hồ trong đó một năm có 365 ngày, và không có năm nhuận như Lịch Julian mấy thiên-kỷ sau vậy. Tháng trong năm được gom thành 3 tứ-cá-nguyệt một: thoạt đầu là mùa nước lũ, thứ đến là mùa gieo hạt hay mùa trồng-trọt, sau rốt là mùa gặt. Mỗi tháng vẫn có 30 ngày, ngoại trừ năm ngày cuối năm, mệnh-danh là epagonenœ (ngày bổ-túc cho tṛn năm), được coi là năm ngày xui-xẻo cùng là  tháng nhuận ngắn. Ngày Ai-cập bắt đầu lúc chính-ngọ để họ có đủ th́-giờ quan-sát giai-nhật-thăng lúc sáng sớm khi cần đến.

Sau đây là bảng ghi tên các tháng của lịch Cổ-Ai-cập:

 

Mùa lụt-lội

Mùa trồng-trọt

Mùa gặt

1. Thoth

5. Tybi

  9.Pachon

2. Paophi

6. Méchir

10. Payni

3. Athyr

7. Phaménoth

11. Epiphi

4. Choéac

8. Pharmouti

12. Mésori

 
Từ thời tối-cổ người Ai-cập đă biết quan-sát giai-nhật-thăng của Sirius tức Sothis (sao Ngưu-lang), một thiên-thể lồ-lộ trên nền trời Ai-cập. Họ nhận thấy gnt của Sothis xẩy ra đúng vào lúc nước sông Nile địa-lợi dâng lên. Thảo nào họ chọn ngày này là Nguyên-đán (Ngày mùng 1 Thoth). Thời-khoảng giữa hai Nguyên-đán liên-tiếp là một năm, vừa tiện ở chỗ dài hơn một tháng, lại vừa lợi v́ gói trọn ba mùa.

Người đặt ra lịch này hoặc giả không biết, hoặc-giả tảng lờ sự-kiện cứ mỗi 4 năm Sothis lại gnt chậm một ngày, nghĩa là sau 366 ngày chứ không phải sau 365 ngày, bởi v́ bây giờ chúng ta đă biết chắc rằng một năm Mặt Trời hay một năm vũ-trụ đều dài khoảng

 

1

 

365

 

ngày.

__________

 

4

 

Sai-số bốn năm sai một ngày làm lịch lệch pha với năm tiết-khí và với mùa.

Sai-số này càng ngày càng lớn. Sau 120 năm ngày 1 Thoth đă trôi xuôi một tháng.  Sau 730 năm, ngày đó đă trôi xuôi nửa năm: các tế-lễ mùa màng trở thành trái mùa, và nông-dân ca-hát mùa hạ và mùa gặt ngay giữa mùa đông. Cuối cùng, sau một chu-kỳ Sothiac tức 1461 năm Mơ-hồ hay 1460 năm tiết-khí (1461x365 = 1460x 365.25), Nguyên-đán sau khi lang-thang trong năm từ ngày mùng 1 Thoth, ngày mùng 2 Thoth, ngày mùng 3 Thoth v.v., đă đi giáp ṿng mùa, và lại quay về vị-trí đồng pha với mùa. Dân Ai-cập thời đó đă ăn mừng sự trở về của mùng một Thoth. Thời-kỳ này, được mệnh-danh thời-kỳ sothiac, trứ-danh trong Ai-cập-sử. Các sách giáo-khoa về Thiên-văn hay Khoa-học-sử đều có đề-cập rất nhiều. Xin nối điêu ít lời.

