www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 24

 

DỊCH - DỤNG

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 187)       

 

ĐÔNG-Y-DƯỢC''

(446 , tr. 929-968)

Ta sẽ nghiên-cứu kỹ đề-tài hấp-dẫn này nơi CHƯƠNG 26 Y-DỊCH VẬN-KHÍ. Ở đây chỉ xin nói ngay là đáng kể nhất Đông-y có 'Thương-hàn-luận' cuả Trương Trọng-Cảnh và Đông-dược có 'Bản Thảo Cương Mục' cuả Lư Thời-Trân, xuất-bản vào thế-kỷ thứ 16.

Trương Cơ 張機, tự Trọng-cảnh 仲景 (150-219), là một nhà Đông-y kiệt-xuất, người xứ Nam-dương, nay là Nam-dương, tỉnh Hà-nam, được tôn-xưng là y-thánh. Trương Cơ từ tấm bé, bác-lăm cổ-thư, rất ham thích y-học, từng theo học nghề thuốc nơi ngưởi đồng-hương là danh-y Trương Bá-Tổ, sau làm Thái-thú Trường-sa, nên người đương-thời gọi ông là Trương Trường-sa và v́ ông chế ra nhiều phương thuốc, nên họ cũng gọi ông là Trường-sa phương. Trọng-cảnh lúc trẻ cũng theo học với danh-sĩ đồng-hương Hà-Ngung. Ngung có bảo cho ông biết: "Ông suy nghĩ tinh-minh, nhưng vận-mệnh không mấy cao, nhưng sau này sẽ trở thành lương-y". Lúc chết quả như lời đoán (Hà Ngung Biệt-truyện).

Cuối đời Đông-Hán bệnh dịch hoành hành, gia-tộc Trọng-Cảnh trong ṿng chưa đầy mười năm, có đến hai phần ba nhiễm bệnh mà chết, trong số người chết, bẩy phần mười là chết v́ bệnh thương–hàn. Ông khắc-khổ ra công dọc các y-tịch cổ-điển như 'Tố-vấn', 'Linh-khu', 'Bát-thập-nhất nạn', 'Âm-dương Đại-luận', 'Thái-lư Dược-lục', thừa-kế các lư-luận cơ-bản cuả 'Hoàng-đế Nội-kinh', thâu-thập một cách quy-mô các phương-pháp trị-liệu cuả các y-gia khác, cùng là kết-hợp các kinh-nghiệm chẩn-trị bệnh-tật phong-phú cuả bản thân mà viết ra cuốn 'Thương-hàn Tạp-bệnh-luận 傷寒雜病論' trứ-danh này. Theo 'Tân Đường-Thư, Nghệ-văn-chí', nguyên tên sách là 'Thương-hàn Tốt-bệnh-luận 傷寒卒病論'. Ngựi đời sau hiểu nhầm tốt là chết tốt nên mới đổi chữ tốt thành chữ tạp. Gần đây, học-giả Nhật-bản Đại-Chủng Kính-Tiết phát-hiện Khang-B́nh bản 'Thương-hàn-luận', nguyên-đề là 'Thương-hàn Tốt-bệnh-luận'. Ông nghiệm ra rằng 'tốt' là thống-lĩnh, nhân đó sách làm ra cốt để dùng lục-kinh biện-chứng mà thống-trị thương-hàn và tạp-bệnh, nên mệnh danh sách là 'Thương-hàn Tốt-bệnh-luận'.

Ông được người đời sau suy-tôn làm 'Y-tông chi Thánh' hoặc Y-Thánh.

Theo truyền-thuyết, lần đầu tiên Trọng-Cảnh gặp văn-gia Vương-Sán 王粲, ông này mới 20 tuổi, nên Trọng-Cảnh mới nói với ông ấy: "Ông đă nhuốm bệnh rồi, nên sớm trị-liệu. Nếu không đến 40 tuổi, lông mày bắt đầu rụng, rồi sẽ chết. Hiện-tại chỉ cần uống năm thang thuốc, là có thể cứu-văn. Nói đoạn, Trọng-Cảnh đưa cho Sán năm thang thạch-phương để uống". Sán không vui, tự cho ḿnh là văn-nhă, cao-quư. Huống hồ, thân-thể chẳng có ǵ là không thoải-mái. Sau vài ngày, họ Trương lại đến gặp họ Vương và hỏi ông đă uống thuốc chưa? Vương Sán nối dối là đă uống. Trọng-Cảnh bèn quan-sát một chặp thần-sắc ông này, rồi lắc đầu, nghiêm mặt nói: "Ông chưa uống thuốc. Thần-sắc vẫn như bữa trước. Cớ sao ông lại cữ bệnh, kỵ thuốc, không quan-tâm đến mạng sống cuả ḿnh vậy". Từ đầu chí cuối, Sán không tin lời Trọng-Cảnh. Quả nhiên, 20 năm sau, lông mày Sán bắt đầu rụng và nửa năm sau th́ chết.

