www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 24

 

DỊCH - DỤNG

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 188)       

 

MƯU LƯỢC

(446 , tr. 61-98)

         

      Mưu-lược là một thủ-đoạn chính-trị, hoặc chính đáng (dương-mưu) hoặc không chính đáng (âm-mưu quỷ-quyệt). 

Dương-mưu: Dương-mưu  thuộc về chính-mưu, tích-cực tiến tới, phù-hợp với quy-luật phát-triển cuả xă-hội, với ích-lợi cuả quốc-gia, với nguyện-vọng cuả quốc-dân, có thể dẫn đến thống-nhất đất nước, đoàn-kết dân-tộc hay thịnh-vượng kinh-tế.

          Đặc-điểm cuả dương-mưu là có nền móng triết-lư vũng chăi.

          Mưu lược bao giờ cũng có nền móng triết-lư. Mạnh-tử đề ra thời-cơ, thiên-thời, điạ lợi, nhân hoà.

          Việt-vương Câu-Tiễn muốn chinh-phạt Ngô-Vương Phù-Sai để rửa hận, thành công là nhờ mưu-thần Phạm-Lăi mấy lần nắm vững thời-cơ thiên-thời, điạ-lợi, nhân  hoà.

          Mưu-lược-gia phải biết 'thẩm thời độ thế', tỷ như Ngụy tướng Tư-mă Ư là người sành 'thẩm thời độ thế', ông chỉ biết thủ thế mặc cho Gia-Cát Lượng khiêu-khích, đưa cho y-phục phụ-nữ thách mặc để làm nhục, ông vẫn b́nh tĩnh án binh bất động, không nghênh chiến.

          Bất luận thiên-thời, điạ-lợi, nhân-sự yếu kém ít hay nhiều, ưu thế khó ḷng thành-công, nên chi mưu-lược chính-tắc là quan-kiện cuả dự-kiến sự vật thành-bại. Nhà mưu-lược cao minh là người nắm vững được chân-lư ấy, cùng là giỏi về dùng thiên-đạo luận nhân-sự.

          Mưu-lược-gia sở dĩ thành công là nhờ dùng nhất biến ứng vạn-biến. Dịch nói: "Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu" (Hạ-Hệ II/5), yết-thị quy-luật vận-động biến-hoá, c̣n bọn mưu-lược-gia th́ chú-trọng đến quy-luật thiện-biến sự vật, ứng dụng cho quyền biến. Tỷ như mưu-sĩ cuả Mạnh Thường Quân Phùng Hoan lại có biến-kế 'thỏ khôn có ba huyệt'.

          Mưu-lược-gia cũng phải có năng-lực thiện-biện, khai-thác triệt-để tư-duy biện-chứng đă phát-triển từ thời trước. Chu Dịch dùng quy-luật mâu-thuẫn âm-dương, cương-nhu, thịnh-suy, ẩn-hiển, tổn-ích để tôn-định cơ-sở biện-chứng tư-duy cổ-đại. Lăo-tử tiến thêm một bậc phát-triển quy-luật biện-chứng trung-gian sự vật tương-phản, tương-thành. Nay nếu ta phối-hợp Chu Dịch với Đạo-đức-kinh thành một khối, ta sẽ được một nền móng vững chắc cho mưu-lược. Như cân nhắc mưu công và cứ thủ, biến-thông giữa tiến thoái, hiểu rơ khác biệt giữa hư với thực. Như thời-kỳ Chiến-quốc, mấy thế-hệ vương tướng nước Tần đều thông hiểu quan-hệ biện-chứng giữa 'xa' và 'gần' giữa 'gốc' và  'ngọn'. Như phụ-tướng Phạm-Thư cuả Tần Chiêu Vương, như Tể-tướng Lư-Tư cuả Tần Thủy Hoàng đều từng đề-xướng kế sách 'giao-kết với xa mà công-kích gần', 'tránh thực mà đánh hư', 'pḥ yếu mà đè mạnh'. Các kế sách đó củng-cố phép tắc biện-chứng cuả mưu-lược, giúp cho Tần Thủy Hoàng thắng được lục-quốc, lập đại-nghiệp thống-nhất Trung-quốc.

