www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 24

 

DỊCH - DỤNG

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 193)       

 

Thuật-số cuả Chu-Dịch và Đông-y Dưỡng-sinh-học

 (446, tr. 1216-1217)

Về thuật-số Nội-kinh · Thượng-cổ Thiên-chân luận Thiên chép rằng: "Đặt phép nơi âm-dương, an-hoà nơi thuật-số". Thuật-số là chỉ phép dưỡng-sinh. Trương Chí Thông nói: "Thuật-số là phép điều-dưỡng tinh-khí". Nguyên-tắc thuật-số dưỡng-sinh ở tại chỗ "Đặt phép nơi âm-dương", tức dưỡng-sinh tất nên thuận-ứng với quy-luật biến-hoá cuả thiên-điạ tứ-thời âm-dương. 'An-hoà nơi thuật-số' tức áp-dụng nguyên-tắc thăng-giáng, tổn-ích, cuơng-nhu, âm-dương tiêu-trưởng cuả Chu-Dịch, tại đạo-dẫn cuả số tiến-hành các loại dưỡng-sinh, bao gồm đạo-dẫn, án-ma, khí-công cùng là pḥng-nội tổn-ích (là một trong các 'thất tổn bát-ích' công), xưng là 'An-hoà nơi thuật-số'. Trương Cảnh-Nhạc nói: "Hoà là điều vậy, là phép tu thân dưỡng tính vậy".

          Áp-dụng Chu-Dịch thuật-số cho nội-dung dưỡng-sinh có tôn-kính 12 tiêu-tức-quái thuận-ứng tứ-thời dưỡng-sinh, bắt chước 'Chu-Dịch Tham-Đồng-khế' điều-khí tố-công cùng là căn-cứ vào việc Chu-Dịch sáng-tạo được 'thất tổn bát-ích' dưỡng-sinh đại-pháp.''

          Cái gọi là 'thất tổn bát-ích' án-chiếu lư-luận tổn-ích cuả Chu-Dịch: 'Tổn ích thịnh suy chi thủy dă', 'Tổn cương ích nhu'. Tố-Vấn · Âm-dương Ứng-tượng Đại-luận đề ra pháp-tắc dưỡng-sinh 'thất tổn bát-ích' tức năng biết được 'thất tổn bát-ích', ắt có thể điều-hợp được hai cái đó, không biết dùng nó, ắt bị tiết tảo-suy. Đối với 'thất tổn bát-ích' cuả Nội-kinh nên lư-giải theo nghiă rộng, tức 'chế dương ích âm', nhân-thể lấy âm làm nền cuả dương, cứng dắn quá ắt âm tổn, nên để ư chế dương ích âm để bảo-tŕ cân-bằng âm-dương, nhân mới bốn mươi tuổi mà khí đă tiêu-hao quá bán.

TƯƠNG-QUAN CHU-DỊCH, KHÍ-CÔNG

(446, tr. 1218-1246)

          Nhà khoa-học Tiền Học-Sâm nói: "Khí-công là đả-khai cửa sổ cuả nhân-thể".

          Công-năng đặc-dị cuả khí-công là cửa ngơ khoa-học nghiên-cứu nhân-thể, đời nay chính là lúc mỗi ngày một hưng-khởi khí-công. Kinh Dịch và Hoàng-đế Nội-kinh là dao-lam cuả khí-công, chỉ có thể dùng dịch-lư và luận-lư Trung-y làm chỉ-đạo, khoa-học khí-công mới mong có cơ lấy được sinh-lực mới.

I Chu-Dịch là Uyên-tẩu cuả Luận-lư Khí-công

 

Chu-Dịch là phát-nguyên-điạ cuả khí-công. Chu-Dịch uẩn-tàng vô-số nguyên-lư khí-công. Chu-Dịch Tham-đồng-khế và đạo-gia khí-công đều bắt nguồn từ Chu-Dịch.

Khí-công là một loại công-phu kết-hợp ư-niệm với thổ-nạp chân-khí. Nho-gia, Đạo-gia, Phật-gia đều có đặc-điểm như thổ-nạp, đạo-dẫn, hành-khí, luyện-đan, toạ-thiền. Chủ-yếu điều-chỉnh hô-hấp là dùng ư-thức điều-chỉnh hô-hấp và tư thức, đểđạt đến xúc-tiến vận-động, tăng cường tạng-phủ khí-hoá mà đạt mục-đích kiện thân  trị bệnh, là điều-hoà khí-huyết, quân bằng âm dương.

Mấy ngàn năm trước, khí-công được dùng để trị bệnh và pḥng bệnh, như ư-niệm pḥng bệnh đă được chép trong Nội-kinh. Như Tố-Vấn · Thích-pháp-luận nói: "Khí xuất từ óc, tức thất tiên tưởng tim như mặt trời, muốn sẽ nhập dịch-thất, tiên tưởng thanh-khí xuất từ gan, tả-hành phiá đông, hoá tác lâm-mộc; rồi tưởng bạch-khí từ phổi xuất, hữu-hành phiá tây, hoá-tác qua-giáp, rồi tưởng xích-khí từ tim xuất, nam-hành phiá trên, hoá-tác diệm-minh; rồi tưởng hắc-khí từ thận xuất, bắc-hành phiá dưới, hoá-tác thủy; rồi tưởng hoàng-khí từ lá lách xuất, tồn nơi trung-ương, hoá-tác thổ, ngũ-khí là tinh-hoa hộ thân, để tưởng bắc-đẩu huy-hoàng, rồi sauy mới có thể nhập dịch-thất (năo-thất ba, tức nê-hoàn cung?)". Tức y-sinh trước khi nhập dịch-thất ư-niệm gan tiết ra thanh-khí, hoá tác khí lâm-mộc, pḥng hộ nơi phiá đông;

phổi tiết ra bạch-khí hoá-tác khí binh qua, hộ-vệ nơi mặt tây; tim tiết ra xích-khí, hoá-tác khí hoả-diệm, hô-vệ nơi phiá nam; thận tiết ra hắc-khí, hoá-tác khí thủy-bẩm, pḥng-hộ nơi mặt bắc; lá lách tiết ra hoàng-khí, hoá-tác thổ-khí, hộ-vệ nơi trung-ương, đấu thương y hệt bắc-đẩu, ngũ-khí vệ-hệ, noi theo mà tiêến-hành pḥng-bệnh.