Trương Trọng-Cảnh y-thuật cao-siêu, y-đức cao-thượng. Ông quan-niệm rằng: trách-nhiệm cuả thầy thuốc là trị bệnh cứu người. Y-sinh ngoài y-thuật cao-minh ra, c̣n phải có thái-độ ôn-hoà và tinh-thần sáng-tạo.

Ông nghiên-cứu Nội-kinh một cách đại-quy-mô, thâu góp các kinh-nghiệm trị-liệu trong dân-gian, hợp với các thực-nghiệm lâm-sàng cuả chính ḿnh, mà viết ra sách 'Thương-hàn Tạp-bệnh-luận 傷寒雜病論' (16 Quyển). Chủ-xướng các nguyên-tắc đối thương-hàn lục-kinh biện-chứng và tạp-bệnh bát-cương biện-chứng, đăt nền móng cho đông-y biện-chứng luận-trị. Các nguyên-tắc trị-liệu này đến ngày nay vẫn c̣n được tin dùng. Sách cuả ông đă tán-dật, nên người đời sau hiệu-chỉnh sách này và chia thành hai sách 'Thương-hàn-luận 傷寒論' và 'Kim Quỹ Yếu-lược 金匱要略'.

          Sách 'Thương-hàn-luận' khu-phân bệnh-chứng thành hai loại: ngoại-cảm thương-hàn và nội-thương tạp-bệnh.

          'Thương-hàn-luận' sáng-thiết lục-kinh biện-chứng và liệt-kê các cách trị ngoại-cảm thương-hàn’.

          C̣n nội-thương tạp-bệnh bao gồm: hoắc-loạn-bệnh, bách-hợp-bệnh, âm-dương độc, ngược-bệnh, ứ-huyết-bệnh, hung-tí-bệnh (bệnh tê-liệt), thủy-ẩm-bệnh, khái-thấu-bệnh (các chứng ho), tạp-bệnh phụ-nữ. Tất cả các cách trị-liệu này được xếp vào sách riêng mang tựa đề là 'Kim Quỹ Yếu-lược'.  

          Sách 'Thương-hàn-luận' ta có ngày nay là cuả Thái-y-lệnh đời Tây-Tấn Trương Thúc-Hoà (201-280), tên Hi , một đệ-tử cuả Trương Trọng-Cảnh. Trương Thúc-Hoà cũng viết ra sách Mạch-kinh.

  

 

Thương HànLuận                 Bản Thảo Cương Mục

          Trương Cơ                    Lư Thời-Trân              Trương Thúc-Hoà

            Lư Thời-Trân 李時珍(1518-1593), tự Đông-bích 東璧, về già tự hiệu là Tần-hồ Sơn-nhân 瀕湖山人, người trấn Kỳ-châu (nay là trấn Kỳ-châu, huyện Kỳ-xuân, thị-xă Hoàng-cương, tỉnh Hồ-bắc).

          Năm 14 tuổi, để khỏi phụ ḷng thân-phụ, ông thi đậu tú-tài. Nhưng sau ba kỳ đi thi hương mà không đậu cử-nhân, ông bỏ nho-học mà theo nghề y cho đúng sở nguyện. Ông quyết tâm tự nhủ: "Thân như thuyền bơi ngược ḍng, tâm chí dắn dỏi như sỏi đá". Từ đó, ông chuyên-tâm nghiên-cứu y-dược.

          Năm 30 tuổi, ông trở thành đương-điạ danh-y. Năm 38 tuổi, Sở-vương ở Vũ-xương, nghe danh ông, bèn vời về làm vương-phủ 'Phụng tự-chính', trông coi lương-y sự-vụ.

          Năm Bính-th́n (1556), nhân thái-y-viện khuyết chân thái-y, ông được bổ về kinh-đô Kim-lăng. Chỉ một năm sau, nhân bất-măn v́ y-viện lộng-hành ô-yên chướng-khí, ông từ quan về nhà và xây cất ngôi nhà mới ở bờ bắc Vũ-hồ, đặt tên là 'Hồng Hoa Viên', ở đó hành nghề bốc thuốc.

