www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 27

 

DỊCH VÀ KHOA-HỌC HIỆN-ĐẠI

 

 


 

 (Tiếp theo Kỳ 200)

 

Năm 1974, tôi được giáo-sư Trưởng-ban Vật-lư Nguyên-tử Đại-học Khoa-học Sài-G̣n Cao-Xuân-Chuân đề-nghị nói chuyện tại Ban này về Kinh Dịch và Cơ-học Nguyên-lượng (The I Ching and Quantum Mechanics). 

Sang Canada, tôi lần lượt diễn-thuyết vế Kinh Dịch bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp: tại Toronto với đề-tài "Hồn Nước trong Kinh Dịch", tại Ottawa với đề-tài "A Journey into the Yi Universe", và tại Montréal với đề-tài "Le Yi King et la Société Vietnamienne". Đêm đông ngày 17.01.1992, thể theo lời mời cuả Tiến-sĩ F. David Peat, một tác-giả quen-thuộc trong giới Tân-vật-lư, tôi có tham-dự Hội-thảo về Giá-trị Khoa-học (Values in Science) tại Đại-học Ottawa với sự tham-gia cuả nhiều khoa-học-gia của các Đại-học New York, Toronto, Montreal và Ottawa, và có dịp minh-hoạ "Duy-biến Biện-chứng-pháp" cuả Dịch bằng nối dài giải-tích tứ-tượng giả-định bằng cách áp-dụng công-thức:
  E = mc2 cuả nhà Bác-học Einstein vào trong "Lục-hư" cuả Dịch-lư:
  E4 = m4c8, nghiệm đúng cho mọi vi-tử có năng lượng dương E, phản-vi-tử (antiparticles) có năng-lượng âm –E, cũng như siêu-tốc-tử (tachyons) có khối-lượng ảo im và phản-siêu-tốc-tử (antitachyons) có cả khối-lượng ảo lẫn năng-lượng âm, sau khi ta khai-căn 2 lần hệ-thức này, ta được :

E2 = m2 c4   ̃    E = mc2    và   - E = mc2   với  i2 = - 1

E2 = - m2 c4   ̃    E = imc2    và   - E = imc2

Giả-định là v́ tôi đă coi độ lớn p = |p| của động-lượng (momentum) vi-tử như không đáng kể đối với năng-lượng E: |p| << E.

Mặt khác, trong vật-lư có 2 loại vùng: vùng có thời-gian và vùng không-gian ṛng tức phi-thời-gian. 

          Trong một bài đăng trong Physical Review 159, 1089 (1967), nhà Vật-lư George Feinberg lư-luận như sau:

          Trong một vùng thời gian và đối với 1 hệ-thống quy-chiếu thông-thường đươc gọi là quy-hệ ORF (Ordinary Referential Frame) (xj) (j = 0, 1, 2, 3), nếu một vi-tử di-động song song với x1 =  x với vận-tốc tỷ-đối  b = v/c < 1, nó sẽ có khối-lượng:

m = g m0 = m0/với g là hệ-số thời-gian co giăn (time dilation factor).

Thành-phần của vectơ năng-lượng/xung-lượng tức năng-lượng và xung-lượng sẽ là:

          Bây giờ nếu một siêu-tốc-tử di-động song song với x1 với vận-tốc v > c, căn-số trở thành ảo. Gọi m* là chân-khối-lượng siêu-tốc-tử và đặt: m* = mi với i2 = - 1 và m là một số thực; m* ảo đối với (xj), nhưng bây giờ ta có:

Feinberg suy ra rằng thành-phần của vectơ năng-lượng/xung-lượng là những số thực, nghĩa là có thể đo được trong quy-hệ ORF (xj).

Khi b = ¥, ta có E = 0 và I =  mc. Ngược lại, khi v giảm về phía c, E và I đều tăng về phía ¥. Ông kết-luận rằng ta có cả thẩy 3 lớp vi-tử: 

1) Bradyons (tiếng Hy-lạp bradus = chậm), luôn luôn có vận-tốc v < c, bao gồm tất cả các vi-tử thuộc vùng thời-gian của Vật-lư Nguyên-tử.

2) Luxons (La-ngữ lux = ánh sáng), luôn luôn có vận-tốc v = c. Loại này gồm có quang-tử (photons), và, rất có thể, trọng-trường-tử (gravitons).