Âm-mưu: Âm-mưu  thuộc về mưu-lược bất-chính-đáng, phi-chính-nghiă, đặc-biệt ở chỗ quỷ-quyệt, gian-trá, lang-độc, đại diện cho lạc-hậu và thế-lực hủ-lậu.

        V́ đi ngược lại trào-lưu lịch-sử và lợi-ích quốc-gia cùng là nguyện-vọng nhân-dân, nên loại mưu-lược này xung-đột và trở ngại cực-đại cho phát-triển xă-hội, lịch-sử. Nhân đó, làm quốc-gia lâm vào cục-diện phân-liêt và nội-loạn, kinh-tế tŕ-trệ.

          Âm-mưu chỉ kế-hoạch ám-muội, không chính đáng. Từ âm-mưu xuất-hiện sớm nhất trong 'Sử-Kư, Tề Thái-Công Thế Gia': "Khi Chu Tây-Bá Cơ-Xương được thả khỏi ngục Dữu-lư, bèn cùng Lă-Thượng âm-mưu tu-đức để khuynh-loát chính-trị Nhà Thương". Nhưng mà ở đây, 'âm-mưu' được dùng theo nghiă rộng, bao gồm âm-mưu bên trong cũng như không chuyên chỉ mưu-lược bất chính. Đặc-điểm cuả 'âm-mưu' như sau:

1.    Tính siêu-phản-thường cuả âm-mưu:

Âm-mưu thường được gian-tướng, gian-thần, hoạn-quan cùng hậu-phi thi-hành

2.    Tính gian-trá cuả âm-mưu:

3.    Đặc-điểm ẩn-nguỵ cuả âm-mưu:

 

Chu Dịch Mưu-Lược

          Tất cả mưu-lược cổ-đại Trung-quốc đều dựa vào Kinh Dịch. Xin xét về ba mặt:

 MƯU-LƯỢC CHÍNH-TẮC

         Chu Dịch mưu-lược dựa vào mô-thức chính-tắc tư-duy do 64 quẻ đặt để. Do đó,  có khả-năng khống-chế toàn cuộc: như quẻ Kiển chỉ cần lấy 6 tượng 'tiềm',  'tại', 'kiền kiền', 'dược', 'phi', 'kháng', tức phản-ảnh chính-tắc mưu-lược liền, kiện-toàn mưu-lược quá-tŕnh. Mưu-lược chính-tắc cuả Chu-Dịch, bất-luận tại chính-trị, quân-sự hay nhân-sự, đều có ảnh-hưởng sâu đậm tới hậu-thế. Đại-phàm, thượng-tầng mưu-lược cuả hậu-thế đều là mưu-lược chính-tắc.61

 

ẨN-HIỂN MƯU-LƯỢC

    Một đặc-điểm nữa cuả mưu-lược Chu Dịch là khiá cạnh ẩn-hiện. Như nói:

"Ngưỡng dĩ quan ư thiên-văn, phủ dĩ sát ư điạ-lư, thị cố tri u-minh chi cố, nguyên thủy phản chung, cố tri tử-sinh chi thuyết, tinh-khí vi vật, du-hồn vi biến, thị cố tri quỷ-thần chi t́nh-trạng = Ngẩng lên để xem thiên-văn, cúi xuống đểm xét điạ-lư, cho nên biết cái cớ về tối sáng, suy-nguyên từ trước, trở lại về sau, nên biết cái thuyết sống chết, có tinh và khí là vật, chỉ có hồn phảng-phất là biến, nên biết cái t́nh-trạng cuả quỷ-thần" (Thượng-Hệ IV/2). Lại nói: "Nhất hạp nhất tịch vị chi biến, văng lai bất cùng vị chi thông = Một đóng, một mở gọi là biến, đi lại chẳng cùng gọi là thông" (Thượng-Hệ XI/4). Cũng  nói: "Thám trách sách ẩn, câu thâm trí viễn, dĩ định thiên-hạ chi cát hung. = Ḍ cái thâm u, t́m cái kín đáo, kiếm cái sâu, đi tới cái xa, để định cái tốt xấu." (Thượng-Hệ XI/7).