Từ đó về sau, ông luôn luôn nghiên-cứu y-dược. Ông khởi thảo sách 'Bản Thảo Cương Mục' vào năm Gia-tĩnh thứ 31 (Nhâm-tư, 1552), hoàn thành vào năm Vạn-lịch thứ 6 (Mậu-dần, 1578). Toàn thư 190 vạn chữ, phàm 52 quyển, 62 mục, sưu-tầm được 1892 loại dược-vật, tân tăng 374 vị nữa, đồ-phổ hơn một vạn bức, hơn một vạn bài thuốc. Mỗi vị thuốc đều có đủ các mục: thích-danh, tập-giải, chính-ngộ, tu-trị, khí-vị, chủ-trị, phát-minh, phụ-phương, có thể nói là điều-lư thành-tích, nội-dung hoàn-bị. Sau đó, trong ṿng 12 năm, tu-đính ba lần.

'Bản Thảo Cương Mục' (Compendium of Materia Medica) là một cự-trước, không những về mặt dược-vật-học, mà c̣n bàn đến cả Thiên-văn, Điạ-chất, Hoá-học, Thực-vật-học, có thể nói sách này là một Bách-khoa Toàn-thư đời cổ vậy.

            Ông cũng có trước-tác các sách: Tần-hồ Mạch-học 瀕湖脈學, Kỳ-kinh Bát-mạch-khảo 奇經八脈考, Tần-hồ Tập-giản-phương 瀕湖集簡方, Tam-tiêu Khách-nạn三焦客難,  Mệnh-môn Khảo命門考, Ngũ-tạng Đồ-luận五臟圖論 Tần-hồ Y-án瀕湖醫案. Nhưng ngày nay các sách này đều thất-truyền, ngoại trừ hai cuốn đầu.

       Năm Vạn-lịch thứ 21 (1593), Lư Thời-Trân mất, an-táng tại trấn Kỳ-châu, huyện Kỳ-xuân, tỉnh Hồ-nam, cách bến Vũ-hồ 12 cây số về phiá đông-nam.

          Cái khó khi soạn 'Bản Thảo Cương Mục' là ở chỗ thời đó tên thuốc hỗn-loạn, mà h́nh-trạng dược-vật, t́nh-trạng sinh-trưởng cuả chúng rất mù mờ, bởi chưng các Bản-thảo xưa, giải-thích lờ mờ, v́ lư-do các soạn-giả không chiụ điều-tra, chỉ sao đi chép lại, tam sao thất bản, sở dĩ càng giải-thích lại càng hồ-đồ thêm, làm cho người đọc chẳng biết thế nào nữa.

          Bởi vậy, Lư Thời-Trân, cùng đồ-đệ Bàng-Hiến và con ruột Kiến-Nguyên, t́m đến các thâm-sơn cùng dă, quan-sát và thu-thập dược-vật. Và chính ông nếm, thử thuốc và đi phỏng-vấn các danh-y túc-nho và hỏi han cả các ngư-ông, nông-phu b́nh-dân, ngơ hầu sưu-tập các nghiệm-phương dân-gian.

       Trừ Hồ Quảng ra, ông có ghé thăm nhiều điạ-phương như Giang-tây, Giang-tô, An-huy. Ông cũng đi qua núi Thái-hoà ở Quân-châu. Ông cũng có đặt chân đến 'thịnh-sản dược-tài' tại Lư-sơn Giang-tây và Nhiếp-sơn ở Nam-kinh, Mao-sơn và Ngưu-đầu-sơn.

 

THIÊN-VĂN

(446, tr. 588-603)

Xin xem lại CHƯƠNG 3 Thiên Văn Lịch Toán.

            Ở đây chỉ xin bổ-túc dăm ba chi tiết quan-trọng:

Ngũ-sử-thư ám-chỉ: Hán-thư, Tùy-thư, Đường-thư, Tấn-thư và Tống-thư.

Ngũ-sử Thư: Thiên-văn-chí

(446, tr. 588-596)

Hán-thư · Thiên-văn-chí, có các mục sau đây:

1.    Hoàng-đạo, Hắc-đạo:

Mặt trời có hoàng-đạo, mặt trăng có cửu-hành.