Mặc dù mơ-hồ, lịch này cũng tồn-tại được hơn bốn ngh́n năm và cai-quản mọi lễ-tiết dân-sự và tôn-giáo, bất-chấp mùa. Mùa đâu có chịu thua v́ ở Ai-cập nhờ nước lũ sông Nile hằng năm bồi phù-sa vào thung-lũng dọc ven sông và liên-đới với gnt thiên-văn của Sothis. Từ thời xa xưa người Cổ-Ai-cập đă nhận chân điều đó: khoảng thiên-kỷ thứ V BC, ngang vỹ-tuyến của cựu-thủ-đô Memphis, gnt của Sothis trùng-hành với ngày nước sông Nile bắt đầu dâng lên. Các giáo-sĩ bác-học của Heliopolis xưa (vỹ-độ 30035 bắc), gần Cairo ngày nay, cũng chú-ư đến điều đó. Cho nên trong Lịch Mơ-hồ, ngày đầu năm tức mùng 1 Thoth được xác-định là ngày Sothis gnt: bầu trời lúc đó được coi là  trạng-thái nguyên-thủy của vũ-trụ. Nông-dân Cổ-Ai-cập đều coi gnt của Sothis như là điểm gốc để đánh dấu năm nông-lịch của họ. Lần lần tuế-sai phá vỡ trùng-hành này: gnt của Sothis trễ hơn lúc nước sông Nile bắt đầu dâng lên một tuần mỗi thiên-kỷ. Ngày nay ở Cairo gnt của Sothis xẩy ra khoảng tháng 8 DL, trong khi nước sông Nile tại đó bắt đầu dâng lên sau ngày Hạ-chí.

Dân Cổ-Ai-cập quả có trung-thành với lịch lủng-củng của họ trong hơn 4 thiên-kỷ! Kết-liễu thời-kỳ sothiac thứ nh́ được ăn mừng năm 1318 BC. Kết-liễu thời-kỳ sothiac thứ ba vào ngày 21 tháng 7 năm 139 AD Lịch Julian, được văn-gia la-mă Censorinus (thế-kỷ III AD) mô-tả trong tác-phẩm De Die Natali (Nhật Sinh) như sau: Ngày đầu năm cổ-lịch Ai-cập trùng ngày gnt của Sothis năm 139 AD, và bắt buộc phải như vậy 1460 năm trước và về trước nữa, nghĩa là các năm 1321 BC, 2781 BC, 4241 BC, 5701 BC v.v.

Rất có thể là Lịch Mơ-hồ được sáng-tạo rồi lưu-hành một trong những năm này. Các văn-tự khắc trên kim-tự-tháp của các triều-đại thứ năm và thứ sáu cho thấy rằng lịch 365 ngày này đă có mặt. Các nhà Ai-cập-học cho rằng lịch xuất-hiện vào năm 4241 BC hoặc 2781 BC tuỳ theo họ tin là kim-tự-Tháp được xây trước hoặc sau hai năm này. Tuy nhiên, các năm 5701 BC, 7160BC ... hẳn là phi-lư.

Năm 238 BC, vị Vua thứ ba của triều-đại Ptolemaic, Ptolemy III Eúergétes (Hy-lạp: Πτολεμαος Εεργέτης, Ptolemaĩos Euergétēs, trị-v́ 246-222 BC), muốn sửa sai nên có xuống chiếu thêm vào cuối năm một ngày phụ-trội thứ 6 mỗi 4 năm giống như ngày nhuận tháng 2 Lịch Julian mà Julius Cæsar đă thiết-lập hai trăm năm sau. Nhưng vô-ích v́ dân Ai-cập không bao giờ chịu chấp-nhận ngày khả-nghi này. Khi Hoàng-đế Caius Julius Cæsar Octavianus Augustus (63 BC-14 AD) áp-đặt lịch Julian lên thuộc-quốc Ai-cập năm 29 BC, ông cũng gặp đối-kháng tương-tự,v́ thời-kỳ sothiac thứ ba vừa kết-thúc hai thế-kỷ sau chiếu của ông. Hoá ra là hai cuộc cải lịch kể trên chỉ xẩy ra trên giấy tờ. Năm sothiac từ từ dài thêm ra và gnt  trở về ngày mùng 1 Thoth  nhanh hơn: các thời-kỳ sothiac thứ 2 và thứ 3 ngắn hơn thời-kỳ sothiac thú nhất. Các nhật-kỳ thượng-dẫn như bắt gặp trong các văn-kiện t́m lại được đủ để đánh tan mọi hoài-nghi. Cực chẳng đă, chúng ta có thể trưng ra các nhật-kỳ tính được của các thời-kỳ sothiac kèm theo thời-khoảng Julian:

Thời-kỳ sothiac

Nhật-kỳ

Số năm Julian

Chú-ư

Lịch Mơ-hồ bắt đầu

4235 BC

 

 

Thời-kỳ sothiac thứ nhất

2775 BC

1460

 

Thời-kỳ sothiac thứ nh́

1317 BC

1458

 

Thời-kỳ sothiac thứ ba

21.7.139 AD

1456

 

Thời-kỳ sothiac thứ tư

1591 AD

1452

Lịch Mơ-hồ đă bị băi bỏ

Thời-kỳ sothiac thứ năm

3039 AD

1448

    - nt -

Thời-kỳ sothiac thứ tư và thứ năm đều là giả-định v́, vào những thế-kỳ đầu công-nguyên, Lịch Ai-cập hết c̣n được ổn-định rồi.

Năm 29 BC, khi Augustus áp-đặt ngày phu-trội thứ sáu lên hành-chính Ai-cập, ngày Nguyên-đán nhằm ngày 29 tháng 8 DL. Từ đó trở đi ngày mùng 1 Thoth luôn luôn là

29.8. Đối với chúng ta, đă dùng Lịch Gregorian rồi, ngày ấy sẽ là 8.9 v́ Giáo-hoàng Gregory XIII đă bỏ bớt 10 ngày hồi tháng 10 năm 1582.

 

LỊCH COPTIC 

                                                     Kiyahk: şabāḥak misāk
                                                  [In
Kiyahk, your morning is your evening]
                                      
- Tục-ngữ Coptic về ngày Đông ngắn.

Các giáo-đồ Da-tô coptic là hậu-duệ  của người Ai-cập thời các Pharaoh. Họ dùng cổ-lịch Mơ-hồ của Ai-cập nhưng thêm vào năm nhuận. Năm bắt đầu vào cuối mùa hè.  Ngày bắt đầu lúc hoàng-hôn và năm gồm có 12 tháng đủ (30 ngày), bổ-túc bằng 5 ngày phụ-trội vào cuối năm. Mỗi 4 năm, một ngày được thêm vào cuối năm, để thành 6 ngày phụ-trội. Do đó trung-b́nh mỗi năm dài 365.25 ngày như trong Lịch Julian vậy. Các tháng có tên Ả-rập trong tiếng Coptic (tức tiếng Sahadic):
 

Tháng

Số ngày

Tháng

Số ngày

Tháng

Số ngày

1. Thoout

30 ngày

6. Meshir

30 ngày

10. Paône

30 ngày

2. Paope

30 ngày

7. Paremotep

30 ngày

11. Epêp

30 ngày

3. Athôr

30 ngày

8. Parmoute

30 ngày

12. Mesorê

30 ngày

4. Koiak

30 ngày

9. Pashons

30 ngày

13. Epagomenê

5{6} ngày

5. Tôbe

30 ngày

 

 

 

 

 

Ngoặc kíu {} liên-quan đến nhuận. Epagomenê được coi như là một tháng nhỏ (tiếng Coptic gọi là p abot n kouji). Lịch-nguyên Coptic là ngày 29.8.284 AD tức thị RT 103,605 (Rata die), nghĩa là số ngày từ thứ hai 1.1.1 (Lịch Gregorian). Một năm coptic c-year nhuận khi chia nó cho 4 số thừa là 3:
Coptic-leap-year?
(c-year):= (c-year mod 4) = 3 
 

LỊCH ETHIOPIC
 

Lịch Ethiopic giống hệt Lịch Coptic ngoại trừ tên tháng, tên ngày trong tuần và lịch-nguyên Ethiopic Era: 1 EE bắt đầu 29.8.8 AD (Julian) tức RD 2796. Sau đây là bảng tên tháng Amharic Ethiopic: 

 Tháng

Số ngày

Tháng

Số ngày

Tháng

Số ngày

1. Maskaram

30 ngày

6. Yakātit

30 ngày

10. Sanē

30 ngày

2. Tekemt

30 ngày

7. Magābit

30 ngày

11. amlē

30 ngày

3. edār

30 ngày

8.Miyāzyā

30 ngày

12. Naasē

30 ngày

4. Tākhśāś

30 ngày

9. Genbot

30 ngày

13.Pāguēmēn

5{6} ngày

5. er

30 ngày

 

