www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

3    |    4   |   5 

6   |    7   |   8

    9   |   10  |   11  

 12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

18

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 03

 

THIÊN-VĂN LỊCH TOÁN

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 18)

 

V  SAU GÁY CHỊ HẰNG

 

Phiếm-luận về Dao-Ngạn và Sấm-Kư

 

              Tục-ngữ 俗語 là những câu nói gọn-gàng nhưng có ư-nghĩa lưu-hành từ đời xưa, do cửa miệng người đời truyền đi cho các đời sau, nghĩa cũng tương-tự như Ngạn-ngữ  諺語tức thị lời nói của người xưa truyền lại. Cách-ngôn 格言 là lời hay, ư đẹp đáng cho người đời noi theo. C̣n phương-ngôn 方言 là những câu ngạn-ngữ chỉ thông-dụng trong một vùng, một địa-phương, chứ không lưu-hành khắp nước. Ca-dao 歌謠là những câu hát phổ-thông trong dân-gian: đôi khi cũng gọi là phong-dao 風謠v́ những câu hát lưu-hành trong dân-gian ấy thường diễn-tả phong-tục, tập-quán, t́nh-cảm của đại-chúng b́nh-dân. C̣n Đồng-dao 童謠 là những câu, những bài trẻ con thường hát như bài Thằng Cuội ngồi gốc cây đa chẳng hạn. Chuyện chỉ có thế. Nhưng đôi khi câu chuyện lại khác hẳn như ta thấy trong bài Mùng một là gai, mùng hai lá dứa… ở bài kỳ 6 (Chương 3, nút 2). Lại thêm, chúng có thể là điềm báo hiệu một thay đổi chính-trị trong tương-lai gần như ta thấy trong Đông Chu Liệt Quốc hay là một bài sấm-kư của cổ-nhân để lại, hay một vài câu người đương-thời ghi lại một sử-kiện nào đó như trong các câu, các bài sau đây, đa-số trích từ sách Việt Nam Phong Sử (3BB): 

·         Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu-điu lại nở ra ḍng liu-điu.

[Câu đầu muốn nói con cháu của Lạc-Long-Quân và Âu-Cơ đều là con rồng cháu tiên; câu sau ư nói các Lạc-dân khác của Cổ-Bách-Việt, tức thị năm giống Man , Lăo , Di , Dao , Lam, phong-tục khác lạ, ví với liu-điu là loài rắn sống dưới nước, các giống này đều giữ phong-tục nguyên-thủy của ḿnh, được giáo-hoá nhưng không chịu cải-hoá theo.] 

·         Chàng về thiếp một theo mây,
Con thơ để lại chốn này ai nuôi?

[Ư-nghĩa câu thơ này là lời tiên-nữ Âu-Cơ nói với Lạc-Long-Quân lúc dă-biệt.] 

·         Sông sâu suối hiểm làm vầy,

     Ai xui em đến chốn này gặp anh?

     Đào tơ sen ngó xanh xanh,

     Ngọc lành phải giá, gái lành phải duyên.

     Cho hay tiên lại gặp tiên,

     Phượng-hoàng há dễ đứng chen cùng gà?

[Bài hứng này kể lại chuyện đời Hùng-Vương thứ 12 tức Hùng-Vũ-Vương Đức-Hiền, Công-chúa Tiên-Dung đi du-ngoạn ở cửa biển. Thuyền rồng vừa về đến Chử-gia-châu, Công-chúa tản bộ trên băi th́ gặp Chử-đồng-tử đang nấp trong bụi sậy. Nàng tự cho là Nguyệt-lăo xe duyên, nên bèn cùng Chử-đồng-tử kết-duyên vợ chồng.] 

·         Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng,
Cau khô ăn với trầu vàng được không?

[Đây chính là chuyện Trầu Cau. Theo dă-sữ, trong đời Hùng-vương thứ 12, có một quan lang họ Cao sinh được hai người con trai. Người anh lấy con gái của Lưu Huyền-Đạo, nhưng ăn ở không thuận với người em nên người này bỏ đi vào rừng sâu. Gặp ḍng suối lớn chận đường đi tới, chàng bèn khóc lóc thê-thảm mà chết rồi hoá thành cây cau. Người anh đi t́m em khắp nơi không thấy, cuối cùng đến chỗ này hỏi thăm người làng mới hay tự-sự. Chàng liền gục ngă bên gốc cau mà chết hoá thành một thứ dây mọc đeo cuốn quanh thân cau : đó là dây trầu.

Đến khi người vợ nhớ chồng đi t́m đến đấy mới biết cớ sự, cũng ngă người bên thân cau mà chết, hoá thành đống vôi. Dân sở-tại cho là có nghĩa nên lập đền thờ.