Trung-đạo là hoàng-đạo, quang-đạo một ngày. Quang-đạo một ngày, bắc tiến đến Đông-tỉnh, đi đến gần Bắc-cực; nam tiến đến Khiên-ngưu, đi đến xa Bắc-cực; đông đến tú Giác, tây đến tú Lâu, dời cực-trung. Hạ-chí đến nơi Đông-tỉnh, bắc gần cực, nên quỹ-cảnh ngắn, lập biểu 8 thước, mà quỹ-cảnh dài 1 thước, 5 tấc 8 phân. Đông-chí đến nơi Khiên-ngưu, xa cực, nên quỹ-cảnh dài, lập biểu 8 thước, mà quỹ-cảnh dài 1 trượng, 3 thước, 1 tấc 4 phân. Xuân-phân đến Lâu, Giác, dời cực-trung, mà quỹ-cảnh trung-b́nh, lập biểu 8 thước, mà quỹ-cảnh dài 7 thước, 3 tấc 6 phân. V́ nhật dời cực có sai-biệt, quỹ-cảnh tất tiết-chế theo. Xa cực bao nhiêu khó biết bấy nhiêu, nên mới lấy quỹ-cảnh. Sở dĩ quỹ-cảnh cho biết nhật ở nam hay bắc vậy. Nhật là thái-dương. Nhật dụng-sự, ắt nhật tiến về phiá bắc, ban ngày tiến mà dài, dương thắng, nên ấm hoặc nóng; nguyệt dụng-sự, ắt nhật thoái về phiá nam, ban ngày thoái mà ngắn đi, âm thắng, cho nên mát hoặc lạnh. Cho nên nhật tiến là nóng, thoái là lạnh, như quả nhật xoay lưng về nam thất-tiết, quỹ lỗi mà dài là thường rét, thoái mà ngắn là thường ấm-áp. Đó là phát-biểu cuả ấm lạnh, nên nói là rét bức. Một ngày quỹ-cảnh dài là băo lụt, quá độ là phù. Phù là tà-thần tiến mà chính-thần trôi dạt, quân-tử không đủ mà gian-nhân có dư.

Mặt trăng có cửu-hành: hai hắc-đạo, vượt ra khỏi phiá bắc cuả hoàng-đạo; hai xích-đạo, vượt ra khỏi phiá nam cuả hoàng-đạo; hai bạch-đạo, vượt ra khỏi phiá tây cuả hoàng-đạo; hai thanh-đạo, vượt ra khỏi phiá đông cuả hoàng-đạo. Lập-xuân, xuân-phân, nguyệt ở phiá đông, men theo thanh-đạo; lập-thu, thu-phân ở phiá tây, men theo bạch-đạo; lập-đông, đông-chí ở phiá bắc, men theo hắc-đạo; lập-hạ, hạ-chí ở phiá nam, men theo xích-đạo. Như vậy, dùng nó, nhất quyết là pḥng-trung-đạo. Thanh, xích vượt ra khỏi dương-đạo, hắc-bạch vượt ra khỏi âm-đạo. Như quả thất tiết-độ mà đi bậy, vượt ra khỏi dương-đạo, ắt hạn và gió, vượt ra khỏi âm-đạo, ắt u-ám và mưa.

2.    Nhị-thập-bát Tú là 28 toạ-tiêu di-động, tức:

Đông-phương Thương-long: Giác, Cang, Đê, Pḥng, Tâm, Vỹ, Cơ;

Nam-phương Chu-tước: Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn;

Tây-phương Bạch-hổ: Khuê, Lâu, Vị, Măo, Tất, Chủy, Sâm;

Bắc-phương Huyền-vũ: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích.

Hán-thư · Thiên-văn-chí chép rằng:

Giác, Cang, Đê là Doăn-châu. Pḥng, Tâm là Dự-châu. Vỹ, Cơ là U-châu. Đẩu là Giang, Hồ. Khiên-ngưu, Vụ-nữ là Dương-châu. Hư, Nguy là Thanh-châu. Doanh-thất, Đông-bích là Tinh-châu. Khuê, Lâu, Vị là Từ-châu. Măo, Tất là Kư-châu. Chủy-huề, Sâm là Ích-châu. Đông-tỉnh, Dư-quỷ là Ung-châu. Liễu, Thất-tinh, Trương là Tam-hà. Dực, Chẩn là Kinh-châu.

3.    Thất-diệu ám-chỉ nhật, nguyệt và ngũ-tinh, tức Kim-tinh, Mộc-tinh, Thủy-tinh, Hoả-tinh và Thổ-tinh.

Hán-thư · Thiên-văn-chí chép rằng:

Tuế-tinh là đông-phương, là muà xuân, là Mộc-tinh; Huỳnh-hoặc là nam-phương, là muà hạ, là Thủy-tinh; Thái-bạch là tây-phương, là muà thu, là Kim-tinh; Thần-tinh là bắc-phương, là muà đông, là Thủy-tinh; Trấn-tinh là trung-ương, là tứ-quư, là muà hè, là Thổ-tinh.