3) Tachyons (tiếng Hy-lạp takhus = nhanh), vi-tử hoàn-toàn lư-thuyết, luôn luôn có vận-tốc v > c. 

Mới đây, năm 2002, nhờ các cuộc thí-nghiệm tại Sudbury Neutrino Observatory (SNO) của Canada, chúng ta được biết rằng, các electron-neutrinos xuất-phát từ mặt trời có thể biến-loại sang hai loại kia (Xem Bảng 20, dưới đây) và chúng c̣n có trọng-lượng nữa. Do đó Mô-thức Tiêu-chuẩn (Standard Model) của Vật-lư Nguyên-tử cần được sửa đổi lại để ghi nhận dữ-kiện quan-trọng này. Sau 30 năm chờ đợi, nay chúng ta biết mới biết neutrinos là bradyons có thủ-tính (chirality) tả-triền.
 

Vi-tử

Họ 1

Họ 2

Họ 3

 

Leptons

Khinh-tử

Electron

Hào 4-

Muon

Hào 5+

Tau

Hào thượng-

Electron Neutrino

Hào 3+

Muon

Neutrino

Hào 2-

Tau

Neutrino

Hào sơ+

 

 

Quarks

Up   quark

Hào 4-

Charm
Quark

Hào 5+

Top
quark

Hào thượng-

Down
quark

Hào 3+

Strange
Quark

Hào 2-

Bottom
quark

Hào sơ+

Bảng 20  Bảng tỷ-giảo Hào và Vi-tử

Như vậy vũ-trụ của vi-tử chia thành 3 vùng: vùng thứ-quang (sub-liminal) của bradyons, vùng toàn-quang (luminal) của luxons và vùng siêu-quang (superluminal) của tachyons. Hai vùng đầu có thể sống chung hoà-b́nh. C̣n vùng thứ ba tách biệt hẳn, và cho đến bây giờ các khoa-học-gia vẫn chưa biết bản-chất: thời-gian hay không-gian ṛng? 

Năm 1985, giáo-sư Régis Dutheil và bà thạc-sĩ Brigitte Dutheil, trong bài "Un Nouveau Modèle Temporel : Synchronicité et A-causalité dans l’Univers Superlumineux", tŕnh bày tại Hội-luận Quốc-tế thứ X về Sinh-học Toán-học, đă nới rộng Thuyết Tương-đối Đặc-biệt và Tổng-quát cho vùng không-gian ṛng và chứng-minh có thể suy từ lư-thuyết mới này ra một dạng-thức cho phép giải-thích ư-niệm về hiện-tượng đồng-thời-phát-sinh (synchronicity) của Jung-Pauli trong một hệ-thống quan-hệ phi-nhân-quả (acausality).

Lư-thuyết về hiện-tượng phát-sinh đồng-thời này bắt đầu với sự cộng-tác cuả hai tư-tưởng-gia: tâm-lư-gia người Thụy-sĩ Carl Jung (1875-1951) và vật-lư-gia người Mỹ gc Áo Wolfgang Pauli (1900-1958), giải thưởng Nobel về Vật-lư (1945) nhờ nguyên-lư trừ ngoại (exclusion principle) của ông. 

Trong các lược-đồ theo sau, tôi có thêm vào các quẻ để diễn-ư. Theo Jung, tâm-lư mỗi cá-nhân là kết quả của cân bằng giữa Trực-giác, Cảm-giác, Tư-tưởng và T́nh-cảm; đồng thời, ông cũng định-nghĩa tính nội-tỉnh (introversion) cũng như ngoại-hướng (extroversion):

                H́nh 39 Cân bằng Tâm-lư mỗi Cá-nhân

 

          Để có thể phán-đoán, Jung và Pauli thêm vào bộ ba Không-gian, Thời-gian, Nhân-quả, yếu-tố Đồng-thời Phát-sinh cho thành bộ tư (quaternio):