Về sau, Hùng-Vũ-Vương Đức-Hiềnđi tuần-thú đến đó dừng xa-giá lại nghỉ, sai bầy tôi hái quả cau, lá trầu mà nhai chung thấy có mùi thơm, t́nh cờ phun vào đống vôi thấy có mầu đỏ. Vua bèn truyền lệnh trong khắp nuớc phải trồng cau và dây trầu. Hễ có cưới gả, yến tiệc, cúng tế là phải dùng trầu cau làm pbẩm-vật đầu tiên thết khách (Miếng trầu là đầu câu chuyện).

Chuyện nầy có khí hoang-đường.

Theo sách Vân Đài Loại Ngữ (3BC), phàm những nơi có lam-chướng hẳn có sinh ra những loại cây cỏ trừ khí độc. Lời nói chí-lư thay !

Nước ta ở vào vùng ôn-đới có nhiều sơn-lam chướng-khí, rừng thiêng nước độc cho nên nhiều cây quế, cây gừng, cây cau, cây ớt hiểm, cây xả v.v. đều là những loại cây trừ được khí độc. Nên chi người vùng ôn-đới phần đông dùng nhiều, c̣n người vùng hàn-đới ít khi dùng đến, thật không như thuyết phản-khoa-học trong dă-sử.  

·         Tạnh trời mây cuốn về non,
Hẹn cùng cây cỏ chớ c̣n trông mưa.

[Ứng với chuyện Thánh Gióng tức Phù-đổng Thiên-vương, xẩy ra đời Hùng-vương thứ 8, tức Hùng-Huy-vương Long-Tiên. Số là ở bộ Vũ-ninh (nay là huyện Vũ-giang, tỉnh Bắc-ninh), giặc dă nhiều năm mà triều-đ́nh chưa dẹp được. Vua t́m người có tài đánh lui được giặc. Làng Phù-đổng có một đứa bé con nhà giầu, lên ba mà vẫn chưa biết nói. Lúc trong nước có giặc, sứ nhà Vua đi qua nhà, đứa bé chợt nói được và bảo mẹ mời sứ nhà Vua đến mà nói rằng : "Xin cho một thanh kiếm và một con ngựa th́ sẽ v́ vua dẹp giặc". Vua bèn y chuẩn. Đứa bé bèn nhẩy lên ngựa rút gươm ra xông thẳng về phía giặc, quan-quân nối theo sau, đánh nhau với giặc ở Tru-sơn (Nay thuộc huyện Tiên-du. Quân giặc vỡ tan, cùng quỳ mọp xuống lạy và gọi là thiên-tướng (tướng nhà trời) mà đầu hàng. Đứa bé bèn phi ngựa trực-chỉ núi Vệ-linh (nay tại phủ Thiên-phúc. Vua nhớ công, cho lập đền thờ ở làng Phù-đổng và núi Vệ-linh. Nội-điện đển thờ có đôi câu đối :

Bất kư hà niên phi thiết-mă;                     不記何年飛鐵馬;       

Tương-truyền thử địa giải nhung-y.           相傳此地解戎衣。

(Không nhớ năm nào Ngài phi ngựa sắt, Tương-truyền nơi đó Ngài trút bỏ nhung-y (quân-phục).

Sách Ngự-chế Việt-sử Tổng-vịnh 越史總詠của vua Tự-đức chép :

Công thành thân thoái túng mă phi. 功成身退縱馬飛。

Lai, tùng hà lai ? Khứ hà quy ?                 來從何來?去何歸?

(Thành công th́ thân phải lui. Phóng ngựa như bay. Từ đâu đến ? Đi về đâu ?)

Tục truyền về sau Thiên-vương hiển-linh ở Tam-đồ-sơn, dân tám huyện lập đền thờ Ngài. Mỗi năm ngày mùng 10 tháng 8  là ngày đại-hội cúng tế báo ơn thần. Mỗi xă đem một con trâu đến để chọi. Xă nào thắng cuộc trọi trâu là được phúc lành. Mỗi kỳ hội đều có mưa to gió lớn, không năm nào là không ứng-nghiệm. Đó là trận mưa rào của Thiên-vương đó ru ? Ca-dao có câu :

Dù ai buôn đâu bán đâu,

Mùng mười tháng tám chọi trâu th́ về.

Dù ai buôn bán trăm nghề,

Mùng mười tháng tám th́ về chọi trâu.] 

 

·         Có con phải khổ v́ con,

Có chồng phải gánh giang-sơn nhà chồng.