4.    Thái-dương hắc-tử

Năm Hà-b́nh nguyên-niên, đời vua Thành-đế, tháng ba Ất-mùi, mặt trời có sắc vàng, có hắc-khí, lớn bằng đồng tiền, vào chính giữa mặt trời.

5.    Nhật-thực, Cực-quang (Aurora Borealis)

Nhật-thực: không hoàn-toàn như móc câu tại nguyên 20, lúc bị che, từ tây-bắc, 20 (Hán-thư · Ngũ-hành-chí).

Cực-quang: "Kiến-thủy nguyên-niên (32 BC, Kỷ-sửu), tháng 9, ngày mậu-tư, có lưu-tinh xuất hiện gần Văn-xương, sắc trắng, quang-huỳnh vậy, dài khoảng 4 trượng, dao-động như rồng rắn đi ... (Hán-thư · Ngũ-hành-chí).

Tấn-thư · Thiên-văn-chí, viết trong thời-khoảng từ Trinh-nguyên thứ 18 đến năm Trinh-nguyên thứ 20 (644-646), do thiên-văn-gia Lư Thuần-Phong chấp-bút. Sách này tổng-kết một cách có hệ-thống các ghi chép cuả các sách 'Sử-kư', 'Hán-thư',  và 'Hậu-Hán-thư', cùng là bổ-sung và phát-huy toàn-diện, thật là một tham-khảo-thư trọng-yếu khi nghiên-cứu Thiên-văn-học Cổ-Trung-Quốc.

Thiên-văn Thượng bao-quát: thiên-thể, nghi-tượng, thiên-văn kinh-tinh, nhị-thập-bát xá, nhị-thập-bát tú, thiên-hán khởi đầu,  12 thứ độ-số, Châu-đô triền-thứ.

Thiên-văn Trung bao-quát: thất-diệu, tạp-tinh-khí, khách-tinh, lưu-tinh, vân-khí, thập-huy, tạp-khí, sử-truyền sự-nghiệm.

Thiên-văn Hạ bao-quát: nguyệt, ngũ-tinh phạm-liệt-xá, kinh-tinh biến-phụ-kiến, yêu-tinh khách-tinh, tinh-lưu-vẩn, vân-khí.

Đối với các thiên-thể trong vũ-trụ có những nhận-thức sau đây:

Chép tường-tận các 'Hồn-thiên-nghi Chú' cuả Trương-Hoành về Thuyết 'hồn-thiên':

'Hồn-thiên-nghi Chú' nói: "Trời như quả trứng gà, đất như ḷng đỏ cuả trứng, đứng một ḿnh ên bên trong, trong và ngoài trời có nước, trời đất đều do khí mà ra, tải nước mà vận-hành, xoay quanh trời trong 365 ¼ , lại chia ra làm hai, một nửa ở trên đất, một nửa ở dưới đất, nên nhị-thập-bát tú, cái ẩn, cái hiện" (Tấn-thư · Thiên-văn-chí Thượng).

Tức là nói: trời tượng vỏ trứng gà, đất tượng ḷng đỏ trứng gà, đất do khí đẩy ra, lơ lửng trong nước, nên điạ-cầu tṛn. Nói khác đi, Vũ-trụ-quan đời Hán là quan-điểm duy-vật.

Tuệ-tinh (sao chổi):

Tuệ-tinh vốn không phát-quang, sở dĩ có ánh sáng là nhờ chiết-xạ ánh sáng mặt trời, nên chiều tối xuất-hiện ở phương đông, sáng sớm xuất-hiện ở phương tây. C̣n mặt trời ở nam-bắc th́ tùy-thuộc lúc đó là lúc nào trong ngày, cường-độ ánh-sáng mặt trời mạnh hay yếu, nên  sao chổi dài hay ngắn (Tấn-thư · Thiên-văn-chí Thượng).

Nói khác đi, sao chổi vốn dĩ không phát-quang, ánh sáng cuả nó là ánh sáng mặt trời chiết xạ mà ra, sở dĩ đuôi sao chổi luôn luôn quay về phiá mặt trời. Nhận xét về sao chổi này, Âu-châu chậm mất chín thế-kỷ.

Thất-diệu:

Thất-diệu chỉ Nhật, Nguyệt, Kim-tinh, Mộc-tinh, Thủy-tinh, Hoả-tinh và Thổ-tinh.