                    H́nh 40 Bộ Tư Đồng Bộ Phát-Sinh

Do đề-nghị cuả Pauli, cặp Không-gian/Thời-gian được thay thế bằng cặp Năng-lượng Bất-diệt/Thời-Không, thích-hợp hơn trong khung-cảnh của Tân-vật-lư. Ngoài ra, Jung nghiệm ra rằng Nhân-quả chính là liên-lạc thường-trực bằng tác-dụng và tính Đồng-thời Phát-sinh chính là liên-lạc đứt đoạn qua trung-gian của Tiếp-xúc, Tương-đẳng hoặc Ư-nghĩa:

                       H́nh 41 Quy-hệ Pauli-Jung
 

Trên nguyên-tắc, một hiện-tượng vật-lư chỉ phi-nhân-quả (acausal) cho đến khi t́m được liên-hệ nhân-quả! Ta thử quan-sát dao-động cuả quả lắc Foucault rất nặng. Mặt phẳng dao-động quay với thời-gian quanh một trục thẳng đứng. Mặt phẳng này chuyển-động tṛn đối với địa-cầu. Ngược lại, nếu lúc ban đầu mặt phẳng dao-động trùng với thiết-diện của một tinh-hà ở xa, 2 mặt phẳng này tiếp tục trùng nhau. Vật-lư-gia Mach cho đó là tác-dụng của toàn-vũ-trụ lên quả lắc địa-phương. Nói như thế cũng giống như ông Newton cắt nghĩa sức vạn-vật hấp-dẫn bằng tác-động ở xa. Nhà Thiên-văn vật-lư Hubert Reeves bảo đó chỉ là biến-tại-tính (omniprésence) hoặc là tính bất khả phân-ly (non-separability). Các nhà vật-lư lư-thuyết gọi đó là toàn-thể-tính (globality) mà một thí-dụ ngoạn-mục là thí-nghiệm của Alain Aspect và cộng-sự-viên về phân-cực trái chiều của 2 quang-tử phóng theo 2 hướng trực-đối (1981): 

Lư-thuyết về hiện-tượng phát-sinh đồng-thời của Jung dựa vào kinh-nghiệm của ông về tử-vi tây-phương (astrology) và tác-phẩm của J.B. Rhine về siêu-tâm-lư-học (parapsychology), nên không thuyết-phục được một khoa-học-gia nào cả. Tôi đă đọc cả chục quyển sách về vấn-đề gây cấn này, kể cả cuốn "Synchronicity: The Bridge Between Matter and Mind" của nhà vật-lư bạn F. David Peat, rút cục vẫn chưa hài ḷng. Một hôm, t́nh cờ đọc lại tạp-chí ReVISION, Vol. 3, No. 2, Fall 1980, thấy có bài "A Mathematical Model in Support of Jung’s Synchronicity" của David W. Brisson, tôi lấy làm thích thú. Vậy nên xin tóm tắt công-tŕnh khảo-cứu ấy như sau: 

Trong "Parapsychology, Frontier Science of the Mind", J. B. Rhine trần-thuật rằng ông tính thiên-sai tiêu-chuẩn (standard deviation) của phản-ứng các thụ-thí-nhân (subject) bằng công-thức tổng-quát về độ biến-thiên (variance) của phân-bố nhị-thức (binomial distribution). Nhưng nơi bài khảo-luận "Probability Theory" trong sách "Survey of Applicable Mathematics" (1969), Jaroslav Jajek nhận xét rng chỉ có thể dùng công-thức nêu trên với 2 điều-kiện: (1) Các thử nghiệm lập đi lập lại phải độc-lập; (2) Xác-suất thành-công phải không đổi. Các thử nghiệm của J. B. Rhine bằng lá bài Zener tại đại-học Duke, đều không thoả 2 điều-kiện này. Rút cục, mọi khảo-cứu của Rhine về ESP (Extra Sensory Perception) chỉ là nhầm lẫn thống-hệ (systematic error). C̣n Tử-vi tây-phương và t́nh cờ ư-vị (meaningful coincidences) của Jung chứng tỏ là ông coi thường bản-chất của Xác-suất-học. Thiên-văn-gia Vật-lư Hubert Reeves có phê-b́nh là hiện-tượng đồng-thời phát-sinh của Jung không vô-bổ và rỗng tuếch mà chỉ là trực-giác phát-biểu bằng những bập bẹ vụng về. 