[Khi đă thôn-tính được Mân-Việt, vua Hán sai Trang-Trợ sang dụ Triệu Văn-vương sang chầu, nhưng đ́nh-thần can xin đừng đi, vua bèn cho thái-tử Anh-Tề đi thay. Khi ở bên Tầu, Anh-Tề cưới con gái họ Cù làm vợ lẽ, sinh ra đứa con trai tên Hưng. Anh-Tề ở bên Tầu mười năm, đến năm bính-th́n (125 BC) Triệu Văn-vương mất, mới về nước nối ngôi tức là Triệu Minh-vương, trị-v́ được 12 năm. Ông lập Cù-thị làm Hoàng-hậu và Hưng làm thái-tử. Năm mậu-th́n (113 BC), Triệu Minh-vương mất, Hưng lên làm Vua, đó là Triệu Ai-vương. Trước khi lấy Triệu Anh-Tề, Cù-thị thường tư-thông với An-quốc Thiếu-Quư, người đất Bá-lăng bên Tầu. Bấy giờ nhà Hán sai Thiếu-Quư sang dụ Cù Hoàng-hậu và Triệu Ai-vương sang chầu Vua Hán. Thiếu-Quư lại tư-thông với Cù-thị, v́ thế người trong nước phần nhiều không theo. Cù Hoàng-hậu sợ có loạn, muốn dựa uy-lực nhà Hán nên đă nhiều lần xin dâng nước Nam cho Vua Hán. Khi Cù-thị và Ai-vương định về với Hán-triều, có quan Tể-tướng Lă-Gia, biết rơ t́nh-ư, đă cản-ngăn hoài mà không được, mới truyền hịch đi khắp nơi nói rằng vua và Cù-thái-hậu sắp đem nứớc Nam dâng cho nhà Hán ; rồi Lă Tể-tướng cùng với mấy đại-thần dẫn cấm-binh vào cung giết sứ nhà Hán, Cù-thị và Ai-vương. Rồi tôn Kiến-Đức, con vợ cả người Nam-Việt lên làm vua tức là Triệu Dương-vương. Ở ngôi chưa đầy năm, Hán Vũ-đế sai Phục-ba Tướng-quân là Lộ Bác-Đức đem 5 đạo quân sang đánh Nam-Việt. Lă Gia chống không nổi, phải đem Dương-vương chạy trốn. Hán-quân đuổi theo bắt được, vua tôi đều bị hại cả. Nhà Triệu mất. Nước Nam bị Tầu đô-hộ trong 820 năm.

Câu phong-dao này chê-trách Cù-hoàng-hậu không biết giữ đạo đàn-bà : ở nhà th́ theo cha, lấy chồng th́ theo chồng, chồng chết th́ theo con trai (tại gia tùng phụ, xuất-giá tùng phu, phu tử tùng tử 在家從父,出嫁從夫,夫死從子), đó là công-lệ cho nữ-giới.] 

·         Con cóc nằm nép bờ ao,

Lăm-le lại muốn hấp sao trên trời.

[Đỗ-Thích lúc đầu làm lại ở Đồng-quan. Ban đêm nằm ngủ trên cầu, chợt chiêm-bao thấy sao băng rơi vào miệng, tưởng là điềm ḿnh được làm vua, mới âm-thầm mưu toan chí khác.

Niên-hiệu Thái-b́nh thứ 10 (979), đời Vua Đinh-Tiên-Hoàng, Đỗ-Thích làm chức Chi-hậu nội-nhân ở trong cung, thừa lúc vua sau buổi dạ-yến say rượu nằm trong cung, bèn giết vua, rồi giết cả Nam-Việt-vương Liễn.

Tin thí vua phát ra, quan binh vây bắt nghịch-tặc rất gấp. Đỗ-Thích lén nằm trốn nơi ống máng trong cung, qua ba ngày quá khát nước, nhân lúc trời mưa, bèn đưa tay ra bụm nước uống. Cung-nữ trông thấy bèn báo với Định-quốc-công Nguyễn Bặc. Đỗ-Thích bị bắt và bị xử trảm, thân-thể bị xắt nhỏ ra từng miếng. Lúc ấy có lời sấm rằng:

Đỗ-Thích thí Đinh Đinh. Đỗ Thích giết Đinh-Tiên-Hoàng và Đinh-Liễn.        

Lê gia xuất thánh minh.       Nhà họ Lê có Thánh chúa.

Cạnh đầu đa hoạnh nhĩ.       Nhiều đứa phản-nghịch tranh nhau.

Đạo-lộ tuyệt nhân hành.      Đường xá không người đi.

Câu phong-dao này trách bọn bầy tôi phản-nghịch như Đỗ-Thích. Con cóc chỉ Đỗ-Thích. Bờ ao chỉ gờ ông máng trong cung. 

·         Nước trong khe suối chẩy ra,
Ḿnh chê ta đục, ḿnh đà trong chưa?

[Thời nhà Đinh, Thiếu-đế lên ngôi mới sáu tuổi. Lê-Hoàn 黎桓 (tức Lê Đại-Hành), người Ái-châu (Thanh-hoá), làm chức Thập-đạo Tướng-quân giữ việc nhiếp-chính. Lê-hoàn lại tư-thông với Dương Thái-hậu.

Các quan đại-thần lúc bấy giờ là Đinh-Điền 丁佃, Nguyễn Bặc 阮副 thấy Lê-Hoàn nhiếp-chính lộng quyền quá bèn dấy binh đánh Lê-Hoàn mà không thắng nổi.