Nhật là tinh-hoa cuả thái-dương ... Nguyệt là tinh-hoa cuả thái-âm ... Tuế-tinh là đông-phương xuân mộc, ... Huỳnh-hoặc là nam-phương hạ-hoả ... Trấn-tinh là trung-ương quư-hạ thổ ... Thái-bạch là tây-phương thu kim ... Thần-tinh là bắc-phương đông-thủy. Phàm ngũ-tinh mầu sắc và kích-thước bất-đồng. Các hành-tinh tùy theo chuyển-động mà thuận-thời, ứng-tiết, sắc-biến có loài (Tấn-thư · Thiên-văn-chí Trung).

Bắc-thần:

Bắc-cực ngũ-tinh, Câu-trận lục-tinh, đều nằm bên trong Tử-cung, mà bắc-cực bắc-thần là tối tôn, thiên-vận vô-cùng, tam-quang điệt-diệu, mà cực-tinh bất-động, nên chúng-tinh đều chầu (Tấn-thư · Thiên-văn-chí Trung).

Nhị-thập-bát xá:

Đông-phương Giác nhị-tinh là Thiên-quan, vùng phụ-cận là Thiên-môn, vùng bên trong là Thiên-đ́nh, nên Hoàng-đạo đi qua thửa trung-ương thất-diệu ... Tây-phương Khuê thập-lục-tinh là Vũ-khố cuả trời vậy ...Bắc-phương Nam-đẩu lục-tinh, Thiên-miếu vậy ... Nam-phuơng Đông-tỉnh bát-tinh là Nam-môn cuả trời, Hoàng-đạo có đi qua đó.

Nhi-thập-bát Xá là 28 hằng-tinh trên trời như 'Tấn-thư · Thiên-văn-chí' có đề-cập, phát-biểu là nhị-thập-bát Tú là dạ-không toạ-tiêu cuả mặt trời. Ban đêm quan-sát nhi-thập-bát Tú là có thể biết được vị-trí cuả mặt trời.

Nhị-thập-bát Tú xuất-hiện sớm nhất là trong 'Thượng-Thư · Nghiêu-điển', như:

Giữa trưa, tinh-ô, để ban trọng-xuân ... Nhật-vĩnh, tinh-hoả, để chính trọng-hạ ... Tiêu-trung, Tinh-hư để ban trọng-thu ... Nhật-đoản, Tinh-Măo để chính trọng-đông.

       Tùy-thư · Thiên-văn-chí, có các mục sau đây:

Tùy-thư · Thiên-văn-chí, tại Quyển #19 đến Quyển #21, Chí #14 đến Chí #16 phân ra Thiên-văn Thượng, Thiên-văn Trung,Thiên-văn Hạ, để luận-thuật.

Nội-dung chính-yếu là:

Thiên-văn Thượng bao-quát thiên-thể, Hồn-thiên-nghi, Hồn-thiên-tượng, cái-đồ, quỹ-cảnh, điạ-trung, lậu-khắc, kinh-tinh trung-quan.

Thiên-văn Trung có nhị-thập-bát xá, điền-trạch-sự, tinh-quan ở ngoài nhị-thập-bát tú, thiên-chiêm, thất-cộ, yêu-tinh, tạp-yêu, khách-tinh, lưu-tinh, vân-khí, thụy-khí.

Thiên-văn Hạ có Hàm-thập-huy, tạp-khí.

Thiên-thể: có nhưng nhận-thức về thiên-thể sau đây:

Đời cổ nói về ba loại thiên-thể, như:

Đời cổ nói về thiên-văn có ba nhà: Cái-thiên, Tuyên-dạ, và Hồn-thiên. Cái-thiên tức Chu-bễ, gốc ở họ Bào-hi, lập ra chu thiên lịch-độ, c̣n người truyền ắt là Chu-công, nhận từ chí cuả người Thương-Chu, nên gọi là Chu-bễ ... Thuyết Cái-thiên cho bầu trời như cái lồng bàn, quả đất cũng vậy, trời đất đều giữa cao, mé ngoài thấp hơn. Dưới bắc-cực là trung-tâm cuả trời đất, đất tối cao ...

Hồn-thiên-nghi có những ghi chép tinh-tế sau đây, như:

      Đ́nh-thọ năm thứ bẩy, Thái-sử-lệnh Trương-Hoành lấy đồng và cho 4 phân là một độ, giáp ṿng 1 trượng, 4 thước, 6 thốn, 1 phân, đồng-thời trong mật-thất cũng lấy lậu-thủy truyền đi. Nay đổi lại 3 phân làm 1 độ, giáp ṿng dài 1 trượng, 5 phân 4/3, phép cổ 3 thước, 6 tấc, 5 phân 1/4, giảm hoành-pháp cũng là 3 thước, 6 tấc, 4 phân ¼, hồn-thiên-nghi pháp hoành xích-đạo mỗi cái rộng khoảng một độ rưỡi ...

