www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 26

 

Y-DỊCH VẬN-KHÍ

 


 

 (Tiếp theo Kỳ 198)

   

                Trong Thiên 'Vận-khí Bí-điển'  (487, tr. 1727), Hải-thượng Lăn-Ông có viết:

          Cổ-thư nói: "Có học được Kinh Dịch mới học được thuốc". Câu này là cuả Tôn Tư-Mạc (581-682): Bất tri Dịch bất túc dĩ ngôn Thái-y 不知易不足以言太醫 = Không hiểu Dịch, không xứng-đáng làm Thái-y. Câu nói trên không phải là bảo chúng ta phải học những lời ở mọi quẻ, mọi hào trong Kinh Dịch, mà chỉ  học về lư âm-dương biến-hoá, về lẽ tiêu-trưởng, bằng không làm sao hiểu rơ được hai tượng Bĩ-Thái

 

Y và Dịch-số

 

        Đông-y và Dịch-số có rầt nhiều quan-hệ. Gần đây, khoa-học tây-phương có trưng-dẫn hẳn hoi. Họ chú-thích rằng số-lư và y-lư tương-quán-thông, nhiều học-giả nhận-thức rằng Đông-y có nhiều mô-thức toán-học, hoàn-toàn tương-thông với  toán-học tây-phương. Sách Dịch thành nơi tượng mà hiển nơi số. Tượng-số diễn-biến, đạt vô-cùng.

          Thượng-Hệ VIII/1 nói rằng: "聖人有以見天下之賾,而擬諸其形容,象其物宜﹔是故謂之象。 Thánh-nhân hữu dĩ kiến thiên-hạ chi trách, nhi nghĩ chư kỳ h́nh-dung, tượng kỳ vật nghi, thị cố vị chi tượng = Đấng thánh-nhân thấy cái phức-tạp trong thiên-hạ mà so sánh chúng với nhau ở cái h́nh-dung rồi tùy từng vật thích-hợp mà tưởng-tượng ra cho, nên gọi là tượng", để diễn-tả thiên-điạ biến-hoá mà suy ra nhân-sự cát hung. Ấy đều là lấy số làm đại-bản, dịch-tượng quái-hào đều để man-diễn nghĩ-tượng vũ-trụ nhân-vật. Nên nói: "Vật sinh ra nên mới có tượng, có tượng nên  mới sinh sôi nẩy nở, sinh sôi nẩy nở sau mới có số", tức là muốn nói trước có tượng rồi sau mới có số vậy.

          Thuyết-quái-truyện I/1, 2 nói: "昔者聖人之作易也。Tích giả thánh-nhân chi tác Dịch dă ... tham thiên lưỡng điạ nhi ỷ số = Ngày xưa đấng thánh-nhân làm ra Kinh Dịch ... nhân trời với 3, chia đất với 2, mà dựa vào số". Hơn hết, Kinh Dịch vốn là sách bói cỏ thi, lấy hai hào âm dương làm gốc, chia quái-văn làm 8 (bát-quái), nhân chồng lên thành 64 quẻ kép, gồm đủ 384 hào. Lại nói: "極其數,遂定天下之象。Cực kỳ số toại định thiên-hạ chi tượng = Đếm đến cực-điểm để mà định cái tượng cuả thiên-hạ" (Thượng-Hệ X/3). Ư muốn nói: lấy số vô-cùng để tả vật-tượng vô-cùng vậy. Số đại-diễn 50 đ dùng vào việc thiệt-thi quy-cơ, bói cát hung cuả nhân-sự, với thiên-số 5, điạ-số 5, thiên-số 25, điạ-số 30, phàm số cuả thiên-điạ là 55, loại dịch-số này, lịch-pháp các đời sau năng dùng.

 

HỌC-THUYẾT ÂM-DƯƠNG NGŨ-HÀNH

(486, tr. 91-140)

 

                Học-thuyết Đông-y-dược được xây dựng trên cơ-sở học-thuyết Âm-dương Ngũ-hành. Nói khác đi, Học-thuyết, phép tắc và tư-tưởng Đông-y tác-dụng lên y-lư năng làm sáng tỏ vận-dụng dịch-lư kiêm-tham tư-tưởng cuả triết-học và khoa-học hiện-đại đủ tiến đến chỗ hoàn-mỹ vô-khuyết.             