Về sau hai người lại đem chiến-thuyền ra đánh. Lê-Hoàn nhân thuận gió phóng-hoả đốt chiến-thuyền của hai người, chém Đinh Điền giữa trận, bắt Nguyễn-Bặc đem về kinh-đô và trách mắng rằng: "Tiên-đế bị-nạn, thánh-thần c̣n phẫn-nộ. Ngươi là kẻ bề tôi lại thừa lúc rối-loạn tang-biến bội-nghĩa dấy binh. Chức-phận của kẻ bầy tôi là như thế hay sao ?" Nói đoạn liền cho chém Nguyễn-Bặc.

Đúng lúc ấy nhà Tống sai bọn Hầu-Nhân-Bảo sang xâm-lăng nước ta. Dương Thái-hậu sai Lê-Hoàn tuyển dũng-sĩ để chống-cự.

Đại-tướng Phạm-Cự-Lượng xướng mưu đem Lê-Hoàn lên làm Thiên-tử rồi sau mới xuất-quân. Binh-sĩ đều hưởng-ứng tung hô vạn-tuế.

Thái-hậu thấy ḷng dân đă mến-phục, liền sai lấy áo long-cổn khoác lên ḿnh Lê-Hoàn. Lê-Hoàn lên ngôi Hoàng-đế, lần-lượt lấy niên-hiệu là Thiên-phúc (980-988), Hưng-Thống (989-993) và Ứng-thiên (994-1005).

Câu phong-dao này châm-biếm Lê-Hoàn được nước làm vua một cách bất-chính.  Ḿnh chỉ Lê-Hoàn. Ta chỉ Nguyễn Bặc.

Lê-Hoàn mới đầu lấy phận tôi trách Nguyễn-Bặc rồi rốt cuộc cũng dùng quân-sĩ âm-mưu thoán-đoạt nhà Đinh. Nói mọi người đều đục, riêng ta trong lắm sao ? Bởi thế sách Ngự-chế Việt-sử Tổng-vịnh có câu:

Nhất triêu long-cổn gia thân thượng,         一朝龍袞加身上,       

Dục thảo Đinh-Điền hạp tự quan.              欲討丁佃蓋自觀。

Một mai áo long-cổn mặc vào ḿnh,

Muốn đánh Đinh-Điền hăy xét ḿnh.

Một lời chê trách c̣n nặng hơn búa ŕu ! 

·         Lâm-râm khấn vái Phật, Trời,
Xin cho cha mẹ sống đời nuôi con.

[Mẹ của Lê Đại-Hành họ Đặng lúc mới thụ-thai, nằm mơ thấy trong bụng sinh ra hoa sen, chốc lát kết hột, liền nói với người ta rằng: "Lúc trước tôi nằm mộng thấy trong bụng sinh hoa sen, đó hẳn là điềm sinh quư-tử, nhưng có hột mà không ăn, thi khi đứa trẻ này trưởng-thành, tôi e rằng không được hưởng lộc của nó".

Câu phong-dao này ư nói: muốn thấy con mau trưởng-thành.] 

·         Con ai đem bỏ chùa này ?
A-Di-Đà Phật con thầy thầy nuôi.

[Làng Tiêu-sơn, phủ Từ-sơn, tỉnh Bắc-ninh có chùa Tiêu-sơn là một đại-danh-lam. Sư ông Lư-Khánh-Văn tu ở đấy. Bên chùa có một trai-pḥng thường dành cho khách hành-hương ở trọ.

Thời đó thân-mẫu của Lư-Công-Uẩn họ Phạm thường đi chùa Tiêu-sơn. Bà nằm mộng thấy đi lại với thần-nhân rồi về nhà có thai. Một ngày tháng 2 năm giáp-tuất (974) nhằm niên-hiệu Thái-b́nh thứ 5 nhà Đinh, bà sinh ra đứa con trai. Khi đứa bé lên ba, bà họ Phạm cho Sư ông Lư-Khánh-Văn làm con nuôi, mới đặt tên là Lư-Công-Uẩn. Thuở nhỏ Ngài thông-minh, tư-chất thanh-tú lạ thường và theo học với Sư Lục-tổ. Sư Vạn-Hạnh thấy Ngài liền quư-trọng. Lớn lên Công-Uẩn vào Hoa-lư làm quan nhà Tiền-Lê, đên chức Tả-thân-vệ Điện-tiền Chỉ-huy-sứ. Khi Lê Long Đĩnh mất, Lư-Công-Uẩn đă ngoài 35 tuổi. Bấy giờ ḷng người đă oán-giận nhà Tiền-Lê lắm, ở trong triều có bọn Đào Cam Mộc cùng với sư Vạn-Hạnh mưu tôn Lư-Công-Uẩn lên làm vua.

Lư-Công-Uẩn bèn tức-vị Hoàng-đế, tức là vua Thái-tổ nhà Lư. Ngài đặt niên-hiệu là Thuận-thiên và thiên-đô về Thăng-long.

A-Di-Đà Phật đă tác đại-chứng-minh công-đức đối nhà Lư chăng?]

 ·         Ta trong cây khế ta ra,
Ḿnh c̣n cạnh khế chi ta hỡi ḿnh ?