Quỹ-cảnh: trong sách dẫn cổ-thuật doanh-xúc bất-đồng, nên có ảnh-sai, nay đem ra luận-thuật, như:

"Năm xưa, Chu-Công đo quỹ-cảnh nơi Dương-thành để tham-khảo lịch-kỷ, trong Chu-lễ chỗ nói về chức cuả Đại-tư-đồ lấy thổ-khuê mà đo bề sâu chỗ đất cuả chính-nhật-cảnh ... ", "Cùng là ngày hạ-chí, thửa trung-ảnh, đều dài 1 thước, 5 tấc, 8 phân, lấy đó mà suy, Kim-lăng cách Lạc-dương theo đường nam-bắc vào khoảng 1000 dặm, mà ảnh-sai là 4 tấc, ắt mỗi 250 dặm ảnh-sai là 1 tấc vậy".

Lậu-khắc: sách này về lịch-đại lậu-khắc đo thời-gian có kư-thuật như sau:

          Hán Vũ-Đề chia trọn một ngày làm 100 khắc, phân-phối vào 12 thần, mỗi thần là 8 khắc, nên dôi ra 4 khắc, thành thử ra trọn một ngày chỉ có 96 khắc, mỗi thần chỉ có 8 khắc nguyên thôi, đến năm Đại-đồng thứ 10 lại đổi thành 108 khắc. Đến năm Khai-hoàng thứ 14, Phu-châu Tư-mă Viên-Sung, khắc trên qũy-cảnh, và nghiệm ra rằng các khắc trước sau không đều nhau. Nhị-chí, nhị-phân th́ dùng phép tiễn-thần-khắc mà lệnh-liệt.

    Đường-thư · Thiên-văn-chí, có các mục sau đây:

     Đường-thư · Thiên-văn-chí liệt-kê nơi Đường-thư, quyển #31, Chí #21 đến Chí #23, phân làm ba phần: Thiên-văn I, Thiên-văn II, Thiên-văn III, chủ-yếu ghi chép:

Nhật-thực và các loại cảnh-tượng:

Nhật-thực: Vũ-đức nguyên-niên, mùng 10, ngày nhâm-thân, sóc-nhật tại Đê 50 ...

Mặt trời mầu đỏ, vô-quang, mặt trời mầu tím, cũng vô-quang, chính giữa mặt trời có hắc-khí trông như cái khuyên, mặt trời mầu đỏ như đá đỏ, một cầu vồng sắc trắng chắn ngang mặt trời, ánh sáng mặt trời tựa như vô-quang v́ có hoàng-khí che mất, mặt trời có ánh sáng xanh vàng, sắc mặt trời tán-xạ như bằng vàng, trên mặt trời có hắc-khí (Đường-thư · Thiên-văn-chí I).

   Lưu-tinh: ... năm thứ 12, tháng 10, nhâm-th́n, lưu-tinh lớn như cây đào, sắc đỏ hồng, có quang-huỳnh ...

Vẩn-thạch: ... năm thứ 14, tháng 5 nhuận, tân-hợi, có sao sa nơi đông-bắc, quang-huỳnh như ban ngày, tiếng động như sấm dậy ...

Tuệ-tinh: Cảnh-phúc nguyên-niên, tháng năm, cờ đuôi nheo Si-vưu bắt đầu xuất-hiện, có sao chổi trắng, h́nh như tóc, dài hai thước, đi ngang mặt trời, bèn từ không-trung rớt xuống như một tấm vải, đến mặt đất là là như con rắn ...

Ngũ-tinh:

Ngũ-tinh tụ-xá năm Vũ-đức nguyên-niên, tháng 7 bính-ngọ, Trấn-tinh, Thái-bạch, Thần-tinh tụ nơi không-phận cuả Đông-tỉnh Quan-trung, nhị-niên, tháng 3 bính-thân, Trấn-tinh, Thái-bạch, Thần-tinh lại tụ nơi Đông-tỉnh, cửu-niên, tháng 6, kỷ-măo, Tuế-tinh hội-hợp nơi Đông-tỉnh.

        Tống-sử · Thiên-văn-chí, có các mục sau đây:

Tống-sử · Thiên-văn-chí chép nơi Quyển #48, bao gồm Thiên-văn-chí #1 đến gồm Thiên-văn-chí #13. Trong sách đó, nội-dung Thiên-văn-chí phong-phú, phồn-đa, là một bộ Thiên-văn-chí tới tường-bị trong sử-thư. Tại Thiên-văn-sử có một giá-trị tham-khảo trọng-yếu.