Tức là nói: nên t́m kiếm sự vật ở những chỗ u-ẩn thâm sâu, yết-thị quy-luật ẩn-hiển

Chu Dịch lấy cả các tượng 'tiềm', 'tại', 'kiền kiền', 'dược', 'phi', 'kháng', đề-thị quy-luật chuyển-biến tiềm-ẩn cùng là hiển dược cuả sự vật.

Đặc-điểm cuả mưu-lược là quyền xung thời-cơ ẩn-hiển, đương lúc ẩn nên hiển, đương lúc lộ mới nên lộ luôn. Chiến-luợc ẩn-hiển thường thường là yếu-tố thành-bại quan-trọng. Như Dịch nói: "Quân bất mật tắc thất thần, thần bất mật ắt thất thân, cơ-sự bất mật ắt hại thành, thị dĩ quân-tử thận mật nhi bất xuất dă. = Ông vua chẳng cẩn-mật th́ mất bầy tôi, bầy tôi chẳng cẩn mật th́ mất cái thân ḿnh, cơ-sự chẳng cẩn mật th́ cái hại nẩy ra, cho nên người quân-tử giữ bí-mật mà chẳng để lộ ra vậy"(Thượng-Hệ VIII/10). Dịch nói: ""Phù Dịch chương văng nhi sát lai, chương hiển xiển u, khai nhi đáng, danh-biện vật chính, ngôn đoán từ tắc bị hỹ = Ôi đạo Dịch làm rơ rệt cái đă qua mà xét cắp tới, làm sáng tỏ cái kín đáo, mở toang cái bí-mật, mở ra mà xứng đáng cái tên, phân-biệt được sự vật, chính được câu nói, quyết đoán được lời; đầy đủ cả vậy"(Hạ-Hệ VI/3). Nơi chiến-lược quyền-mưu ẩn với hiển thể-hiện khi tấn-công và pḥng-ngự, nơi trận-điạ-chiến hoặc vận-động-chiến, dù là kiên-thủ hay di-chuyển.

          Về mặt chiến thuật, ắt biến-hoá nơi mưu-kế hư-thực, tiến-thoái, công-thủ.

          'Tôn-tủ Binh-pháp, Thế-thiên' nói: "Như lấy đá chọi trứng, hư-thực vậy". Tức dùng đá chọi trứng để tỷ dụ chiến-thuật hư-thực, ẩn-hiển, quan trọng đối với ư nghiă quyết-định thành bại.

          Theo 'Tam Thập-lục-Kế', kế thứ 20, 'cùng địch không bằng phân địch, địch dương không như địch âm'. Ở đây dương đại-biểu hiển-lộ, công-khai hay thực, âm ắt tiêu-biểu cho ẩn-tế, bí-mật hoặc hư. 'Địch dương không như địch âm' có nghiă là nên tránh hư mà đương đầu với thực.

          Lại như, kế thứ 21 ve sầu bằng vàng thoát xác (Golden circada shedding the skin), ắt phối-hợp hiển-ẩn với hiển-lộ, kỳ thực là chiến-mưu cuả ẩn-độn. Kế thứ 27 là : "Trữ ngụy làm không biết, không làm, bất-ngụy làm giả-tri, vơng vi, tĩnh không lộ cơ, vân lôi Truân vậy". Tức bề ngoài không lộ thanh-sắc, âm thầm khẩn-trương chuẩn-bị, thế làm nổi lôi kích, dẫn đến thắng-lợi. Kế thứ 32: "Đă hư cho hư luôn, trong ngờ sinh ngờ, giữa cương-nhu, kỳ lại thêm  kỳ". Tương-tự, đề-thị chiến-thuật, chiến-lược hư hư thực thực, cho thiên-hạ thưởng-thức mùi vị 'Tam-thập-lục kế, tẩu vi thượng sách', cũng là một loại kế quyền-nghi ẩn-hiển.