[Đời vua Lê Ngoạ-triều, Lư-Công Uẩn đang làm chức Điện-tiền Chỉ-huy-sứ. Lúc ấy có sấm-sét đánh tét cây mộc-miên 木棉, trong ruột cây có mấy câu sấm :

Thụ căn yểu yểu,               Gốc cây sâu thẳm,

Mộc biểu thanh thanh.         Lá cây xanh xanh.

Hoà đao mộc lạc,     hoà + đao + mộc   = chữ lê = rụng mất

Thập bát tử thành, thập + bát + tử = chữ Lư ? Thiên-tử

Đông a nhập địa.     + bộ phụ của chữ a = trần (Nhà Trần)

Dị mộc tái sinh.        Cây khác mọc lên ? nhà hậu Lê lên làm vua

Chấn ' cung xuất nhật.    Cung Chấn là phương đông thuộc mộc
                                    là cỏ cây tức chữ măng
 ; măt trời mọc
                                    là chữ nhật
+ thăng ở dưới đáy chữ
                                    măng
; ba chữ họp lại thành chữ mạc
                                    là nhà Mạc
.

Đoài #cung ẩn tinh.         Cung Đoài là phương tây 西, ngôi sao
                                     ẩn chỉ nhà Tây-sơn
西山 nổi lên.

Lục thất niên gian,         Trong khoảng sáu bẩy năm, chỉ nhà
                                  Nguyễn
. Chữ thất cổ văn và Chữ
                                  lục
hợp lại trông giống như chữ
                                     Nguyễn
).

Thiên-hạ thái-b́nh.             Thiên-hạ Thái-b́nh.

Sư Vạn Hạnh bàn-luận riêng với Lư-Công-Uẩn : "Gần đây suy-xét lời sấm th́ thấy họ Lư phải lên làm vua."

Vua Lê Ngoạ-triều nghe được tin ấy, một hôm ăn quả khế, trong ruột thấy có hột mận, biết rằng họ Lư sẽ nổi lên làm vua, bèn sai người đi t́m kẻ nào họ Lư th́ giết đi.

C̣n Lư-Công-Uẩn ngày ngày thường ở bên Vua mà Vua không để ư đến. Cho nên người đương-thời mới đặt ra câu phong-dao này để chế-nhạo.

Nói mận và khế khác loài nhau, nhưng hột mận lại lại từ ruột khế sinh ra, thật không biết đường nào liệu ḍ mà hiểu được. Đó là Trời muốn như vậy. Bứt trái và nhổ gốc cây mận cũng bằng vô-ích. 

·         Mở mang mang chạy lên rừng,
Ta hay mang chạy ta đừng mở mang.

[Mang chỉ Nùng-Trí-Cao.
Ta chỉ vua nhà Lư.

Nùng-Trí-Cao, người châu Thạch-an, là con của thủ-lĩnh Nùng-Tồn-Phúc ở Đảng-do. Tồn-Phúc chiếm cứ châu Quảng-nguyên không chịu dâng cống cho triều-đ́nh. Lư Thái-tông thân chinh đánh bắt được Tồn-Phúc đem về.

Nùng-Trí-Cao trốn nơi sơn-động, lại do sơn-động ở Lôi-châu tiến quân ra chiếm cứ Đảng-do, đổi tên châu ấy thành nước Đại-lịch.

Lư Thái-Tông sai tướng đi đánh bắt được Nùng-Trí-Cao đem về kinh-đô, thương xót hắn v́ cha và anh đều bị giết cả, bèn trao hắn chức châu-mục ở Quảng-nguyên và đem động Lôi-hoả với châu Tư-lang cho hắn nữa.

Nùng-Trí-Cao lại chiếm-cứ động Vật-ác làm phản nữa, tiếm xưng là nước Đại-Nam. Vua Thái-tông sai Quách-Thịnh-Dật dem quân đi đánh mà không thắng.

Nhân có người nhà Tống là Nha-Bân, Nùng-Trí-Cao xin nội-thuộc nhà Tống để chống lại nước ta. Nhà Tống không nhận v́ mới hoà với nước ta.

Nùng-Trí-Cao mưu-tính đoạt lấy đất Ung thuộc Quảng-đông để tự làm vua, đem quân đánh Ung-châu, tiếm-xưng Hoàng-đế, đặt niên-hiệu là Khải-lịch, xua quân đánh lấy 8 châu : Hoành, Quư, Đằng, Ngô, Khang, Đoan, Cung và Tầm-châu, rồi tiến quân vây Quảng-châu.

Bọn tướng nhà Tống là Dư-Tĩnh đánh măi không được, nên vua Tống mới sai Địch-Thanh đi đánh dẹp. Địch-Thanh hợp với quân Dư-Tĩnh đem binh qua Côn-lôn-quan. Nùng-Trí-Cao thua chạy về Đại-lư.

Dư-Tĩnh mộ được quân cảm-tử vào Đại-lư t́m và giết được Nùng-Trí-Cao, đóng ḥm đầu-lâucủa hắn đem về kinh-đô nhà Tống.