Rèn luyện khí-công năng khai-phát tiềm-năng nhân-thể, bao gồm trí-lực và thể-lực tức cái gọi là 'khai tuệ-thuật' cùng 'khích tiềm-thuật'. Dựa vào phục-đạo, khí-công năng khai-phát được tiềm-năng tiền-đầu thị-giác cuả nhân-thể, khiến cho thiên-mục sáng lại (thiên-mục là chỗ ở ngay trên ấn-đường), có thể làm thị-quan-khí thoái-hoá. Tốc-độ phát-triển khí-công cận-đại kinh người, học-giả nghiên-cứu khoa-học Vương Già-Lâm đề ra ư-thức lư-luận chi-phối nội-tạng.

Nội-kinh đề ra nguyên-tắc dưỡng-sinh 'an hoà nơi âm-dương, đặt phép nơi thuật-số', cũng là bí-quyết khí-công. Quan-tâm đến thuật-số, về mặt khí-công chỉ-dẫn chủ-yếu là phép hít vào thở ra vài hơi, như Như Tố-Vấn · Thích-pháp-luận nói: "Thận có bệnh kinh-niên, có thể giờ dần day mặt về hướng nam, tịnh thần không loạn tư, bế khí không thở bẩy phen, để dẫn khí cuả khí-quản thuận theo, như có vật rất cứng ngăn chẹn, như thế bẩy lần". Lại như 'Dưỡng-tính Diên-mệnh-lục' cuả Đào-Hoằng-Cảnh có chép: "Nuốt khí có một, nhả khí có sáu, nuốt khí là hút khí, nhả khí có sáu là: thổi, hô, sụt-sịt, hà hơi, hà hơi sẽ, , đều là xuất khí … thổi để khử phong, hô để khử nhiệt, sụt-sịt để khử phiền, hà hơi để khử hạ-khí, thở để tán-trệ, thở để giải cực". Tức dùng phép mặc-niệm hô-khí để tập khí-công. 'Vật-dược Nguyên Thuyên' nói: "Phép điều-tức  … hoặc vài hơi thở xuất, hoặc vài hơi thở nhập, từ 1 đên 10, từ 10 đến 100, niếp-tâm tại số, không làm số loạn", đều thuyết-minh là thuật-số là một tác-dụng trọng-yếu cuả khí-công.

          Khí-công chú-trọng đến vận-hành cuả khí, bao gồm phép vận-hành cuả đại-tiểu-chu-thiên cùng là vận-khí-pháp tại đan-điền. Đại-chu-thiên tại nơi sướng-thông 12 kinh-mạch, tiểu-chu-thiên ắt là câu-thông hai mạch nhâm, đốc, mà phép vận đan-điền-khí ắt làm cho khí đan-điền hành kinh-lạc, mục-đích cuả vận-khí là tăng-gia vận-động luyện tinh-khí tức là cái ta gọi là vận nội-công. Thầy dạy khí-công c̣n sáng-tạo phép trị-liệu tin tức khí-công.

Ngoài ra, khí-công-gia c̣n chú-ư đến tiêu-trưởng doanh-hư cuả thuận-ứng âm-dương nhật-nguyệt, chú-trọng đến nguyên-tắc niếp sinh cuả sinh-vật thuận-ứng tự nhiên.

Tóm lại, Trung-y khí-công, trong tương-quan với Chu-Dịch, Nội-kinh, Tham-đồng-khế, hấp thủ được nguyên-lư khí-vận, âm-dương hỗ-căn, thuật-số lư-luận tuân-thủ được cơ-sở lư-luận. 

 

Biến Ắt Thông cuả Chu-Dịch và Thuật Đạo-Dẫn

       Chu-Dịch động-tĩnh-quan phân-biệt được khác biệt giữa Nho-gia và Đạo-gia.  Nho-gia thuộc phái chủ-động, nhưng trong động có tĩnh; Đạo-gia thuộc phái chủ-tĩnh nhưng trong tĩnh có động, thửa lư-luận đều thoát thai từ Chu-Dịch. Như Chu-Dịch Hạ-Hệ II/5 nói: "Theo Đạo Dịch hễ cùng th́ biến, biến th́ thông, đă thông suốt th́ lâu", Thượng-Hệ IV/2 nói: "Có tinh và khí là vật, chỉ có hồn  phảng-phất là biến". Đối với thuật đạo-dẫn ảnh-hưởng tương-đối lớn. Hạ-Hệ VIII/1 nói: "Biến-động chứ không ở yên, đi ṿng quanh khắp sáu cơi", là lư-luận uyên-tẩu về tiểu-chu-thiên công cuả Nho-gia và Đạo-gia. Đầu Thiên 'Trang-tử · Khắc-ư' chép hai tiếng 'đạo-dẫn', như nói: "Thổi, thổi hơi, hô-hấp, nhả khí cho nên nạp-tân, hùng cảnh ô thân, là tuổi thọ mà thôi".