 

 

 

Sau đây là bảng đối-chiếu tên ngày trong tuần của hai Lịch Coptic và Ethiopic: 

Ngày trong tuần

Lịch Coptic

Lịch Ethiopic

Chủ-nhật

Tkyriakê

Iud

Thứ hai

Pesnau

Sanyo

Thứ ba

Pshoment

Maksanyo

Thứ tư

Peftoou

Rob/Rabu’e

Thứ năm

Ptiou

amus

Thứ sáu

Psoou

Arb

Thứ bẩy

Psabbaton

Kidāmmē

Lịch Coptic gióng theo Lịch Julian, ngoại trừ lệch một ngày v́ quy-luật năm nhuận và v́ Lịch Julian không có năm 0. Người Copt mừng lễ Giáng-sinh vào ngày Kiyahk 29, bao giờ cũng nhằm ngày 25 hoặc 26.12 Lịch Julian. 

LỊCH ARMENIAN 

Lịch Armenian giống hệt Lịch Ai-cập, ngoại trừ lịch-nguyên JD 201443 (Julian Date) được định vào ngày 11.7.552 AD (Julian).
 

LỊCH HY-LẠP

 

Thoạt đầu người Hy-lạp dùng một âm-lịch thuần-túy. Có người bảo tháng của họ cũng có 30 ngày như Lịch Ai-cập. Về sau tháng đủ và tháng thiếu xen kẽ nhau. Đối với Trăng như thế cũng tạm ổn nhưng đối với mùa th́ lủng củng lắm: thời Hesiod (Hy-lạp: σίοδος Hēsíodos)(thế-kỷ thứ 8 BC), tác-giả của "Công Việc và Ngày" (tiếng Cổ Hy-lạp gọi là ργα κα μέραι / Erga kaí Hēmérai, đôi khi có tên La-ngữ là Opera et Dies),người ta vẫn c̣n quy-chiếu việc đồng áng và thời-tiết tốt xấu vào giai-nhật-thăng và giai-nhật-lạc của vài cḥm sao các nông-phu và thủy-thủ có thể quan-sát dễ-dàng được. Theo hai ông Schiaparelli và Couderc, nếu ta đổi lịch Hy-lạp bấy giờ sang lịch Gregorian bây giờ, ta sẽ có thời-biểu tương-ứng thiên-văn/nông-nhiệp như sau:
 

Ngày

DL

Hiện-tượng thiên-văn, khí-tượng hoặc
cảnh-tượng đồng-nội

17.5

Gnt của tú Măo (Pleiades); con sên xuất-hiện; nông-dân mài liềm và mùa gặt bắt đầu.

1.7

Sirius (sao Ngưu-lang牛郎) ló dạng ban mai; cỏ kế (cúc gai) mọc; dế bắt đầu gáy.

10.8

50 ngày sau Hạ-chí, "mùa hè thứ nh́" bắt đầu; Sirius chỉ thấy được trong một phần ban đêm. Thời-tiết tốt để đi biển. Trời oi bức và nguy-hại cho sức khoẻ.

8.9

Gnt của Arcturus (sao Đại-giác大角). Sửa-soạn hái nho.

28.10

Giai-nhật-lạc (gnl) sớm mai của tú Măo  (Pleiades).

1.11

Gnl sớm mai của tú Tất (Hyades).

9.11

Gnl sớm mai của sao Tua-rua tức ba sao δ, ε, ζ orionis của cḥm sao Hiệp-sĩ 俠士tức Liệp-hộ 獵戶(Orion).

 Vào độ này ngỗng trời bắt đầu xuất-hiện, nông-phu bắt đầu cầy cấy và thuyền được kéo hết lên bờ. 