 

KỲ KINH BÁT MẠCH

奇經八脈

(486, tr. 311-344)

         

Kỳ nghiă là đơn lẻ, có nghiă là không hệ-thuộc chính-kinh. Kỳ kinh bát-mạch là một khái-niệm căn-bản cuả Trung-y. Bát-mạch bao gồm: đốc-mạch 督脈, nhâm-mạch 任脈, xung-mạch 衝脈, đới-mạch 帶脈, âm-duy-mạch 陰維脈, dương-duy-mạch 陽維脈, âm-kiểu-mạch 陰蹻脈 và dương-kiểu-mạch 陽蹻脈

 

VẬN-KHÍ LƯ-LUẬN

(446, tr. 1997-2020)

 

          Chu-Dịch là đại-biểu cuả văn-hoá Trung-quốc, đồng thời cũng là nguồn cuả văn-hoá Trung-quốc. Dịch-lư gồm đủ cái triết-lư cao-thâm và sâu dầy. Triết-học là tháp-đăng cuả khoa-học tự nhiên. Dịch-lư là chỉ-đạo tối cao cuả lư-luận vận-khí. Nhân đó, năng đẩy mạnh đà tiến-triển cuả học-thuyết vận-khí này đồng thời củng-cố chính Dịch-lư.  
 

TƯƠNG-QUAN Y DỊCH
 

          Chu-Dich chỉ-đạo lư-luận âm-dương, mà lư-luận Trung-y lại lấy âm-dương làm hạch-tâm trong hệ-thống lư-luận. Chu-Dịch là suối nguồn cuả Hoàng-đế Nội-kinh, ngược lại Kinh này cũng cung-cấp cho Dịch-lư rất nhiều ứng-dụng, thành thử ra dịch-lư và y-lư kết-hợp với nhau một cách chặt chẽ, khiến cho lư-luận Trung-y trở thành một môn triết-lư rất cao, trường-kỳ chỉ-đạo lư-pháp phương-dược, đồng thời cung-cấp cho Trung-y-học chất-liệu để phát-triển mạnh mẽ. Có dịch-lư, lư-luận vận-khí mới năng đạt được mức độ cao sâu và lớn lao.

          Dịch-lư phân làm hai đại-phái là tượng-số và nghiă-lư, hai đại-học-phái ấy đồng thời cấu-trúc thành hai đại-chi trụ, ảnh-hưởng mạnh mẽ trên văn-hoá Trung-quốc. Theo giác-độ nghiă lư mà nghiên-cứu Chu-Dịch ta được biểu sau đây: 

Tượng-số

Thiên

Điạ

Lôi

Phong

Thủy

Hoả

Sơn

Trạch

Bát-quái

Kiền

Khôn

Chấn

Tốn

Khảm

Ly

Cấn

Đoài

Nghiă-lư

Kiện

Thuận

Động

Nhập

Hăm

Lệ

Chỉ

Duyệt

          Một ví-dụ cụ-thể về tượng-số-học là quẻ Kiền tượng trời, quẻ Khôn tượng đất, quẻ Khảm tượng nước, quẻ Ly tượng lửa, cái học này rất thịnh-hành đời Hán, như ta thấy trong 'Dịch-vỹ' cuả Trịnh-Huyền, trong 'Kinh-thị Dịch-truyện' cuả Kinh-Pḥng, trong 'Tiêu-thị Dịch-lâm cuả Tiêu-Cống' cùng là Chu-dịch Chương-cú cuả Mạnh-Hỉ. Tượng-số-học mở rộng chân trời cho việc nghiên-cứu Khoa-học hiện-đại cũng như ảnh-hưởng sâu rộng trên Đông-y.

          Nghiă-lư-học ắt đối với quẻ Kiền thủ nghiă là kiện, mà đối với quẻ Khôn thủ nghiă là thuận (hoặc nhu), khảm ắt thủ nghiă hăm. Cái học ấy thời-kỳ Ngụy-Tấn phát-triển mạnh. Sách Chu Dịch Chú cuả Vương-Bật đưọc viết ra trong thời-kỳ này. Nghiă-lư-phái có ảnh-hưởng mạnh mẽ lên khoa-học xă-hội. Thời-kỳ Tống-Dịch, cả tượng-số-phái lẫn nghiă-lư-phái đă phát-triển thành hai đại-học-phái, Chu-Dịch Bản-nghiă cuả Chu-Hi là tập-đại-thành cuả hai đại-phái ấy. Ngoài ra, Chu-Dịch Chính-nghiă cuả Khổng Dĩnh-Đạt cùng là Y-xuyên Dịch-truyện cuả Tŕnh-Hạo là hai kiệt-tác cuả Nghiă-lư-phái.

          Nguyên-Minh trở đi, hai đại-phái phát-triển độc-lập, suy-động Dịch-học phát-triển một cách khách-quan.

Tượng-số-phái cuả Chu-Dịch ảnh hưởng lớn lao lên khoa-học tự nhiên cuả Trung-quốc, mà nghiă-lư-học ắt ảnh-hưởng to lớn trên khoa-học xă-hội, ba ngàn năm nay không hề suy giảm.