Các kẻ sĩ đạo-dẫn, các người duỡng-h́nh, sở dĩ Bành-tổ sống lâu tốt đẹp làm vậy. Thuật đạo-dẫn tức khí-công, khai-thông tứ-chi động-tác, đạo-dẫn tinh-khí để lưu-thông khí-huyết, đạo-gia chủ tĩnh, thửa đặc-điểm là khoan-thai, mềm mại, v́ chiụ ảnh-huởng cuả Chu-Dịch Thái-cực-đồ, đại-đa-số cùng vận-khí đều lấy tṛn-triạ làm đặc-điểm. Thời Hán thuật đạo-dẫn rất hưng-thịnh, như năm 1973, văn-vật xuất-thổ tại Hán-mộ Mă-vương-đôi tại Trường-sa, tỉnh Hồ-nam tức Đạo-dẫn-đồ. Lă-thị Xuân-Thu · Cổ-nhạc cũng có ghi chép Thuật Đạo-dẫn, như nói: "Tác làm cổ-vơ để tuyên-đạo". Tố-vấn · Dị-pháp Phương-nghi-luận đề ra: "Đạo-dẫn để án-kiều". Trương-Trọng-Cảnh 'Kim-quỹ Yếu-luợc' nói: "Tứ chi mới cảm-giác được trọng-trệ, tức đạo-dẫn thổ-nạp, châm-cứu cao-ma, chớ sai-khiến cửu-cùng bế-tắc". Lă-thị Xuân-Thu · Tận-số nói: "Nước chẩy không mục, bản lề không mọt", đều thuyết-minh thuật đạo-dẫn là phi-thường thịnh-hành.

          Ngoài ra, Chu-Dịch cũng đồng-dạng áp-đặt thanh-tĩnh, bế-tàng. Như Dịch Thượng-Hệ VI/2 nói: "Phù Khôn kỳ tĩnh dă hấp, kỳ động dă tịch = Đạo Khôn lúc tĩnh th́ thu hẹp lại, lúc động th́ mở ra". Hấp là khép lại. Dịch Văn Ngôn 1 quẻ Khôn  nói: "Chí tĩnh nhi đức phương = Tính rất tĩnh mà đức th́ vuông". Tĩnh-toạ-công cuả Nhà Phật đặt tư-tưởng ra ngoài thân-thể, tự ḿnh thành Phật, chỉ bảo tại chữ 'không'. Khí-công cuả Đạo-gia cũng không dời khỏi h́nh-thể tự-thân, muốn tu luyện thành tiên, đạo tại chữ 'hư'. Khí-công cuả Phật-gia và Đạo-gia mỗi nhà đều có đặc-sắc cá-biệt, đều cấu thành chủ-cán cuả khí-công Trung-quốc.

 

Lư-luận Tịch-hạp và Thổ-nạp-công cuả Chu-Dịch

            Thượng-Hệ XI/4 nói: "Nhất tịch, nhất hạp vị chi biến = Một lần đóng, một lần mở goị là biến". Một lần đóng, một lần mở ám-chỉ tinh-khí xuất-nhập, mà khí-công phái đời sau lấy làm phương-châm chỉ-đạo. Thổ-nạp là một nội-dung trọng-yếu cuả khí-công. Các môn-phái khí-công đều trọng-dụng. Như 'Hoàng-đế Nội-kinh · Di Thiên · Thích-pháp-luận' có chép Phép Thổ-nạp-công. Hán-đại xuất-thổ văn-vật, Hành-khí Ngọc-phụng Minh có chép: "Hành khí - Tả ắt súc, súc ắt duỗi, duỗi ắt đi xuống, đi xuống ắt định, định ắt kiên-cố, kiên-cố ắt manh nha, manh nha ắt trưởng, trưởng ắt thoái, thoái ắt thiên, thiên cơ ắt trang-bị ở trên, điạ cơ ắt trang-bị ở dưới, thuận ắt sinh, nghịch ắt chết". (Bách-tử Toàn-thư · Chí-du-tử  · Hoàng-Đ́nh Thiên nói: "Tĩnh-điều lục-khí, thở nhè nhẹ, thở gằn (suyễn), thổi, hà hơi, thở ra, hít vào vậy, có thể cải cách được ung-trệ". 'Thiên Kim Phương' ghi lại rằng:  "Hơi thở là bảo đảm bách-bệnh không sinh". 'Dưỡng-sinh-Thuật' cuả Kê-Khang đề ra phép Thai-tức. Đạo-gia khí-công lại càng chú ư đến thổ-nạp điều-tức. Như 'Trang-tử · Khắc-ư Thiên nói: "Thổi, thở nhè nhẹ, thở ra, hút vào, nhả, cho nên nạp-tân". Nhả là thổi xung-khí ra. Nuốt là hút khí trong sạch vào. V́ tính-cách trọng-yếu cuả chu-tŕnh khí-cơ, đạo-dẫn xúc-tiến thăng-giáng, du-hồn cuả tinh-khí. Thổ-nạp giúp ích xuăt-nhập, giao-hoán cuả thanh-trọc, là nội-dung chủ-yếu cuả khí-công. Thực-khí trong khí-công tức là một trong những nội-dung chủ-yếu cuả thổ-nạp-công.

          Sơn-hải-kinh là một bộ truyện thần-thoại phản-ảnh thư-tịch khoa-học tự nhiên và khoa-học xă-hội. Sách này cũng là một bửu-thạch đa-lăng-giác, có thể quan-sát dưới nhiều giác-độ cho phép toả ra nhiều quang-thái trong đó có ghi chép nhiều chi-tiết về khí-công thổ-nạp. Như 'Đại-hoang Bắc-kinh' nói: "Có vô-kế dân, vô-kế dân họ Nhiệm, vô cốt-tử, thực-khí, con cá". Tức nói: không có thị-tộc Cốt rất coi trọng thổ-nạp-công. Lại như: "Ngoài Tây-bắc-hải, ... có thần, mặt người, thân rắn sắc đỏ, thân dài ngàn dặm, ... không ăn, không ngủ, không nghỉ ngơi, ... gọi là chúc-long". Tức mượn thần-sắc mặt người, thân rắn, không ăn, không uống, chỉ ngồi thở ngầm, thể-hiện ư-nghiă tiềm-hô-hấp.

          Tiềm-hô-hấp thuộc về bế-khí-công, thửa nguyên-lư tại chỗ bằng cứ vào nơi nhân-thể thiếu dưỡng-khí, b bắt buộc đả khai hệ-thống trừ-bị, để tăng-gia lợi-dụng-suất cuả hệ-thống trừ-bị và đề-cao ứng-khích-lực cuả nhân-thể, thuộc về cảnh-giới khí-công cao-cấp.