Luận-giả Án về Nông-lịch kinh-nghiệm cổ-truyền

Ông bạn cố-tri  Vũ -Quốc-Oai viết: "Ở quê ta cũng có một thứ lịch theo kinh nghiệm bằng quan sát sự xuất hiện các cḥm sao trên bầu trời để gieo trồng. Những sao căn bản mà các cụ thường quan sát là cḥm sao Thần Nông (Scorpion), cḥm sao Tua Rua (Pleiades), sao Ngưu Lang  (Sirius, một định tinh sáng nhất trên bầu trời), sao bánh lái ( Bắc Đẩu ),  sao Ba (ba sao thẳng hàng nằm trong cḥm Orion hay Hiệp Sĩ hay Liệp Hộ). Nói đến sao Ba chắc quí vị nhớ đến câu thơ trong truyện Kiều:

 

Đêm thu, gió lọt song đào

Nửa vừng trăng khuyết, ba sao giữa trời.

 

mô tả lúc Kiều nhớ tới người t́nh Thúc Kỳ Tâm. Trước đây tôi có đọc trên báo chí  có vị phê b́nh là câu thơ này sai theo thiên văn, nhưng đến nay tôi cũng không thấy câu thơ sai chỗ nào. Nếu vị viết bài đó chịu khó thức khuya vào cuối tháng 9 AL nh́n lên bầu trời th́ sẽ gặp khung cảnh mặt trăng đi vào cḥm sao Hiệp sĩ như câu thơ trên".

 

"Báo chí" ở đây ám-chỉ Báo Khoa-học do Cụ Hoàng-Xuân-Hăn chủ-truơng; "vị viết bài đó" chính là GS Nguyễn-Xiển, chính-danh thủ-phạm vụ sửa lịch ác-hại đă nói đến trong Bài kỳ 16 ("MƯỜI BA CON GIÁP").

Câu 6 là mượn chữ thu ; câu 8 là chiết-tự chữ Tâm , tên Thúc-sinh: nửa vừng trăng khuyết là nét mác trong chữ tâm ; ba sao là ba chấm của chữ này. Hai câu hợp lại thành chữ sầu.

 

Phương-ngôn Thanh-hoá có bài:

 

Ngày th́ đi gặt lọ (lúa) mùa.

Túi (tối) viền (về) đập lọ sao Rua thẳng  trốc (đầu).

Không được than-thở cùng trắc (nhau).

 

Sao Ba của miền Bắc, người xứ Thanh gọi là sao Rua, c̣n người miền Nam lại gọi lầm là sao Vua. Kỳ thực sao Vua chính là ngôi sao Bethlehem, mà các thiên-văn-gia cắt nghĩa có thể là một tân-tinh (nova), một sao chổi, một hành-tinh, hay một tụ-hội hành-tinh. Vua ở đây nghĩa là Ba Vua Magi Balthasar, Caspar và Melchior.

 

Hàng thế-kỷ, các lịch thường-nhật cây đồng cỏ nội này phồn-thịnh và bành-trướng nhanh. Người ta lại thêm vào lịch cả ngày tốt, ngày xấu để gieo trồng , buôn bán nữa. Các nhà thông-thái nổi tiếng như Meton, Eudoxus (Hy-lạp: Εδοξος) của Thành Cnidus (410 hay 408 BC – 355 hay 347 BC), Callippus, Hipparchus, Ptolemy đều có góp phần xây dựng. Từ Hy-lạp trào-lưu này lan qua La-mă như ta thấy trong Georgics của Publius Virgilius Maro tức Virgil. Xin đan-cử bài "Lịch Nhà Nông":
 

A FARMER’S CALENDAR

 

          Above all, many things are better done

          In chill of night, or when the Morning-star

          Bedews the earth. Light stubble and dry meads

          Are better cut at night, when moisture clings.

          I know of one whom winter firelight keeps

          Wakeful, whittling his torches with sharp steel.

          His wife, her shuttle singing, sings herself

          To cheer long hours aweave, or at the fire

          Boils down the liquor of sweet must, and skims

          With leaves the bubbling fropth. In midsummer

          You’ll cut your reddening crops: in midsummer

          You’ll thresh the grain you’ve dried with parching heat.

          Plough when you have to strip for it, strip to sow!

          For winter is the farmer’s holiday.

          In this chill time farmers enjoy their gains,

And merrily feast together: winter cheer

Invites, dispelling care: as when, at last,

The laden keels have anchored, and the crews

Joyously wreathed the poops. Yet now’s the time

To gather acorns, olives, bay-berries,

And blood-red myrtle, set your snares for cranes

And nets for stags, and chasethe lop-eared hare,

Now slay the doe, whirling the the hempen thong

Of a Balearic sling, while snow lies deep,

While rivers pack their ice.