Câu phong-dao này chê vua nhà Lư dung-dưỡng quân giặc. Nói Nùng-Trí-Cao hoành-hành phản-nghịch như con mang chạy bậy mà vua nhà Lư tha tội, lại con trao chức quan và cho thêm đất nữa, khiến hắn được thế dựng nước xưng Đế, một lần cử-sự th́ tung-hoành dậy trời, khác nào thả con mang vào rừng khiến nó thành hung dữ. 

·         Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.

[Thằng Mán, thằng Mường chỉ các tù-trưởng người Mán, người Mường miền thuợng-du Bắc-kỳ. Quế là cây ngọc-quế chỉ các công-chúa B́nh-Dương gả cho tù-trưởng Lạng-châu, Công-chúa Kim-Thành gả cho tù-trưởng Phong-châu, Công-chúa Trường-Ninh gả cho tù-trưởng Thượng-oai, Công-chúa Khâm-Thành gả cho tù-trưởng Vị-long và Công-chúa Thiều-Dung gả cho tù-trưởng Phú-lương.

Câu phong-dao này chê trách vua nhà Lư không biết khống chế người Mán mà phải  dùng Công-chúa để trấn-an biên-cảnh. Thật là đáng tiếc.] 

·         Hoa thơm thơm lạ thơm lùng,

Thơm cây thơm cội người trồng cũng thơm.

[Câu phong-dao này chê cười vua Lư-Huệ-tông yêu đắm-đuối mà không sáng-suốt]

 

·         Một ngày dựa mạn thuyền rồng,

C̣n hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài.

[Câu phong-dao này chê Lư-Chiêu-hoàng để cho gian-thần lấn đoạt đi đến việc nhà Lư bị diệt] 

·         Tầu cười, Tây khóc, Nhật lo,
Việt-Nam độc-lập chết co đầy.

[Mô-tả hoàn-cảnh chính-trị nước ta hồi 1945] 

·         Rồng rắn đi đâu?

Đi xin thuốc cho con.

Con lên một. Chả ngon.

Con lên hai. Chả ngon.

Con lên ba. Chả ngon.

Con lên bốn. Chả ngon ...

Con lên mười. Ngọn vậy.

Xin khúc đầu: những xương cùng xẩu.

Xin khúc giữa: những máu cùng me.

Xin khúc đuôi: tha hồ thầy đuổi.

(Thuật chuyện người Pháp thôn-tính ba kỳ của Viêt-Nam).

 

·         Chi chi trành trành,

Cái đanh thổi lửa,

Con ngựa chết trương,

Ba phương thượng-đế,

Chấp-chế bộ-hạ,

Ba cạ đi t́m,

Ú tim … ập.

Bài hát kèm theo cho chơi trẻ con này vô-nghĩa. Trong cuốn Kinh Thi Việt Nam (3BA, tr. 11-14), ông Trương-Tửu có thuật chuyện một lăo-trượng râu tóc bạc phơ, ra đời vào khoảng vua  Tự-đức băng-hà, đă bổ chính nó ra làm sao:

Chu tri rành rành, [Bá-cáo cho bàn dân thiên-hạ đều biết]

Cái đanh nổ lửa. [Nói về 3000 quân Pháp do hải-quân Trung-tướng Pháp Rigault de Genouilly chỉ-huy nổ súng vào cửa Đà-nẵng, tháng 7 năm Mậu-ngọ (1858), rồi lên bờ hạ hai thành An-hải và Tôn-hải.]

Con ngựa đứt cương [ Chỉ vào việc Vua Tự-Đức băng-hà, ngày 16 tháng 6 năm Quư-mùi (1883), ở ngôi 36 năm, thọ 55 tuổi, miếu-hiệu là Dực-tông Anh-hoàng-đế 翼宗英皇帝.]

Ba vương tập đế [Ứng với câu:

Nhất giang lưỡng-quốc nan phân-thuyết.              一江兩國難分說。

Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường.                 四月三王兆不祥。

Chỉ việc Tôn-thất-Thuyết, Nguyễn-Văn-Tường lộng-quyền, giết hại rất nhiều người trung-trực. Chúng cả gan trái lời di-chúc của tiên-vương, bỏ Dục-đức vào ngục tối, lập Hiệp-hoà làm vua. Sau chúng lại giết Hiệp-hoà đem Kiến-phúc thế chỗ. Rồi chúng lại giết Kiến-phúc rôi tôn Hàm-nghi lên ngôi báu.

Cấp kế đi t́m

[V́ tên Ngọc bội-phản mà vua Hàm-nghi bị bắt ở rừng Tuyên-hoá, lúc Ngài đang ngủ.]

Hú tim … oà ập.

Không biết các bài đồng-dao khác như "Nu na nu nống", "Thả đỉa ba ba", "Giung giăng giung giẻ" … có phải là những bài sấm-kư chính-trị người xưa để lại không?