Brisson nhận xét là các điển-tịch cổ lăo như Kinh Dịch, Đạo-đức-kinh hay các kinh của Phật-giáo Thiền-tông đă hằn in vết phi-nhân-quả (Ta lại thấy tam-giáo tái xuất-hiện !). Thành thử ra sau khi khảo cứu kỹ càng về sinh-lư của thị-quan và biên-tập ra "Hypergraphics: Visualizing Complex Relationship in Art, Science and Technology" (xem bên dưới), Brisson chuyển sang nghiên cứu H́nh-học của Lobachevski, và nhận thấy chỉ có thể dùng H́nh-học Euclid để mô-tả h́nh-học này trong có mỗi trường-hợp h́nh giả-cầu (pseudosphere). Ngoài ra h́nh-học của mặt phẳng hyperbolic quân-h́nh (isomorphic) với một mặt cầu có bán-kính ảo nhưng đ̣i hỏi 4 toạ-độ duy-nhất nghĩa là 2 biến-số tạp trong khi mặt phẳng Argan của số tạp chỉ cho phép có một số tạp z = a + ib. Bây giờ bài toán thu về việc biểu-đạt mặt phẳng hyperbolic bằng cách biểu-diễn phương tŕnh ṿng tṛn bán kính ảo trên 1 đồ-thị tạp 4 chiều. Thông thường b́nh-phương tuyệt-trị (modulus) của số tạp z là: |z|2 = a2 + b2. Ṿng tṛn lượng-giác tâm O, bán-kính 1, có phương-tŕnh: X2 + Y2 = 1. Khi X > 1, như X = 2 chẳng hạn, . Hiện giờ ta phải t́m cách biểu-thị mọi trị-số thực và ảo của X và Y, nghĩa là đồ-thị phải có đủ 4 đường thẳng độc-lập, trực-giao với nhau, mỗi đường thẳng ấy biểu-thị một trong 4 số-hệ kể trên. Nếu ta biểu-diễn các trị-số thực và ảo của X và Y, ta sẽ được H́nh 42, trong đó ta có vẽ vài thiết-diện của một mặt cong trong số muôn vàn thiết-diện có thể vẽ được. H́nh-học của hệ-thống này rất phức-tạp.

           H́nh 27.04  Biểu-thị một mặt phẳng hyperbolic

Ta thử ngắt một hyperbol khỏi h́nh 42 để ngắm nghía kỹ hơn. Hyperbol của H́nh  43 này được lấy từ H́nh 42 với X thực và Y ảo và mặt phẳng của nó được quay sao cho song song với mặt phẳng trang giấy để thấy rơ hơn đối-xứng của h́nh vẽ. Ta thử thuyết-minh h́nh hyperbol này. Theo bản-chất, mặt phẳng của nó là một mặt phẳng tạp trong đó mọi độ dài song song với trục hoành là một số thực và mọi độ dài song song với trục tung là một số ảo. 

Theo quy-ước, khoảng cách trong một mặt phẳng tạp là một số thực dương. Nói khác đi, mọi khoảng cách từ gốc O đến một điểm của hyperbol trong H́nh 43 là một số thực dương giống như với một hyperbol trong mặt phẳng thực vậy. 

Một số vấn-đề nghiêm-trọng được đặt ra v́ khi ta hạ đường cao từ một điểm P của hyperbol xuống trục hoành, đường cao này sẽ song song với trục tung ảo, tức thị độ dài của nó phải là một số ảo. Khi ta hạ đường cao từ P xuống trục tung, song song với trục hoành thực, khoảng cách tính bằng định-lư Pythagore sẽ mâu-thuẫn với khoảng cách tạp. Một vấn đề khác liên-quan đến quỹ-tích các điểm của hyperbol cách đều O. Nếu ta coi khoảng cách từ O dến hyperbol như một biến-số, điều này sẽ vi-phạm trắng trợn định-nghĩa ṿng tṛn lượng-giác có tâm O. 