Đông-y thuộc phạm-trù Tượng-số-phái cuả Chu-Dịch nhưng cũng liên-quan mật-thiết với nghiă-lư-phái, nhân v́ y-học và các khoa-học khác dạng không giống nhau. Hoàng-đế Nội-kinh dung hợp tượng-số-học và nghiă-lư-học cuả Chu-Dịch thành một khối. Trọng-điểm cuả bẩy thiên vận-khí là Tượng-số Y-học, quan-hệ mật-thiết với tượng-số-học cuả Chu-Dịch.  Bẩy thiên vận-khí đă hấp-thụ được Dịch-lư, lại tiến-hành phát-triển, là một ứng dụng cao-tằng cuả Dịch-lư tại Y-học.

 

TƯƠNG-QUAN GIỮA THIÊN-ĐẠO KHÍ-HOÁ VÀ
VẬN-KHÍ KHÍ-HOÁ

        Khí-hoá-quan cuả Chu-Dịch bao gồm Học-thuyết âm-duơng ngũ-hành, Thái-cục Bát-quái Tượng-số-học, Hà-đồ Lạc-thư Tượng-số-học cùng Chiêm-phệ-học, ảnh-hưởng sâu rộng trên Học-thuyết Vận-khí-học.

          Chu-Dịch yên-định cơ-sở vững chăi cho khí-hoá-quan cuả Chu-Dịch.

          Chu-Dịch hầu như áp-đặt chủ-quyền lên khí và khí-hoá, như Hạ-Hệ V/13 nói: "天地絪縕,萬物化醇。Thiên-điạ nhân-uân, vạn-vật hoá thuần = Khí trời đất điều-hoà th́ muôn vật đều hoá thuần-tuư". Đề ra muôn vật đều sản-xuất được khí-hoá. 'Nhân-uân' tức thị thái-sơ cuả thiên-điạ âm-dương khí-hoá, là hiện-tượng khí-hoá sớm nhất trong trời đất, khí nhân-uân tức thị thái-khí nguyên-thủy, tức thị cũng là khí âm-dương giao-dung sớm nhất cuả trời đất.

          Chu-Dịch lại nói: "Hữu thiên-điạ, nhiên hậu hữu vạn-vật = Có trời đất rồi sau mới có muôn vật" (Tự-quái-truyện). Cũng nói: "男女構精,萬物化生。 Nam nữ cấu tinh, vạn-vật hoá sinh = Trái gái kết-tinh th́ muôn vật hoá sinh ra (Hạ-Hệ V/13), 陰陽合德,而剛柔有體。Âm dương hợp-đức, nhi cương nhu hữu thể = Âm-dương hợp-đức mà cứng mềm có thể (Hạ-Hệ VI/1)" .

 Tiên-thiên Bát-quái Đồ

 

            Tiên-thiên Bát-quái, cũng gọi là Phục-hy Bát-quái: các quẻ xuyên-tâm-đối thác nhau (1’s complement). Bắt đều từ thiên-đỉnh, đi sang bên trái là bốn quẻ: kiền, đoài, ly, chấn; đi sang bên phải là bốn quẻ : tốn, khảm, cấn, khôn.

Hậu-thiên Bát-quái Đồ

          Hậu-thiên bát-quái cũng gọi là Văn-Vương bát-quái. Bắt đầu từ hướng tây-bắc, đi theo chiều kim đồng-hồ là tám quẻ: kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài.         

Lạc-thư là do lai cuả Hậu-thiên bát-quái xuyên qua Hậu-thiên quái-số như ta thấy trong đồ sau đây:

Trung-Thiên Bát-Quái Đồ

中天八卦图

          Bát-quái này do Bảo-Ba sáng-tạo. Bắt đầu từ thiên-đỉnh, đi theo chiều lượng-giác là các quẻ: ly, khôn, chấn, cấn, khảm, kiền, tốn, đoài. Các quẻ xuyên-tâm đối, thác nhau (1’s complement).

Bát-quái Ngũ-hành Đồ

八卦五行圖

 

                Đây cũng là hậu-thiên bát-quái có kèm theo phương-vị và ngũ-hành cuả bản-quái. Từ thiên-đỉnh đi theo chiều lượng-giác là các quẻ: ly (nam, hoả), tốn (đông-nam, mộc), chấn (chính-đông, mộc), cấn (đông-bắc, thổ), khảm (chính-bắc, thủy), kiền (tây-bắc, kim), đoài (chính-tây, kim), và khôn (tây-nam, thổ).