Thời-không cuả Dịch và Khí-công

Phương-diện thời-gian

Chu-Dịch rất coi trọng quan-hệ doanh-hư giữa con người và trời đất, như Lời Thoán quẻ Phong nói: "Thiên-điạ doanh-hư, dữ thời tiêu-tức, nhi huống nhân hồ = Trời đất đầy vơi, cùng với thời-gian mà tan đi nở ra, huống chi là con người".

Thượng-Hệ XI/7 nói: "Pháp tượng mạc đại hồ thiên-điạ, biến-thông mạc đại hồ tứ-thời = Bắt chước cái tượng không ǵ lớn bằng trời đất, biến-thông không ǵ lớn hơn ở bốn muà". Lời Thoán quẻ Bác cũng nói: "Quân-tử thượng tiêu-tức doanh-hư, thiên hành dă = Người quân-tử chuộng việc tăng-giảm đầy vơi là vận trời vậy", v́ lư-luận uyên–nguyên cuả khí-công đời sau. Nội-kinh · Ngũ Thập Doanh cũng có khải-thị trọng-yếu liên-quan đến khí-công bắt chước trời đất và bốn muà. Ư-nghiă 'Ngũ Thập Doanh' là ở chỗ thông qua nhân-thể khí-hành 28 kinh-mạch tương-ứng với thiên-thể mỗi ngày vận-hành với 28 tú. Thuyết-minh nhân-thể tiểu-vũ-trụ khí-huyết vận-hành là tương-ứng với đại-vũ-trụ nhật-nguyệt thiên-thể vận-hành. Cũng tức là cá-thể sinh-vật không tồn-tại cô-lập mà tương-quan mât-thiết với vận-hành cuả nhật-nguyệt thiên-thể, tuân-định cơ-sở lư-luận cuả sinh-vật chủng khí-công. Học-phái khí-công Trung-quốc tại Chu-Dịch 'tiêu-tức doanh-hư' và tại Nội-kinh con người dưới ảnh-hưởng cuả trời đất, thập-phần chú-trọng đến quan-hệ giữa các loại công và phương-vị thời-gian. Như lấy tứ-quư trong một năm mà nói, xuân-hạ dương-khí mới thăng, dương chủ động, nhân đó ứng tại dương-điạ tác đạo-dẫn-công để hỗ-trợ dương-khí thăng-phát, thịnh-hạ dương-khí tối-thịnh, ứng tại âm-điạ tác tĩnh-công để trợ dương-khí hạ-tiềm. Chính như quẻ Kiền nói: "Kháng long hữu hối = Rồng lên cao quá th́ có sự hối-hận". Văn-ngôn 16 quẻ Kiền cũng nói: "Dương-khí tiềm-tàng"; thu-đông dương-khí thủy thâu, âm-khí thủy thịnh, ứng tác thổ-nạp-công, quyết yếu ở chỗ hít vào dài, thở ra ngắn để trợ thu dương-khí, muà đông âm-khí chí thịnh, đông ứng trập-tàng, bởi thế nên tại trong nhà hoặc âm-điạ tác thiền-công, để hỗ-liễm dương-khí. Lấy ngày đêm rất tối-tăm mà nói, sáng tinh mơ từ giờ dần đến giờ măo (từ 4 AM đến 6AM), v́ dương-khí chết đi mới sống lại, là lúc âm-khí tiềm tiêu, là lúc phổi và ruột già kinh-trị, nên ứng tác ngoài cửa vận-động kết-hợp đạo-dẫn với thổ-nạp, cùng là nên lấy thở ra làm chủ, mục-đích tại đă thở xung-khí một đêm, động ắt sinh dương, cho nên giai-đoạn ấy, lấy đạo-dẫn vận-công làm chủ. Giờ Ngọ mặt trời đang ở trên đỉnh đầu, dương-khí tối-thịnh, là lúc tim và ruột non kinh-trị, huyết-khí rất dễ sục-sôi, bởi vậy nên tĩnh-công. Tĩnh ắt sinh âm, để dẫn dương-khí hạ-tiềm, khiến huyết-khí quy-kinh. Hoàng-hôn giờ dậu, dương-khí thu-liễm, thận-khí trị-kinh, thận chủ nạp-khí, nên tác mạn-đạo-dẫn công, cùng là giúp dập lấy thổ-nạp hít khí vào làm chủ, để trợ dương-khí thu-liễm. Vào đêm âm-khí chí-thịnh, nên làm tĩnh-dưỡng-công để trợ dương-khí tiềm-tàng. 

Phương-diện không-gian, phương-vị

          Bát-quái cuả Chu-Dịch rất coi trọng vấn-đề phương-vị, bát-quái phân-ứng tứ-phương, tứ-ngung, như Thuyết-quái-truyện V/2 nói: "Vạn-vật xuất hồ chấn, chấn đông-phương dă, tề hồ tốn, tốn, đông-nam phương dă , ly dă giả, minh dă, vạn-vật giai tương-kiến, nam-phương chi quái dă = Muôn vật ra ở phương chấn, chấn là phương đông, chỉnh-tề ở phương tốn; tốn là phương đông-nam, ly là sáng, muôn vật đều cùng thấy nhau ". Thuyết-quái-truyện V/2 nói: "Thánh-nhân nam-diện nhi thính thiên-hạ, hưởng minh nhi trị, cái thủ chư thử dă = Đấng Thánh-nhân quay mặt về phuơng nam mà nghe thiên-hạ, hướng vào nơi sáng mà trị, là lấy tượng ở đây". Nam-phương là ứng với quẻ ly, là do quẻ kiền trị. Ly là mặt trời. Kiền là trời. Cho nên phương nam được tất cả đức cuả thiên-dương, là quư-vị cuả bát-phương, nhân đó phương-vị khí-công cuả hậu-thế đại-đa-số   là quay mặt về phuơng nam, cùng là tại cơ-sở nam-diện tiến-hành phát-triển. Như sáng sớm mặt trời rạng đông tại phương đông ắt khí-công quay mặt về phuơng đông. Hoàng-hôn, tịch-dương di-chuyển về tây ắt hướng về phiá tây, hoàn ứng kết-hợp cá-thể ngũ-tạng mà khác, người có gan hư quay mặt về phiá đông, thận thua sút quay mặt về phiá bắc, người đau tim chầu về phiá nam, người yếu phổi đối diện phiá tây, nhân đó phương-vị có thể nương theo t́nh-trạng hư-thực cuả tạng-phủ mà định.