               H́nh 43                                       H́nh 44

    Thiết-lục mặt phẳng hyperbolic      Định-nghĩa mới của tuyệt-trị tạp

 

 H́nh 45 Mặt tạp (X, Yi) xoay khỏi H́nh 44     H́nh 46 H́nh 43, 45 trập một

 

          Các vấn-đề nêu trên sẽ bị loại trừ ngay nếu ta t́m được một nghĩa b́nh thường hơn cho khoảng cách trong mặt phẳng tạp. Giá sử ta chấp-nhận định-nghĩa của ṿng tṛn lượng-giác cho hyperbol trong mặt phẳng tạp. Khi P càng dời xa O bao nhiêu, khoảng cách OP càng dài bấy nhiêu, nhưng ư-niệm mới về độ dài dựa vào nghĩa của cạnh huyền của 1 tam-giác vuông mà một trong 2 cạnh của góc vuông nằm dài theo trục tung ảo. Nếu ta tính độ dài của 1 cạnh bằng cách dùng cả số thực lẫn số ảo, ta thấy rằng định-lư Pythagore không xung-khắc với mặt phẳng tạp nữa, miễn là ta chấp-nhận là khi một đoạn thẳng quay trong mặt phẳng tạp, độ dài đầu-ảnh (projected length) của nó sẽ thay đổi, giống như trong không-gian 3 chiều, 1 cố-thể sẽ có  độ dài đầu-ảnh thay đổi khi vật quay trước màn ảnh. Brisson đề-nghị một định-nghĩa mới cho độ dài 1 số tạp là : |z|2 = a2 + (bi)2 = a2 – b2. Ta tiếp-tục điểm-xuyết mặt phẳng tạp. Ta dùng các trị-số mới này để vẽ ṿng tṛn lượng-giác tâm O, bán kính ảo i có phương-tŕnh là:  X2 + Y2 = -1. Ta được H́nh 44, tương-tự nhưng đối-xứng ngược với H́nh 42. Nếu ta xoay mặt phẳng (X, Yi) khỏi H́nh 44, ta sẽ được 1 h́nh hyperbol cắt ngang trục ảo như trong H́nh 45, và mỗi điểm của hyperbol này cách gốc O một khoảng i. Trập 2 h́nh 43 và 45 lại ta sẽ được H́nh 46 với 2 nhánh hyperbol theo mỗi trục. Ngoài ra phương-tŕnh 2 đường tiệm-cận của 2 hyperbol này là: X2 + Y2 = 0. Đây là 2 đường đẳng-phương : mọi điểm của chúng đều cách O một khoảng bằng căn-số của số tạp 0. Như thế là có được một phương-cách đo lường trong mặt phẳng tạp tương-dung (consistent) tuy hơi rắc rối, giữ lại được cả định nghĩa ṿng tṛn lẫn định-lư Pythagore.         

Trong Thuyết Tương-Đối Thu Hẹp (Special Relativity), mặt phẳng Minkowski giữ một vai tṛ quan-trọng. Trong mặt phẳng thực này, trục hoành biểu-thị không-gian và trục tung thời-gian, nhưng cả thời-gian lẫn không-gian được đo với cùng 1 đơn-vị! Cấu-trúc mặt phẳng này được biểu-đạt bằng 1 hyperbol vuông góc có phương-tŕnh là: X2 – Y2 = 1 mà ông Einstein viết thành : X2 – t2 = 1. Nếu ta vẽ ṿng tṛn có phương-tŕnh : X2 + t2 = 1 và nếu  ta nhớ rằng mặt phẳng Minkowski tương-ấn với mặt phẳng tạp (X, ti) như vừa nêu lên bên trên, bao nhiêu ưu-phiền thời-không của TTĐTH  sẽ tan biến mà môn học này vẫn giữ nguyên vẹn mọi thành-quả thực-nghiệm cùng lư-thuyết.         

Brisson có tŕnh bày nới rộng hyperbolic vừa kể cho Thuyết Tương-Đối Tổng-Quát (General Relativity) tại "11th Annual Simulation and Modeling Conference" ở Pittsburgh (1980). Chỉ xin nhấn mạnh là không-gian Minkowski 4 chiều với ds2:

ds2 = dx2 + dy2 + dz2 - it2

nên nới rộng hyperbolic bó buộc mọi vật phải di-động trong không-gian tạp 6 chiều, 3 chiều thực cho không-gian và 3 chiều ảo cho thời-gian. Trong cấu-trúc h́nh-học tạp rất phức-tạp này, ta vẫn có thể dùng mặt phẳng Argan làm thiết-diện.         