Hà-Đồ Bát-Quái Cửu-Cung Đồ

 

 

Bên trên là Hà-đồ và Lạc-thư, bên duới là tiên-thiên bát-quái, hậu-thiên bát-quái. Hà-đồ là nguồn cuả tiên-thiên bát-quái, Lạc-thư là nguồn cuả hậu-thiên bát-quái (như ta đă thấy ở bên trên).

Hậu-thiên bát-quái bắt nguồn từ Chương V, Thuyết-quái-truyện, chuyên nói về muôn vật theo chân Đấng Chủ-tể mà ra vào. Tiết I nói: “Đấng Chủ-tể ra ở Chấn (đông), thanh-khiết, chỉnh-tề ở Tốn (đông-nam), thấy nhau ở Ly (nam), làm việc ở Khôn (tây-nam), vui nói ở Đoài (tây), đánh nhau ở Kiền (tây-bắc), khó nhọc ở Khảm (bắc), xong việc rồi nói ở Cấn (đông-bắc)” (帝出乎震,齊乎巽,相見乎離,致役乎坤,說 言乎兌,戰乎乾,勞乎坎,成言乎艮。Đế xuất hồ chấn, tề hồ tốn, tương-kiến hồ ly, trí-dịch hồ khôn, duyệt ngôn hồ đoài, chiến hồ kiền, lao hồ khảm, thành ngôn hồ cấn.) 

Chương V Tiết II chỉ là tán rộng Tiết I mà thôi:

Vạn-vật xuất hồ chấn, chấn đông-phương dă; tề hồ tốn, tốn đông-nam dă, tề dă giả ngôn vạn-vật chi khiết tề dă; ly dă giả minh dă, vạn-vật giai tương kiến, nam phương chi quái dă; Thánh-nhân nam diện nhi thịnh thiên-hạ, hướng minh nhi trị, Cái thủ chư thử dă, khôn dă giả điạ dă,vạn vật giai trí-dưỡng yên, cố viết trí-dịch hồ khôn; đoài chính thu dă, vạn vật chi sơ duyệt dă, cố viết duyệt ngôn hồ đoài, chiến hồ kiền, kiền tây bắc chi quái dă, ngôn âm dương tương bạc dă, khảm giả thủy dă, chính bắc phương chi quái dă, lao quái dă, vạn vật chi sở quy dă, cố viết lao hồ khảm, cấn đông bắc chi quái dă, vạn vật chi sở thành chung nhi sở thành thủy dă, cố viết thành ngôn hồ cấn. 萬物出乎震,震東方也;齊乎巽,巽東南也,齊也者言萬物之潔齊也;離也者明也,萬物皆相見南方之卦也;聖人南面而廳天下明而治,蓋取諸此也,坤也者地也,萬物皆致養焉,故曰致役乎坤;兌正秋也,萬物之所說也,故曰說言乎兌,戰乎乾,乾西北之卦也,言陰陽相也,坎者水也,正北方之卦也,勞卦也,萬物之所歸也,故曰勞乎坎,艮東北之卦也,萬物之所成終而所成始也,故曰成乎艮。Muôn vật ra ở phương Chấn, Chấn là phương đông. Sạch sẽ chỉnh-tề ở Tốn, Tốn là đông nam, tề là nói muôn vật chỉnh tề, sạch sẽ. Ly là sáng, muôn vật đều sáng mắt mà thấy nhau; thánh-nhân xoay mặt về phiá nam mà nghe thiên-hạ, hướng về phiá sáng mà trị, tượng lấy ở chỗ đó vậy. Khôn là đất, muôn vật đều được nuôi nấng, nên mới bảo: làm việc ở Khôn. Đoài là chính thu, muôn vật đều vui vẻ, nên bảo rằng: nói năng vui vẻ ở Đoài. Đánh nhau ở Kiền, Kiền là quẻ tây bắc, là bảo âm dương xô xát nhau vậy. Khảm là nước, là quẻ chính bắc, là quẻ khó nhọc, muôn vật đều quy về đó, nên mới nói khó nhọc ở Khảm. Cấn là quẻ đông bắc, là nơi muôn vật làm nên cuối và làm nên đầu, nên nói rằng làm nên nơi phương Cấn. 

Thuyết-quái-truyện III/1 nói: " 天地定位,山澤通氣,雷風相薄,水火不相射,八卦相錯,數往者 順,知來者逆;是故,易逆數也。Thiên-điạ định-vị, sơn-trạch thông-khí, lôi phong tương bạc, thủy hoả bất tương-dịch, bát-quái tương-thác = Trời đất định ngôi, núi đầm cùng thông hơi, nước lửa không nhàm chán nhau, tám quẻ cùng giao nhau".

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 200

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com