II Chu-Dịch và Đạo-gia Khí-công

       Đạo-giáo hưng-khởi thời Đông-hán. Một thành-phần nào đó cuả đạo-gia phát-triển được mặt 'khôn tĩnh nhu-thuận' cuả Chu-Dịch. Đạo-gia chủ-trương hư-tĩnh, không ham muốn, siêu-thoát vô-vi, tu-luyện tinh-khí-thần, thực-hành phát-triển cơ-sở tĩnh-khí-công.

          Khí-công cuả đạo-gia rất đặc-sắc, là chi-lưu trọng-yếu cuả khí-công Trung-quốc, chính-yếu có Phái Vơ-đang, Phái Nga-mi đều chú-trọng tu-thể.

Đạo-gia Khí-công chú-trọng 'Thủ Nhất'

            Lấy Lăo-Trang làm đại-biểu, Lăo-tử, Trang-tử là tư-tưởng-gia cùng là dưỡng-sinh-gia trứ-danh cuả Trung-quốc. Như Lăo-tử nói: "Chí-hư cực-đại, giữ tĩnh-đốc".  Đạo-đức-kinh, Chương X, nói: "Tái doanh phách băo nhất, năng vô ly hồ? Chuyên-khí chí nhu năng anh nhi hồ? = Năng chở hồn viá, giữ chắc chỉ có một, có thể không xa lià chăng? Thống-trị cái khí rất mực mềm mại, có thể là trẻ con mới đẻ chăng?".

[Theo Hà-Thượng công, hồn là phần vô-h́nh thiêng-liêng làm chuá-tể cả tinh-thần người ta, có thể lià h́nh-thể mà c̣n tồn-tại; phách = viá, là phần tinh-thần cuả người ta, nương tựa vào h́nh-thể mà tồn-tại. Như vậy, phần tinh-anh bám vào h́nh là phách, là viá, mà phần 'thần' nương tựa vào khí là hồn].

          Trang-tử · Khắc-ư nói: " 'Dưỡng-thần', 'quư-tinh', 'duy thần là thủ, thủ mà chớ mất, nhập làm một với thần' ". Trang-tử  cũng nói: "Dám hỏi tâm-trai". Trang-tử · Tại hựu có chép: "Mắt không trông thấy ǵ, tai không nghe tiếng ǵ, tâm không biết cái ǵ. thần ngươi sẽ giữ h́nh, h́nh bèn trường-sinh". Thái-b́nh-kinh: "Phép thủ-nhất là bản-căn cuả vạn-thần". Quản-tử · Tự-tâm nói: "Củng-cố bên trong, có thể là trưởng-cửu". Các sách này thuyết-minh đạo-gia đều chủ-trương tĩnh-thủ. Đạo-giáo sáng-thủy-nhân Trương Đạo-Lăng cũng phụng-sùng thủ-nhất như vậy. Cái gọi là thủ-nhất tức chỉ thanh-tĩnh chuyên-nhất, cùng là tất tu kết-hợp ư-niệm, tức kết-hợp giữ bộ-vị cuả huyệt, mỗi huyệt mỗi khác, điều-tức nội-thị. Chuyên-thư Hoàng Đ́nh-kinh, đạo-gia dùng tu-luyện có chép rằng: "Giữ hoàng-đ́nh, hoàng-đ́nh phân làm thượng-hoàng-đ́nh, trung-hoàng-đ́nh và hạ-hoàng-đ́nh. Thượng-hoàng-đ́nh cũng xưng là nê-hoàn, chủ năo, tàng thượng đan-điền; trung-hoàng-đ́nh giáng-cung cuả dạ dầy, chủ tim, tàng trung đan-điền; hạ-hoàng-đ́nh, gọi là khí-hải, tại lá lách, dưới lỗ rốn ba tấc, tàng hạ-đan-điền. Thượng-đan-điền ở khoảng giữa hai lông mày, trung-đan-điền ở khoảng giữa hai vú; hạ-đan-điền ở dưới rốn".  Lăo-tử Đạo-đức-kinh đề ra 'thủ huyền-tẫn chi môn' (mệnh-môn). Đạo-tàng chép Thai-tức-kinh rằng: "Dưới rốn ba tấc là khí-hải, cũng là hạ-đan-điền, cũng là huyền-tẫn, thế-nhân thường cho miệng mũi là huyền-tẫn, là sai". Có đạo-gia ắt chủ-trương giữ tổ-khiếu (giữa hai mi), phương-pháp thượng-thuật thu thập lại các phép luyện đan-điền. Âm-phù-kinh, kinh-điển cuả đạo-gia đề ra 'thủ tam-yếu', tức bế-tắc tai-mắt-miệng bằng ư-niệm, để trừ tam-hại cuả tim, khiến tim năng tĩnh-thủ. Như nguyên-văn nói: "Tà cuả cửu-khiếu tại tam-yếu, khả dĩ động-tĩnh". Căn-cứ vào phép nạp chi, Chu-Dịch quẻ ly nạp kỷ, trong con người ly là tim, nên trong đạo-gia khí-công 'Thủ nhất' cũng tức là 'luyện kỷ', là chuyên-từ cuả 'luyện thần chuyên nhất'.