          Tóm lại, mưu-lược ẩn bao gồm cơ-mật, hư, ẩn-tế, cùng là ứng-biến, thuộc mưu-lươc âm-tính. Mưu-lược ắt bao hàm công-khai, thực, hiển-lộ cho chí chính, mưu-lược thông-thường.

          Nguyên-tắc trọng-yếu cuả mưu-lược là: đương ẩn không ẩn, nên hiển không hiển tất bại, có đại-ẩn ắt có đại-thành-công, đó là yếu-chỉ cuả quy-luật ẩn hiển.

          Kinh Dịch vừa là một bộ sách triết-học, vừa là một bộ sách khoa-học xă-hội, uẩn-tàng chiến-thuật tâm-lư phong-phú, chứa chan quy-luật luận-lư. V́ có pha vào ngôn-từ bói toán, nên Chu Dịch vừa là nguồn cuả dịch-lư vừa là tổ cuả dự-trắc-học. 

 

BIỆN-THUẬT

(446 , tr. 154-169) 

          Từ xưa đến nay Trung-hoa là một dân-tộc giỏi biện-thuật, biện-giả đa tài. Đại-đa-số các biện-giả là các chính-trị-gia, quân-sự-gia trứ-danh. Họ thường là biện-sĩ hay sứ-giả như các danh-gia, tung-hoành-gia thời Xuân Thu Chiến-quốc. Rất nhiều người trong bọn họ làm thay đổi vận-mệnh quốc-gia, dùng ba tấc lưỡi mà cả thắng thiên-binh vạn mă. Họ phong-phú-hoá và nâng cao giá-trị biện-thuật.

          Trong số các biện-sĩ cổ-đại Trung-quốc, vô-luận chính-trị quỷ-biện cuả tung-hoành-gia như Tô-Tần, Trương-Nghi, Đặng-Tích, chính-danh hoặc tán-lưu nơi dân-gian cuả danh-gia, hoặc cuả nho-gia, luân-lư chính-trị-biện cuả pháp-gia, không ai chẳng là biện-sĩ đa-tằng. Biện-tài cuả họ hoặc bảo-tồn nơi sử-thư, nơi thư-tịch quân-sự, hoặc tán-lưu nơi dân-gian, bao-hàm lư-luận tư-duy và kỹ-thuật biện-thuyết, vô-luận đối với chính-giới, quân-giới hay thương-giới, đều có giá-trị khải-thị trọng-yếu. Ta có thể quy-nạp biện-sĩ cổ-đại Trung-quốc vào ba loại chính: 

Biện-sĩ tung-hoành gia

            Tung-hoành-gia là biện-sĩ Trung-quốc thời-kỳ Chiến-quốc, lấy Qủy-cốc-tử và hai môn-đệ cuả ông là Tô-Tần, Trương-Nghi làm đại-biểu. Quỷ-cốc-tử là tỵ-tổ cuả mưu-sĩ và biện-sĩ Trung-quốc.

          Đặc-điểm cuả tung-hoành-gia là lấy 'hợp-tung liên-hoàn' làm mục-đích chính-trị biện-thuyết. 'Hợp-tung liên-hoàn' xuất-hiện lần đầu tiên trong Tư-mă Thiên 'Sử-kư'.

Theo 'Hán-thư, Nghệ-văn-chí', bọn tung-hoành-gia xuất-phát từ quan-viên lưu-động, đương quyền chế-nghi, nhận mệnh mà không nhận lời. Họ là một trong 9 cửu-lưu, trong đó Tô-Tần du-thuyết 6 nước chư hầu 'Yên, Triệu, Hàn  Ngụy, Tề, Sở' chống Tần, xưng là 'Hợp-tung', mà Trương-Nghi ắt cổ-vơ 6 nước phụng-sự Tần, gọi là 'Liên-hoành'. Thoạt đầu, phái hợp-tung thắng thế, sau bị Trương-Nghi công-phá, Tô-Tần bị dồn về Tề, đến khi Tần-Huệ Vương mất, Vũ-Vuơng kế-vị, Trương Nghi không được tín-nhiệm nữa, hợp-tung được tái-lập.