 

 Why should I sing

Of autumn’s weather and autumnal stars.

Or, when days shorten and the heat grows mild,

What signs must closely be observed of men?

Or too, when spring comes down in torrent rain,

Or bearded crops have bristled on the land,

Or when the green corn swells with milky sap?

Oft as the farmer led his harvesters

On to the golden fields, and even now

Was stripping barley from its brittle stalks,

I’ve have seen the embattled winds hurtle together,

Uprooting, tossing high and scattering

The lush-eared crop; then the onrushing gale

With black tornado carry off light stalk

And flying stubble. Oft advances huge

A host of waters in the sky, and clouds,

Gathering from the sea, marshal the storm,

Foul, dark with rain. Down pour the heavens sheer,

In mighty flood sweeping away glad crops

And labours of the ox. The ditches fill:

Deep rivers rise in thundering spat: the seas

Breathe and boom in the narrows. Jove himself

In blackest of the storm-cloud, wields

With flickering hand his bolt, at whose dread shock

Earth trembles, wild things curry, and stark fear

Lays prostrate, nation-wide, the hearts of men.

With shaft of blinding light Athos he fells,

Or Rhodopë, or high Ceraunia:

The South-West blows a gale: rain crashes down:

Load wails the tempest over weals and shore.

 

 Dịch-giả: L.A.S. Jermyn (1947)

 

Ngày của Hy-lạp bắt đầu lúc hoàng-hôn. Thời Homer (Thế-kỷ 9 và 8 BC), ngày và đêm được chia thành ba phần không rơ-ràng: đầu, giữa và cuối. Sáu trăm trước công-nguyên, người ta bắt đầu dùng nhật-quỹ-nghi 日晷儀. Người ta bảo chính Anaximander đă dạy cho đông-bào của ông cách dùng các mẫu nhật-quỹ-nghi  của người Babylonians và Do-thái. Phải đợi đến thế-kỷ thứ 2 BC, với sang-chế của lậu-hồ, người Hy-lạp mới biết chia đêm và ngày thành hai nhóm 12 giờ thay đổi theo mùa.

 

Mười ngày là một tuần-nhật. Tháng thiếu tuần-nhật thứ ba chỉ có 9 ngày. Các ngày trong hai tuần-nhật đầu được đánh số,  ngoại trừ ngày đầu tháng (neomenia). Trong tuần-nhật cuối, trăng từ từ khuyết, nên người ta nói: ngày thứ 9, thứ 8 … trước khi Trăng biến mất, cho đến ngày cuối tháng (triacade).

 

Tại Hy-lạp bao giờ tháng cũng tất-yếu. Một thần-nhân (Oracle) phán rằng: phải ràng buộc các tế-lễ với tuần trăng. Về sau một thần-nhân khác lại bảo: chính các tế-lễ này phải dành cho canh-nông, có nghĩa là lịch phải ăn nhịp với mùa màng và tiết-khí năm tháng.

 

Thời Solon, một năm thường có 12 tháng và dài 354 ngày. Cứ hai năm một lại phải thêm một tháng nhuận. Thời Heredotus, mỗi ba năm mới thêm một tháng nhuận bởi chưng năm thường ngắn quá.

 

V́ các tỉnh-bang (city-states) tương-đối khá độc-lập nên lịch của các tỉnh-bang có thể khác nhau về tên gọi của tháng, về lúc bắt đầu năm, nhưng các lịch đều dùng năm Trăng 354 ngày và một năm Mặt Trời 365.25 ngày. Do đó dường như bát-niên có trước kỷ-nguyên thế-vận-hội (775 BC).

 

Để khắc-phục xung-khắc này họ dùng bát-niên (octaeteris). Tám năm Trăng là 2832 ngày; tám năm Mặt Trời là 2922 ngày. Hiệu-số 90 ngày ứng với 3 tháng đủ. Vậy nếu thêm 3 tháng này vào năm thứ 3, năm thứ 5 và năm thứ 8 mỗi bát-niên, tạm đủ giữ lịch ăn nhịp với tiết-khí. Phương-thức này được dùng từ thời Hesiod.