Trở lại H́nh 42, hăy xem đoạn thẳng dọc theo trục thực giữa 2 nhánh hyperbol như là thiết-diện của ṿng tṛn C trong mặt phẳng Argan. Trục ảo bây giờ là trục thời-gian: bán-trục âm là quá-khứ, gốc toạ-độ là hiện-tại, bán-trục dương là tương-lai. Hai nhánh hyperbol, một thành-phần của ṿng tṛn, vừa vươn tới tương-lai, vừa ngoái lại quá-khứ đến tạn vô-cực như Dịch nói: " 順,知 逆。是 也。Sổ văng giả thuận, tri lai giả nghịch. Thị cố Dịch nghịch sổ dă." (Cái đă qua đếm thuận, cái sẽ tới đếm ngược. Cho nên Dịch đếm ngược vậy). (Thuyết-quái-truyện III/2). 

H́nh 27.09 biểu-thị thời-gian trong Thuyết Tương-đối Thu hẹp: 2 ṿng tṛn tâm O và O’’ cuả hiện-tại và 1 ṿng tṛn tâm O’ ở tương-lai. Ở đây trục thời-gian được vẽ ngang để dễ bề quan-sát. Hăy nhận chân rằng ṿng tṛn trên cùng cắt ṿng tṛn bên dưới cả trong quá-khứ lẫn tương-lai. Ṿng tṛn góc trên bên phải chính thị tương-lai ṿng tṛn trên cùng, tự cắt chính nó và một ṿng tṛn khác trong quá-khứ. Nói khác đi, mọi vật đều ‘giao’ mọi vật khác, kể cả chính nó ở một thời-điểm khác, trong cả quá-văng lẫn vị-lai . Thật là tương-ấn với triết-thuyết tâm-học của Thiệu-tử, Lục-tử và Vương-tử.

H́nh 27.09  Thời-gian trong Thuyết Tương-đối Thu Hẹp

 

Chung cuộc, cấu-trúc tạp 6 chiều cuả David Brisson biểu-đạt cấu-trúc vũ-trụ cuả chúng ta, hiểu theo nghiă xưa cuả Hoài-nam-tử cũng như nghiă nay cuả Albert Einstein. Thế mới biết loài người bất-diệt! Và ĐẠO vừa có ư-vị luận-lư khoa-học vừa có thú-vị toán-học, trong lục-hư tạp 6 chiều cuả Toán Dịch mà người ngoài phố gọi là: chiều dài, chiều rộng, chiều cao, chiều qua, chiều nay, và chiều mai, tương-đương với lục-hợp cuả cổ-nhân (trước, sau, trên, dưới, tả, hữu) mà Tiên-phong Mộng-liên-đường chủ-nhân có đề-cập trong "Bài Tựa Truyện Kiều" :  始 訝 素 如 子 之 用 心 之 苦,敘 事 之 神,寫 景 之 工,談 情 之 切,自 非 眼 浮六 合,心 貫 千 秋,未 必 有 始 此 力 也 Thủy nhạ Tố-như-tử chi dụng tâm chi khổ, tự-sự chi thần, tả cảnh chi công, đàm t́nh chi thiết, tự phi nhăn phù lục-hợp, tâm quán thiên-thu, vị tất hữu thủy thử lực dă." mà cụ Trần trọng Kim đă dịch nghiă: "Tố-như-tử dụng tâm đă khổ, tự sự đă khéo, tả cảnh đă hệt, đàm t́nh đă thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cơi, tấm ḷng nghĩ suốt cả ngh́n đời, th́ tài nào có cái bút-lực ấy". 

Với hành-trang Dịch-lư và Lư Đồng-thời-phát-sinh cải-thiện của David Brisson, chúng ta có thể lên đường thám-sát ư-nghĩa cuộc đời trong vùng không-gian ṛng R4, trong đó có Vùng Không-gian thiền của ông bạn học Vũ Tiến Phái mà tôi nghiệm thấy có đặc-tính tứ-vô: Không-gian vô cùng, Thời-gian vô-nghĩa, nhân-gian vô duyên, và Vơng-gian (Internet) vô-lư v́ có nhiều chuyện xẩy ra trong Internet chưa ai cắt nghĩa gẫy gọn được.
  
 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 202

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com