Đặc-điểm biện-thuyết cuả tung-hoành-gia thuộc về qủy-biện chính-trị, khác với lư-luận qủy-biện, không chơi đuà với những khái-niệm lư-luận mà đuà bỡn với chính-thuật, họ giỏi 'thẩm thời độ thế'.

Tóm lại, đặc-điểm biện-thuật cuả tung-hoành-gia là lập mưu. 

Biện-sĩ danh gia

Danh-gia ám-chỉ các nhân-vật Tiên-Tần như Đặng-Tích, Huệ-Thi, Công-tôn

Long. Họ không giống biện-sĩ tung-hoành-gia lấy chính-thuật làm chủ, mà lấy lư-luận làm ṇng cốt biện-thuyết. Mục-đích là thuyết chính-danh, chủ-yếu là thực-biện và h́nh-danh-biện.

          Đặng-Tích là tổ-sư danh-gia, thích h́nh-danh-biện, quan-điểm chính-yếu là 'phải trái đều có thể luận', Huệ-Thi phối-hợp dị-đồng, Công-tôn Long ắt lấy bạch-mă cùng là 'ly kiên bạch' làm trước-xưng. Nên biện-sĩ danh-gia cũng được gọi là biện-sĩ h́nh-danh. Đặc-điểm cuả họ là lấy học-thuật biện-sĩ làm chủ, nhưng cũng kiêm cả chính-thuật, như 'phi lưỡng khả' cuả Đặng-Tích bao gồm cả phán-đoán chính-sự, trong đó trong đó không thiếu ǵ vấn-nạn kiểu Tử-Sản.

          Trừ ba vị danh-gia biện-sĩ kể trên, c̣n có cả danh-biện-sĩ cuả Tề Tắc-hạ Nghê-Thuyết cùng Điền-Ba. Tề Tắc-hạ ám-chỉ học-sĩ-viện nước Tề thời-kỳ chiến-quốc, tụ-tập danh-sĩ học-thuật-giới, trước sau gồm có: Tống-H́nh, Doăn-Văn, Tuân-Huống tức Tuân-tử, Trâu-Diễn cùng là Nghê-Thuyết, Điền-Ba. 'Ngựa trắng không phải là ngựa' cuả Nghê-Thuyết trưóc thời cuả cuả Công-tôn Long nhiều, hự hưngnhiên ảnh-hưởng trên 'bạch-mă luận' cuả Công-tôn Long. Điền-Ba cũng lấy danh thực-biện phiếm xưng 'văn danh' (nghe tên), như sử-gia Tư-mă Thiên đă từng phê-b́nh: "Tề biện-sĩ Điền-Ba, dời 'kiên bạch', 'hợp di-đồng', một ngày mà thuyết-phục được cả ngàn người" (Sử-kư, Chính-nghiă, Truyện Lỗ Trọng Liên).

          Ngoài ra, 'chính-danh', cuả Tuân-tử cũng thuộc về biện-thuyết lư-luận.

Tóm lại, danh-gia biện-sĩ cũng gọi là h́nh-danh biện-sĩ, chủ-yếu dùng luận-lư làm mục-đích, là thành-phần trọng-yếu trong phát-triển-sử luận-lư-học Trung-quốc.  

Biện-sĩ luân-lư chính-trị

          Biện-sĩ luân-lư chính-trị ám chỉ các biện-sĩ thời-kỳ Xuân Thu Chiến-quốc lấy biện-thuyết luân-lư chính-trị làm mục-đích. Họ đi du-thuyết v́ sự hưng-suy cuả quốc-gia. Hô giảng thuyết v́ tồn-phế cuả luân-lư với chuyên tâm 'khắc kỷ phục lễ'. Họ thuộc loại biện-sĩ thượng-tằng, có chí-hướng chính-trị cao xa, có tài ba quang minh lỗi lạc, thuộc phái biện-thuyết chính-đạo, đại-biểu cuả họ là Khổng-tử, Mạnh-tử và Hàn Phi-tử.