 

Đành rằng mỗi tháng bắt đầu bằng ngày sóc, nhưng phương-pháp này bất-tiện ở chỗ không nhớ lúc nào phải thêm 3 tháng phụ-trội. Nhiều nơi dùng lịch Parapegma tức một ḥn đá có lỗ cắm cọc để kế-toán 99 tháng! (Xem h́nh Lịch Hy-lạp Parapegma t́m được ở Miletus, Tiểu-Á-Tế-Á). 

Phải chăng người Hy-lạp đă biết tri-số 365.25 ngày từ thế-kỷ thứ 8 BC? Điều đó có thể chấp-nhận được v́ như ta đă thấy người Ai-cập đă dùng trị-số này từ thiên-kỷ 3 BC qua chu-kỳ sothiac của họ trong năm có ba mùa. Lại thêm, giao-thương và giao-lưu văn-hoá giữa Hy-lạp và Ai-cập không phải là không có.

Một thuyết khác lại cho là năm 365.25 ngày được thông-tri cho Thales hay một hiền-triết năng du-lịch nào khác khi họ viếng thăm Ai-cập. Do đó rất có thể đă biết trị-số khoảng năm 600 BC.

V́ kể 99 tuần trăng trong 2922 ngày nên tuần trăng hơi ngắn quá nên tuần trăng hơi nhanh pha: nên chi chỉ sau 10 bát-niên tức 80 năm, ngày vọng vào chính lúc lịch bảo là ngày sóc. Lễ-tiết không c̣n ăn khớp với con trăng.

Thiên-văn-gia Meton thành Athens đề-nghị một chu-kỳ 19 năm (Enneadecaeteris), một đại-niên, trong đó có 7 tháng nhuận, vào các năm thứ 3, 6, 8, 11, 14, 17, và 19. Trung-b́nh mỗi sóc-thực là 29ng12g45ph57gi (dư dưới 2 phút).                                         Theo truyền-thuyết, Lịch-nguyên Meton nhằm ngày Hecatombaeon 1 (khoảng giữa tháng 7 Lịch Julian, năm 432 BC). Nhưng không làm sao kiểm chứng được. Xin làm kế toán: mỗi chu-tŕnh Meton bao gồm: 5 năm 355 ngày, 7 năm 354 ngày, 6 năm 384 ngày và một năm 383 ngày, vị chi là 6940 ngày. Nếu ta lấy tuế-thực là 365.2425 ngày, th́ 19 năm tiết-khí là 6939.75 ngày. Hiệu-số là 0.25 ngày

Về sau Callippus của thành-phố Cyzicus (370?-300 BC), lúc về già, lấy 4 chu-tŕnh Meton một (76 năm): sau mỗi chu-tŕnh Callippus ông bỏ môt ngày, cho nên tuế-thực là 365.25 ngày và sóc-thực là

 

 

499

 

29

 

ngày = 29.530851 ngày,

______________________

 

940

 

 

khả-quan rồi. Tuế-thực này giống hệt tuế-thực của Lịch Chuyên-Húc hay Lich Tứ-phân của Biên-Tố và chính xác hơn Lịch Thái-sơ của Đặng-B́nh (Xin xem bài Kỳ 13). Thuở đó các thiên-văn-gia Hy-lạp rất thích chu-tŕnh của Callippus. Chẳng hạn Ptolemy ghi chép các quan-sát thiên-văn của ḿnh, theo sát chu-tŕnh này và t́m ra Lịch-nguyên của chu-kỳ Callippus là ngày 28.6.330 BC.

 

Ta thấy rằng Thiên-văn Hy-lạp thời Callippus khá tiến-bộ. Chúng ta sẽ trở lại vấn-đề này khi đề-cập Lịch Giáo-hội. Cứ b́nh-t́nh mà trước-luận ta thấy rằng các tiến-bộ này không giúp ǵ cho Lịch Hy-lạp dân-sự cả v́ không thấy ai dùng chúng cả. Họ chỉ tin dùng bát-niên.