Bài Tập
 

T́m trong các bài tập sau đây, câu nào ứng với nhân-vật lịch-sử hay sử-sự nào 

  1. Một nhà sinh được ba vua,
    Vua c̣n, vua mất, vua thua chạy dài.

  1. Xem lên trăng bạch trời hồng,

        Dạo miền sơn-thủy, bẻ bông thái-b́nh

  1. Mênh mông góc bể chân trời,

        Nhưng người thiên-hạ nào người tri-âm ?
        Buồn riêng thôi lại nghĩ thầm,
        Một duyên hai nợ, ba lầm lấy nhau. 

  1. Thương chồng nên phải gắng công,

        Nào ai xương sắt da đồng chi đây ? 

  1. Ru con con ngủ cho lành,

        Cho mẹ gánh nước rửa bành con voi.

        Muốn coi lên núi mà coi,

        Coi bà quản-tượng cưỡi voi bành vàng.
 

  1. Nước lă mà vă nên hồ,

        Tay không mà nổi cơ-đồ mới ngoan. 

  1. Nực cười châu-chấu đá xe,

        Tưởng rằng chấu ngă ai dè xe nghiêng.

Chú-thích : ở đây châu-chấu chỉ con bọ ngựa tức ngựa trời. 

  1. Chim quyên đào đất ăn trùng,

        Anh-hùng lỡ vận lên nguồn đốt than. 

  1. Ai đem con sáo qua sông ?

        Để cho con sáo sổ lồng sáo bay. 

  1. Đi cùng bốn biển chín châu,

        Về ngồi trong bếp chuột chù cắn chân. 

  1. Trách ḷng Biện Nhạc tứ linh,

        Làm cho con gái thất-kinh hăi-hùng.

        Trách ḷng Biện Nhạc nhiễu điều,

        Làm cho con gái nhiều điều phiền lo.
 

  1. Tiếc thay hột gạo trắng ngần,

        Đă vo nước đục lại vần lửa rơm.

  13.   Dù ai sang cả mặc ai,
        
Thân này nước chẩy hoa trôi sá ǵ !

 

  1. Đoài  cung một sớm đổi thay,

   Chấn ' cung sao cũng sa ngay chẳng c̣n.

   Đầu cha lộn xuống chân con,

   Mười bốn năm tṛn, hết số th́ thôi.

 

  1.  Phụ nguyên chính-thống hẳn hoi,

Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.

Dục ḷng chim chích u-mê,

Thập trên tứ dưới nhầt đè chữ tâm.

 

  1.  Tiền ma bạc quỷ trao tay,

Đô, Môn, Nghệ, Thái, dẫy đầy can-qua.

Giữa năm hai bẩy mười ba,

          Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây

 

   17.  Kià ḱa gió thổi lá rung cây,

          Rung Bắc, rung Nam, Đông tới Tây.

Tan-tác KIẾN kiều AN đất nước,

 Xác-xơ CỔ-thụ sạch AM mây.

 LÂM giang nổi sóng mù THAO cát,

 HƯNG địa tràn dâng HOÁ nước đầy.

 Một ngựa, một YÊN ai sùng BÁI?

 Cha con nhà VĨNH BẢO cho hay.

 

Trả Lời 

  1. Vua c̣n là Vua  Dục-đức, Vua mất là Vua Kiến-phúc và Vua thua chạy dài là Vua Hàm-nghi .

  2. Đinh-Tiên-Hoàng lúc lên ngôi lấy niên-hiệu là Thái-b́nh và lấy quốc-hiệu là Đại- Cồ-Việt

  3. Nàng Mỵ-Châu, con gái Thục An-dương-vương.

  4. Bà Trưng.

  5. Bà Triệu.

  6. Tiên-Lư Nam-đế họ Lư, tên Bí (Thường đọc là Lư Bôn).

  7. Lư-Thường-Kiệt.

  8. Trần Khánh-Dư.

  9. Nguyễn-Hữu Chỉnh tức Cống Chỉnh.

10. Nguyễn-Hữu Chỉnh.

11. Biện Nhạc tức Nguyễn-Nhạc, trưởng-huynh Vua Quang-Trung. Ông vốn là người Nghệ-an, lúc đầu làm biện-lại ở tuần Lộc-động.

12. Hột gạo chỉ Công-chúa Huyền-Trân; nước đục chỉ Chế-Mân, c̣n lửa rơm chỉ Trần-Khắc-Chân.

13. 'Ai' trong câu 6 chỉ Vua Lư Thái-tông. 'Thân này' trong câu 8 chỉ nàng Mỵ-Ê, vợ của Vua Sạ-đẩu nước Chiêm-thành.

 

14. Đoài # cung Hậu-thiên phương tây là  chỉ Nhà Tây-sơn; 'Một sớm đổi thay' có nghĩa là có nhiều đổi thay như anh em bất-hoà, vua Quang-trung mất (1792).  Quẻ Chấn 'là trưởng-Nam chỉ Nguyễn-Nhạc; 'sao cũng sa ngay chẳng c̣n': Nguyễn-Nhạc mất liền năm sau (1793). Đầu bố là bộ tiểu trong chữ quang cũng chính là bộ tiểu trong chữ cảnh của Cảnh-thịnh 景盛(tại-vị 12 năm), con Vua Quang-trung 光中 (tại-vị 2 năm). Mười bốn năm tṛn là 12 + 2 = 14.