Nho-gia Nhan-Hồi xưng là 'Toạ vong', như nói: "Nhân-thân, chân tay xuội lơ, truất thông-minh, thân-h́nh, tứ chi, cùng nơi thiên-thông, đó là toạ-vong". Tư-mă Thừa-Trinh (647735) có soạn ra Đạo-kinh 'Toạ-vong-luận', phối-hợp quan-điểm đạo-giáo  với chính-tâm thành-ư cuả Nho-giáo và chỉ-quan, thiền-định cuả Phật-giáo thành một phương-pháp tu-luyện.

Ngoài điều đó ra, Nho-gia, Phật-gia, Pháp-gia đều chủ-trương chuyên-nhất, thủ thần. Như Ngộ Chân Thiên nói: "Tâm viên phương thốn cơ, ba ngàn  công-phu bằng với trời, tự nhiên có đỉnh phanh long-hổ, hà tất lưu-luyến vợ con ... ". Nho-gia, Thượng-thư · Đại-vũ-Mô chủ-trương 'chính âm tu thân', Phật-gia đề-xướng 'định', 'giới', Pháp-gia Hàn-phi-tử cũng nói: 'vô-vi, vô-tư'. Thuyết-minh chẳng riêng ǵ đạo-gia mới coi trọng ư-nghiă tĩnh thủ khí-công.

Đạo-gia Khí-công chủ-trương 'Thai Tức'

       Trên thực-tế, thai-tức là bế-khí-công, sớm nhất có ghi chép trong Sơn-hải-kinh (Đại-hoang Bắc-kinh): "Có thần, mặt ngưiời, thân rắn ... ... không ăn, không nghỉ, không ngủ". Đạo-gia thai-tức lai-nguyên từ quy-tức, cũng thuộc về phỏng-sinh khí-công. Cái gọi là thai-tứclà thực-hành phương-pháp khí-tức tại đan-điền nơi bụng. Thai-tức-công, trong 'Hoàng-đế Nộio-kinh được ghi chép như  sau: "Thận mắc  bệnh kinh-niên, ... ... bế khí không thở bẩy hồi". Đến đời Tấn trức diễn biến thành thai-tức-pháp. Chính như Cát-Hồng (tức Băo-Phác-tử) nói: "Được thai-tức là không dùng mũi, miệng mà thở se sẽ được, như trong bào-thai, ắt là thành đạo vậy". Thai-tức-công là một loại hô-hấp ngầm, hoặc bảo là chân-tức. Trong 'Dưỡng-tính Diên-mệnh-lục', Đào-Hoằng-Cảnh có nói: "Bế-khí không thở trong tâm, đếm đến 200, miệng bèn nhả khí, gọi là tăng-tức, như thế thần đầy đủ, ngũ-tạng yên". Đạo-gia Kinh-điển 'Chính-thống Đạo-tàng' chép 'Hoàng-đế Thai-tức Quyết' rằng: "Tâm-thần thủ công, khí bế không tán ... ... là chân-nhất thai-túc vậy". Thai-tức-pháp thực là đạo-gia mật-tông, thai-tức là một loại hô-hấp cực chậm mà thâm-trầm, thửa tiêu-chí chính  Cũng như 'Trang-tử · Đại-Tông-Sư' nói: "Thửa thở thâm thâm, chân-nhân thở bằng gói chân, chúng nhân  thở bằng khí-quản. Gót chân có hai loại giải-thích: một là chủng-tức là gót cuả cẳng, khí quy về hạ-đan-điền, là huyền-tẫn-môn (mệnh-môn), tỷ dụ hô-hấp thâm trầm. Hai là chủng-tức tức căn-tức, ám-chỉ khí quy về tổ-khiếu-huyệt giữa hai lông mày. Thiện-kim-phương · Duỡng-tính · Điều-khí-pháp nói: "Đạo hoà-thần đạo-khí, đáng mật-thất, ... ... trải qua 300 hơi thở, tai không nghe thấy ǵ, mắt không trông thấy ǵ, tâm  không nghĩ ngợi ǵ. Đó là một phương-pháp thở đặc-biệt đạo-gia bắt chước con ruà". Thần-tiên-truyện có chép: "Bành-tổ 767 tuổi không suy-lăo, lúc trẻ thích điềm-đạm, thường bế-khí nạp-tức, từ b́nh-thản đến chính-ngọ bèn nguy-toạ, tay xoa bóp thân-thể, liếm môi, nhổ nước bọt, phục-khí mấy mươi lần mới ngồi dậy, 240 tuổi trông như người mới năm, sáu mươi". 'Long-uy Bí-tập' chép : "Bành-tổ c̣n nói: thường bế-khí nạp-tức". Thai-tức-công có thể đạt được cảnh-giới thần-kỳ cuả 'tịch-cốc' cùng là  'thực-khí'.

          Nguyên-tắc tổng-quát cuả thai-tức-công là nắm vững nhịp-độ hoăn, nhu,  thâm, trường cuả hô-hấp, chủ-yếu là tiến-hành thở bằng bụng, phù-hợp với nguyên-lư khôn nhu-thuận-tĩnh.

Đạo-gia Khí-công chú-trọng 'Chu Thiên'

          Hạ-Hệ VIII/1 nói: "Biến-động bất cư, chu-lưu lục-hư = Biến-động chứ không ở yên, đi ṿng quanh sáu cơi". Đó là lư-luận chỉ-đạo cuả 'khí-công vận-khí chu-lưu'. Chư gia công-pháp đều rất chú-ư đến 'chu-thiên-công', thực-chất là dẫn-khí bằng ư-niệm. Chu-thiên-công gồm có hai loại: tiểu-chu-thiên-công và đại-chu-thiên-công.    Tiểu-chu-thiên-công cũng xưng là 'bách nhật trúc-cơ 百日筑基', hoặc là 'Tí ngọ chu-thiên 子午周天', hoặc là 'Thủ khảm điền ly 取坎填离'. Đại-chu-thiên-công cũng xưng là 'Măo dậu chu-thiên 卯酉周天', hoặc là Kiền khôn giao-cấu 乾坤交媾'. Phép này bắt nguồn từ sách 'Băo-Phác-tử 抱朴子' (475) cuả Cát-Hồng 葛洪 đời Tấn.