 

Hipparchus (ππαρχος, Hipparkhos) (190?BC– 120?BC) của thành-phố Nicaea (Thế-kỷ 2 BC) có lẽ là người đầu tiên bên trời Tây thấy, vào khoảng năm 130 BC, rằng năm ngắn hơn 365.25 ngày. Theo ông, trong ṿng ba thế-kỷ, chu-kỳ Callippus dư 1 ngày. Cho nên ông lấy 4 chu-tŕnh Callippus vị chi là 304 năm trừ một ngày dư đi. Do đó tuế-thực thành 365ng5gi55ph (vẫn dư 6 phút đối với năm tiết-khí) và sóc-thực là 29ng12gi44ph2gi (chỉ sai 0.8 giây đối với trị-số hiện-tại). Tuyệt-vời!

 

KỶ-NGUYÊN HY-LẠP

 

Ngoài lịch-pháp lủng-củng Hy-lạp c̣n mắc phải vấn-đề biên-niên: năm được tính theo triều-đại của ông Vua nào đó của một trong vô-số tiểu-quốc của Hy-lạp hay theo tên của một vị thẩm-phán tối-cao của một trong những Cộng-hoà quan-trọng. Măi đến thế kỷ thứ 3 AD, các sử-gia mới lấy thế-vận-hội làm mốc và đi ngược về quá-khứ cho đến năm 775 BC.

Riêng các thiên-văn-gia Hy-lạp lại chọn Kỷ-nguyên Nabonassar để có thể dùng các quan-sát xưa của người Babylonian như đă gặp ở bài Kỳ 20.

 

LỊCH ATHENIAN PRYTANY

 

Song song với lịch dân-sự dân Athens c̣n có lịch hành-chính dùng cho các tiểu-ban của Hội-đồng 500, trong đó các nghị-viên của các bộ lạc thay phiên nhau quản-lư tùng năm một như các làng xă ở Miền Bắc của Ta ngày xưa vậy. Hội-đồng Quản-lư mỗi năm được gọi là Prytany. Cho đến năm 307-306 BC có cả thẩy là 10 bộ-lạc, sau đó có 12 bộ-lạc. Riêng trong hai nhiệm-kỳ 224-223 BC và 201-200 BC cũng như sau 124 AD có 13 bộ-lạc. Do đó các văn-kiện của Athens ghi theo ngày trong năm của một bộ-lạc nào đó và ngày trong tháng. Các văn-kiện này rất bổ-ích nhưng cũng rất phiền-toái cho việc nghiên-cứu cổ-lịch Hy-lạp.

Thời của Aristotle (thế-kỷ thứ 4 BC), có 10 bộ-lạc các pritanies được biên chép theo 4x36 ngày theo sau bởi 6x35 ngày hay đôi khi 6x35 ngày theo sau bởi 4x36 ngày:

4x36 + 6x35 = 6x35 + 4x36 = 354 (số ngày trong một năm thuờng)

 

BÀI ÔN-TẬP

Hăy t́m hiểu cơ-chế và vận-hành của Thất-diệu-đồ kỳ-bí sau đây:

Tín-kiện: Xin xem lại Bảng 02.1 Ngày trong Tuần-lễ, Thất-tinh và Nhị-thập-bát-tú và Bảng 02.2 Nguồn gốc Thiên-văn của của Ngày trong Tuần-lễ, cũng như các liên-văn tương-ứng (Xin xem Bài Kỳ 2). Một ngày có 24 = 3x7 + 3 giờ.

Dẫy thất-diệu được sắp trên ṿng tṛn theo chiều lượng theo thứ-tự cổ truyền Hy-lạp S: Thổ-tinh, Mộc-tinh, Hoả-tinh, Mặt Trời, Kim-tinh, Thủy-tinh, Trăng. Các ngày trong tuần tương-ứng lại đi theo dẫy S’: Mặt Trời, Trăng, Hoả-tinh, Thủy-tinh, Mộc-tinh, Kim-tinh, Thổ-tinh. Muốn đi từ thiên-thể S’n sang thiên-thể S’n+1 ta phải đi 3 ṿng + 3 vị nữa (3x7 + 3), đúng như kế đă định. QED.

 

 

 

 

    Xem tiếp Kỳ 22

 

  

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com