 

15. Bộ phụ + nguyên  = Nguyễn , chỉ Nhà Nguyễn. Dê, chữ Nho là dương  đồng- âm với dương chỉ người Tây-dương tức người Pháp. Vua Gia-long tin người Pháp nên con cháu mới mắc mồi họ sang đô-hộ nước ta. Học-tṛ chữ Nho xưa thường có những câu vè để học tiếng một như chữ đức ứng cới câu :

Chim chích mà đậu cành tre,

Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm .

 Vậy hai câu chót ám-chỉ Vua Dục-đức 欲德.

 

16. Khi người Pháp (bạch-quỷ) mới sang cai-trị nước ta, họ đổi tiền đồng, tiền bạc của ta thành tiền giấy tức tiền ma bạc quỷ hết. Đô, Môn, Nghệ, Thái ám-chỉ bốn cuộc khởi-nghĩa Đô-lương (Đội Cung, 1941), Hóc-môn (Quản Hớn với cuộc khởi-nghĩa của 18 thôn vườn trầu sau Hoà-ước năm 1862), Nghệ-an (chống thuế) và Thái-nguyên (Đội cấn, 1917). Tám gà tức bát-kê 八雞 là phiên-âm tên Toàn-quyền Đông-dương Pasquier chết cháy tầu bay năm quư-dậu (1933) là năm nhuận hai tháng năm, như ta đă  biết. Tác-giả câu sấm này đă nhầm là năm quư-dậu nhuận hai tháng bẩy. Năm nhuận vốn dĩ có 13tháng. Chắc tác-giả muốn chơi chữ hai bẩy mười ba thay v́ 2 x 7 = 14 để mọi người chú-ư.

 

17. Bài thơ này liên-quan đến cuộc khởi-nghĩa vũ-trang Yên-bái của Việt-nam Quốc-dân-đảng do Nguyễn-Thái-Học (1904-1930) tổng-chỉ-huy tại các nơi sau đây: 

 

  • Ở Yên-bái Nguyễn-thị Giang (?-1930), tục gọi Cô Giang, giả dạng làm người buôn-bán căi nhau với cai Thiết rồi dẫn binh-đoàn Yên-bái tấn-công thành Yên-bái của thiếu-tá Le Taron đêm 9-3-1930.

  • Cùng đêm ấy, tư-lệnh chiến-khu một (gồm Hà-nội, Hà-đông, Hải-pḥng và Kiến-an) là Nguyễn-Khắc-Nhu tức Xứ Nhu (1881-1930), tiến chiếm được phủ Lâm-thao (Phú-thọ). Quân Pháp từ Phú-thọ kéo sang phản-công, ông bị thương không rút đi cùng nghĩa-quân được. Ông dùng lựu-đạn tự-sát nhưng không chết và bị Pháp bắt. Trên đường quân Pháp áp-giải đi, ông nhẩy xuống sông tự-vận. Chúng vớt kịp ông lên và đem về giam ở Hưng-hoá. Tại đây ông đập đầu vào tường nhà tù và chết ngày 11.2.1930.

  • Đồng thời ở huyện Vĩnh-bảo, tỉnh Hải-dương, Trần-Quang Riệu, khoảng 10 giờ tối, vờ cho tri-huyện sở-tại là Hoàng Gia Mô biết tin khởi-nghĩa. Tên này sợ-hăi bèn cùng lính hầu lên xe hơi trốn về tỉnh-lỵ, nhưng xe vừa chạy được hai cây số, đă bị chi-đội cách-mệnh do Đào-văn Thế cầm đầu chận lại giết chết. V́ Riệu quê ở làng Cổ-am, huyện Vĩnh-bảo, nên sau đó, năm máy bay Pháp đă đến ném bom triệt-hạ làng này. Thiên-hạ đồn rằng chính sau cuộc triệt-phá này người ta đă t́m ra quyển sấm của Cụ Trạng Tŕnh bởi lẽ Cụ sinh-trưởng tại làng Trung-Am đời Lê sau này đời Nguyễn mới đổi thành Cổ-am


THƯ TỊCH KHẢO 

3BA Kinh Thi Việt Nam của Trương-Tửu, Tủ sách Hàn-Thuyên, Hà-nội, 1940.

3BB Việt Nam Phong Sử 越南風史 của Nguyễn Văn Mại阮文邁, Tạ-Quang-Phát dịch, Phủ Quốc-vụ-khanh Đặc-trách Văn-hoá xuất-bản, Sài-g̣n, 1972.

3BC Việt-Nam Bách-Khoa Toàn-Thư  - Vân Đài Loại Ngữ 芸薹類語, Bảng-nhăn Lê-Quư-Đôn trước, Nhà sách Tự-lực.

 

 

 

    Xem Kỳ 20

 

  

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com