          Khổng-tử là tiên-khu cuả danh-thực-biện. Trước tiên đề-xuất 'chính-danh'. Ngài nói: "Danh chẳng chính th́ lời nói không thuận tai, lời nói không thuận tai, th́ việc không thành, việc không thành, th́ lễ-nhạc không dấy lên, lễ-nhạc không dấy lên th́ h́nh phạt không đúng phép. H́nh phạt không đúng phép, th́ dân không biết làm thế nào cho phải phép. Cho nên người quân-tử đă định cái danh ǵ tất có thể nói ra được. Đă nói điều ǵ tất có làm thành được. Đối với lời nói, người quân-tử không bao giờ cẩu thả vậy" (Luận-Ngữ XIII/3).

          Bối-cảnh lịch-sử cuả 'chính-danh' là thời-kỳ 'Lễ băng, nhạc hoại' cuối đời Xuân Thu. Nhân đó, mục-đích 'chính-danh' cuả Khổng-tử là để phục-lễ, nên ngài mới du-thuyết lục-quốc, đặc-điểm biện-thuyết này là lấy luân-lư chính-trị làm ṇng cốt, biện  thuyết này là lấy chính-trị mà hiệu-chính luân-lư. 

          Mạnh-tử thừa-kế luận-lư chính-danh cuả Khổng-tử, đề-xướng thuyết 'tiên vương lấy ḷng bất nhẫn mà thực-hành chính-trị' để suy-hành nhân-chính mà biện-thuyết, đặc-điểm biện-thuyết này là lấy luân-lư chính-trị làm mục-đích, lấy 'chính nhân-tâm' làm ṇng cốt. Ngoài ra, khi biện-luận về 'bạch-vũ', 'bạch-tuyết' 'bạch-ngọc' đưa ra một luận-cứ xác đáng.  

          Hàn Phi-tử cũng là một biện-sĩ chính-trị trứ-danh, mục-đích cuả ông là suy-hành pháp-chính, lấy pháp-trị thay thế lễ-trị, cho nên đặc-điểm biện-thuyết cuả ông là lấy chính-pháp biện-thuyết làm ṇng cốt.   

          Tóm lại, các biện-sĩ luân-lư chính-trị kể  trên, đều chọn đặc-điểm biện-thuyết cuả họ là phối-hợp chính-thuật với biện-thuật, không quỷ-quyệt, không thủ-đoạn chính-trị, thuộcvề biện-thuyết chính-đạo, dùng làm kiểu-mẫu cho các chính-trị-gia biện-thuyết.

 

Biện-giả Ẩn-sĩ

          Biện-giả Ẩn-sĩ ám chỉ một số biện-sĩ cao-cấp như Lăo-tử, Trang-tử, Dương-Chu. Họ có triết-lư cao thâm và tri-thức uyên-bác, nhưng không ưa làm chính-trị, chỉ thích ở ẩn, một đời xuất-thế đạm bạc. đặc-điểm biện-thuyết cuả họ là thờ ơ với chính-trị, lấy tự nhiên, tự tại làm ṇng cốt. Nên cũng gọi họ là biện-sĩ luận-lư tự nhiên.

          Lăo-tử sống đời Xuân Thu, rất ghét lễ-trị, miệt-thị quyền-thuật, không tranh giành nơi chính-giới, lấy 'vô-vi, vô-bất-vi' làm phương-châm, thửa luận-lư biện-thuyết là 'vô-danh-biện' bao-quát đạo 'bản-thể-luận hư-ảo', do nơi khái-niệm 'danh', dẫn tới 'triết-lư nhân-sinh hư-vô'. Chính là cái ta gọi là: vô-vi, vô-dục, vô-tranh, vô-đấu, bất-học, nhất-thiết coi thiên nhiên là hơn cả, nên gọi là 'đạo-pháp tự nhiên'.

          Danh-thực-biện cuả Lăo-tử phản-ảnh quan-hệ giữa Đạo và Danh, cụ-thể là biện-luận giữa 'hữu' và 'vô' tức hữu đạo với vô-danh. Cho nên vo-hữu biện cuả Lăo-tử chính là biện-luận về bản-thể cuả vũ-trụ. Về biện-luận này Lăo-tử hơi hàm-hồ nhưng cũng phản-ảnh được đặc-điểm biện-thuyết cuả ông.