          Đạo-gia nội-đan khí-công đặc-biệt chú-trọng chu-thiên công-pháp, phân thành đại-, tiểu-chu-thiên vận-khí-pháp, chu-thiên công có mấy thứ: luyện-kỷ, điều dược, sản dược, thái dược, phong-lô, luyện dược, tổng xưng là 'hà xa bàn vận'. Tiểu-chu-thiên bao gồm nhâm-đốc giao-thông và ly-khảm giao-thái (tí ngọ chu-thiên), là tinh-túy cuả đạo-gia nội-đan-thuật. Tức lấy ư-niệm chỉ-huy nội-khí, nhậm lẹ dẫn khí từ hạ-đan-điền đi xuống thuớc-kiều (hậu-âm, cốc-đạo), từ vỹ-lư đi lên tích-quan, qua ngọc-chẩm, đến đỉnh đầu, trổ ra hai mắt, rồi đi qua thượng-thước-kiều (tức ấn-đường, ở khoảng giữa hai lông mày, men theo nhâm-mạch, từ chính giữa miệng môi, men theo ngực, bụng mà đi xuống dưới, đi ngang thượng, trung, hạ-đan-điền (nghiă là: nê-hoàn tức năo, đản-trung tức tim, hạ-đan-điền tức rốn), sau đó lại phục chu-thiên. Nguyên-lư là: đốc-mạch là dương-hải, nhâm-mạch là âm-hải, nhâm-đốc thông ắt trăm mạch đều thông.

          Huyền-tẫn chu-thiên cũng xưng là tí-ngọ chu-thiên, dựa vào tiên-thiên bát-quái: quẻ huyền-kiền !(thuần dương), quẻ tẫn-khôn !(thuần âm). Con người sau khi chào đời tiên-thiên bát-quái chuyển thành hậu-thiên bát-quái, quẻ kiền chuyển thành ly trung hư %, quẻ khôn biến thành khảm trung măn +, nên tiến-hành không ngừng thủ khảm điền ly. Tức lấy hào chính giữa cuả khảm trung măn (hào dương >) mà điền vào hư-hào cuả ly (hào âm ?) , mà khôi-phục thành quẻ kiền, quẻ khảm khôi-phục thành quẻ khôn, tức khiến hậu-thiên bát-quái (thủy hoả ky khảm), phản hồi tiên-thiên bát-quái (kiền khôn thiên-điạ), vô-h́nh trung đạt được thủy-hoả Kư-tế, tức thjị mục-đích âm dương điều-hoà. 

          Trong đó, giao-hội cuả thượng-đan-điền và hạ-đan-điền được gọi là huyền-tẫn chi môn, từ 'huyền-tẫn' xuất-hiện trong Đạo-đức-kinh, Chương VI: "Cốc-thần bất tử thị vị huyền-tẫn. Huyền-tẫn chi môn thị vị thiên-điạ căn. Miên miên nhược tồn, dụng chi bất cần = Thần hang không chết, ấy gọi là Mẹ mầu-nhiệm sâu xa. Cửa ngơ cuả Mẹ mầu-nhiệm sâu xa ấy gọi là gốc rễ cuả trời đất. Nối liền daăng dặc tựa hồ c̣n. Dùng không vất vả mỏi mệt". Huyền với tẫn, trong Chu-Dịch tượng-trưng bằng thiên-điạ kiền-khôn, như quẻ Khôn nói: "Khôn nguyên hanh lợi tẫn mă chi trinh = Đạo Khôn có đức hanh, có đức hanh, có đức trinh như con ngựa cái". Thuyết-quái-truyện XI/1 nói: "Kiền là trời". Cho nên huyền là kiền trời, nơi nhân-thể là tính-cung, tẫn là khôn điạ, nơi nhân-thể bèn là mệnh-cung, khí đi khắp thượng-hạ đan-điền cũng xưng là tính-mệnh tiểu-chu-thiên.

          Đại-chu-thiên chỉ kiền-khôn giao-cấu, mà giai-đoạn đầu là tiểu-chu-thiên 'thủ khảm điền ly', giai-đoạn thứ nh́ là 'vận tiểu-chu-thiên hậu', hậu-thiên bát-quái do hai quẻ khảm-ly trải qua hai quẻ kiền-khôn, phân-biệt vị-trí nam-bắc cuả tiên-thiên bát-quái, lúc đó Măo-dậu chu-thiên (hai quẻ khảm-ly đă di-cư sang vị-trímăo-dậu), tức xưng kiền-khôn giao-cấu, là đại-chu-thiên.

          Khí-công đại-chu-thiên cận-đại cũng có chồng lên cơ-sở tiểu-chu-thiên, công-pháp cuả 12 kinh chu-thiên, hiện nay phép này rất thịnh-hành, quán-xuyến nơi hạc-tường-trang hoặc trong đại-nhạn-công, mục-đích tổng-quát là lấy 'ư-niệm dẫn-khí', xúc-tiến lưu-thông khí-huyết.

          Đạo-gia rất coi trọng 'tính-mệnh song tu', cái gọi là 'tính' tức thần (tâm) vậy, cái gọi là 'mệnh' tức tinh (thân) vậy, cụ-thể là lấy thượng-khiếu thuộc tính, hạ-khiếu thuộc mệnh, ly hoả là tính, khảm thủy là mệnh, tính-mệnh tương-ỷ, thượng-hạ tương-quán. Đạo-gia chủ-trương thủ thượng-hạ-khiếu tức là cái gọi là thủ tính-mệnh, như thượng thủ tổ-khiếu (năo cung), hạ thủ khí-hải (mệnh-cung) cùng là đả thông đốc thăng, nhâm giáng, khí-vận đại-tiểu-chu-thiên, thành là chủ-thể cuả đạo-gia tĩnh-khí-công.