          Ngoài ra, chính-phản lưỡng-cực biện cuả ông, uẩn hàm triết-lư biện-chứng-pháp phong-phú, là một cống-hiến cho việc phát-triển luận-lư biện-chứng.

          Trang-tử là một biện-sĩ thời Chiến-quốc, theo chủ-nghiă triết-học duy-tâm. Ông nâng nhân-sinh-quan tiêu-cực cuả Lăo-tử lên một bực, đề ra h́nh nhi thượng  cuả tề-vật biện triết-lư. Rút cục rơi vào luận-lư quỷ-biện tương-đối. Hai luận-đề nổi tiếng cuả ông 'vừa có thể vừa không' và 'vừa sống vừa chết' cuả ông vi-bội luật mâu-thuẫn và đồng-nhất-luật cuả quỷ-biện.

          Dương-Chu là người nước Ngụy thời thời Chiến-quốc, cũng xưng là Dương-tử. Thiên Dương-Chu trong sách Liệt-tử nói rằng: "Dương-Chu chu-du nước Lỗ, ở nhà họ Mạnh". Quan-điểm chính-yếu là 'ái kỷ', trên căn-bản là tư-tưởng đạo-gia, tư-tưởng cuả ông thấy nhan nhản nơi các sách 'Mạnh-tử', 'Trang-tử'  'Tuân-tử' và 'Hàn-Phi-tử'.

'Ái kỷ' cuả Dương-Chu đối chọi với 'Kiêm-ái' cuả Mặc-Địch.

        Dương-Chu và Mặc-Địch sống cùng thời. Quan-điểm cuả hai nhà đối-lập. Ảnh-hưởng đương-thời rất lớn, chính như lời b́nh-luận cuả Mạnh-tử: "Lời cuả Dương-Chu, Mặc-Địch đầy khắp thiên-hạ, lời cuả thiên hạ không Dương-Chu th́ Mặc-Địch" (Mạnh-tử, Đằng Văn Công Hạ).

 

Biện-thuật cuả các Biện-sĩ Thời cổ 

        Biện-sĩ cổ-đại Trung-quốc thời cổ chủ-yếu là các tung-hoành-gia thời-kỳ Xuân Thu, Chiến-quốc, cũng gồm một phần các danh-gia, mặc-gia ... Theo Hán-thư, Nghệ-văn-chí, các tung-hoành-gia gồm có 12 nhà, trước-tác 107 thiên:

          Tô-tử, tên Tần, 32 thiên, có liệt-truyện.

        Trương-tử, tên Nghi, 10 thiên, có liệt-truyện.

        Bàng-Noăn, 2 thiên , là tướng nước Yên.

        Khuyết-tử, 1 thiên.

          Quốc-Vu-tử, 17 thiên.

          Tần Linh-Lăng, Linh-Tín, 1 thiên. Gặp nạn cuả Tần-Tướng Lư-Tư.

          Khoái-tử, 5 thiên, tên Thông

Trâu Dương, 7 thiên.

Chủ-Công-Yển, 28 thiên.

Từ-Nhạc, 1 thiên.

Trang-An, 1 thiên.

Đăi Chiếu Kim-mă Liêu Thương, 3 thiên. Là người nước Triệu, thời Vũ-Đế.

Hán-thư Nghệ-văn-chí không chép ǵ về Quỷ-cốc-tử cả. Nhưng, ngược lại, Tùy-thư Kinh-tịch-chí chỉ liệt-kê có một ḿnh Quỷ-cốc-tử như: Quỷ-cốc-tử, 3 quyển (Hoàng-Phủ Bật chú: Quỷ-cốc-tử, đời Chu, ẩn nơi Quỷ-cốc). Lương, Quỷ-cốc-tử, 3 quyển, Lạc-Nhất chú. Có Bổ-khuyết-tử, 10 quyển.

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 190

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com