III Chu-Dịch và Phật-gia Khí-công

Phật-gia khí-công ắt tôn-sùng quẻ khôn nhu cuả Dịch, mang cả hai nghiă tĩnh, thuận, nên lấy tĩnh-khí-công làm đặc-điểm. 'Ngồi thiền' là công-pháp cơ-bản cuả Phật-gia khí-công, tương-truyền Đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngồi thiền dưới gốc cây bồ-đề bẩy ngày bẩy đêm mà thành Phật, cùng là đề ra đạo-pháp 'giới là định cơ', 'định tuệ song tu'. Chỉ-điểm cuả đạo-gia tại 'hư', ư-chỉ cuả Phật-gia tại 'không'. Tóm lại, Nho-Phật-Đạo đều chú-trọng tu luyện tính-mệnh. Như 'Lục-dă tiên-tông' nói: "Nho-giáo lấy mệnh cuả thuộc-tính làm tông-chỉ, Phật-giáo lấy dưỡng tính luyện khí làm tông-chỉ, Đạo-giáo lấy luyện tính thụ-mệnh làm tông-chỉ". Phật-gia khí-công chú-trọng 'giới', 'định', 'tuệ', đề-xướng 'nhân giới thành định, nhân định phát tuệ', như Kinh Viên-giác nói: "Củng-cố bằng tĩnh-lực, vĩnh-viễn đoạn-tuyệt phiền năo". Cũng nói: "Đối cảnh nơi tâm, bát-phong không lay động được". Đạo Phật có Thiên-thai-tông, Tàng-mật-tông, Đông-mật-tông, đều thập phần chú-trọng tu tâm. Kinh Phật 'Tuệ-mệnh' coi trọng 'Tính-mệnh song tu', thửa 'Thiền-cơ-luận đệ-thập-nhị' đề ra 'Phật-đạo tính-mệnh dụ long-hổ, long-hổ dụ động-tĩnh, động-tĩnh dụ thiền-cơ'. Chiêu-đức Tân-biên nói: "Thủy tĩnh cực-đại ắt h́nh-tượng rơ ràng, tâm tĩnh cực-đạiắt trí-tuệ sinh". Kinh Phật Đại-an Ban Thủ-ư Kinh Tự  nói: "Vứt bỏ 12 ức tuế-niệm-ư". Phật-gia Thiền-định, Bát-định nhất-định có quan-hệ với yoga Ấn-độ, thiền-mật-công tức là tuệ-công cuả Phật-gia Mật-tông thiền-mật-công.

          Phật-gia khí-công là trong tĩnh có động, cùng là không phải tuyệt-đối bất-động. Sau khi ngồi thiền, xuất-hiện một loại vi-động tự-phát, gọi là 'động-xúc', là một trong tám thiền-định bát-xúc, là một hiệu-ứng sinh-lư/tâm-lư sau khi nhập tĩnh, có ích cho thân-thể. Phật-giáo Thiền-tông là căn-cơ cuả mọi phật-gia, phật-gia chủ-trương thoát-ly h́nh-thể, tự thân thành Phật, Phật-gia Bát-nhă-kinh đột-xuất 'vô' và 'không', tức 'nhất-thiết giai không' tương-tự 'vô-vi mà  bất vi' cuả Lăo-tử.

          Phật-gia 'toạ-thiền' cũng xưng là thiền-tu, thiền tức trầm-tư, thuộc về tĩnh-toạ khí-công, thời-kỳ Nam-bắc-triều truyền  vào Trung-quốc, nguyên-lư chủ-yếu là 'tĩnh-hư', tức 'tịnh-hoá tư-duy', cũng xưng là 'thiền-định', 'tâm nhất', là một loại phương-pháp tâm-tức điều-dung. Như Phật-kinh 'Thích Thiền Ba-la-mật Thứ-đệ Pháp-môn Quyển I' nói: "Nhân tức tu-luyện, bệnh-tật được thiền-định". Cho nên đối với tật bệnh hư-tính, lại càng có ích, toạ-thiền-công thể-thủ già-phu toạ-tư-thức. Đại-trí-độ-luận, Quyển VII nói: "Trong các toà-pháp, kết già-phu tối yên ổn, không mỏi lắm, ấy là tọa-pháp cuả người ngồi thiền, nhiếp-tŕ chân tay, tâm-xích không tán". Ngồi thiền phối-hợp điều-tâm-tức, là một loại tĩnh-khí-công rất hữu-ích cho thân-tâm, có mlợi cho sức khoẻ trường-thọ và cho sự khôi-phục cuả mạn-tính-bệnh. Phật-gia rất suy-sùng, như Phật-trước, 'Thích Thiền Ba-la-mật Quyển I' nói: "Nếu muốn đầy đủ mọi thứ Phật-pháp-tạng, duy có thiền là tốt nhất, như đưọc châu báu, chúng bảo đều thu-hoạch được".

          Tóm lại, Phật-gia khí-công phương-thể quân tĩnh, tứ đại giai không, chủ-trương phương-pháp thần ly h́nh-thể công-pháp . Mà khí-công cuả nho-gia và đạo-gia ắt chú-trọng nguyên-tắc h́nh thần hơp nhất.

          Tóm tắt đoạn trên, khí-công ba nhà Nho-Đạo-Phật, mỗi mỗi đều có sở-trường, rồi sau mới nguyên-lưu nơi Chu-Dịch làm đạo dẫn, thổ-nạp và tổng-hợp thống-nhất ư-niệm. Khí-công cuả ba nhà Nho-Đạo-Phật là ba đại-lưu-phái cuả khí-công Trung-quốc, có tác-dụng suy-động tich-cực vào việc h́nh thành và phát-triển khí-công Trung-quốc.

 

 

*

* *

 

 

 

Đón Xem Kỳ 195

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com