Thiên-văn-chí #1 gồm có: nghi-tượng, cực-độ, hoàng-xích-đạo, trung-tinh, thổ-khuê.

Thiên-văn-chí #2 gồm có: Tử-vi-viên, Thái-vi-viên, Thiên-thị-viên.

Thiên-văn-chí #3 chứa nhị-thập-bát Tú Thượng.

Thiên-văn-chí #4 chứa nhị-thập-bát Tú Hạ.

Thiên-văn-chí #5 gồm có: Thất-diệu, Cảnh-tinh, Tuệ-tinh, Khách-tinh, Lưu-tinh, Yêu-tinh, Tinh-độ, Vân-khí, Nhật-thực, Nhật-độ, Nhật-huy-khí, Nguyệt-thực, Nguyệt-độ, Nguyệt-huy-khí.

Thiên-văn-chí #6 gồm có: Nguyệt phạm ngũ-vỹ, Nguyệt phạm liệt-xá Thượng.

Thiên-văn-chí #7 có: Nguyệt phạm liệt-xá Hạ.

Thiên-văn-chí #8 có: Ngũ-vỹ phạm liệt-xá.

Thiên-văn-chí #9 gồm có: Tuế-tinh trú-kiến, Thái-bạch trú-kiến kinh-thiên, Tuệ-tinh, Ngũ-vỹ tương-phạm, Lăo-nhân-tinh, Cảnh-tinh, Khách-tinh.

Thiên-văn-chí #10 có: Lưu-vẩn #1.

Thiên-văn-chí #11 có: Lưu-vẩn #2.

Thiên-văn-chí #12 có: Lưu-vẩn #3.

Thiên-văn-chí #13 có: Lưu-vẩn #4.

Ghi chép chủ-yếu gồm có:

Hoàng-xích-đạo:

Xích-đạo: Trong phép chiếm thiên cuả Hoàng-xích-đạo, lấy nhị-thập-bát Tú cương-duy phân-liệt bốn phương, nam-bắc cách cực 91 độ có lẻ, nam thấp mà bắc cao, cách mặt đất 36 độ, nhất-định bất-dịch kêu tên là xích-đạo.

Hoàng-đạo: lấy nhật-triền phân nửa ở trong xích-đạo, phân nửa ở ngoài xích-đạo, sinh nhân trong ngoài cục viễn đều 24 độ, lấy thửa hành chính giữa xích-đạo, gọi là hoàng-đạo.

Phàm ngũ-vỹ đều đi theo mặt trời trên hoàng-đạo, duy mặt trăng có cửu-đạo, bốn muà giao-hội, quy nơi hoàng-đạo mà chuyển-biến. Nên mới có bốn tên khác nhau là: thanh, hắc, bạch, xích. Ôi xích-đạo chung-cổ bất-di, ắt tinh-xá nên vô-doanh-súc-cứu (Tống-thư · Thiên-văn-chí #1).

Nhị-thập-bát Tú:

Hai tú ở đông-phương Giác tú là Thiên-quan, vùng phụ-cận là Thiên-môn, vùng bên trong là Thiên-đ́nh, nên thửa hoàng-đạo đi qua thất-diệu (Tống-thư · Thiên-văn-chí #2).

Sáu tú ở bắc-phương Nam-đẩu là Thường-lộc cuả trời (Tống-thư · Thiên-văn-chí #3).

Sáu tú ở tây-phương Khuê tú Vũ-khố cuả trời ... (Tống-thư · Thiên-văn-chí #4).

Tám tú nam-phương Đông-Tỉnh, là Nam-môn cuả trời, hoàng-đạo có đi ngang, thất-diệu thuờng xoay vần bên trong ... (Tống-thư · Thiên-văn-chí #4).

Thất-diệu:

Nhật là tinh-hoa cuả Thái-dương, một ngày đi một độ, một năm xoay giáp một ṿng. Nhật-nguyệt hợp-sóc: phàm nguyệt đi 29.53 ngày tương-hội mặt trời gọi là hợp-sóc.

Ngũ-tinh: Tuế-tinh là đông-phương, là xuân, là mộc ... Huỳnh-hoặc, là nam-phương, là hạ, là hoả ... Trấn-tinh là trung-ương, là qúy-hạ, là thổ ... Thái-bạch là tây-phương, là thu, là kim ... Thần-tinh là bắc-phương, là muà đông, là thủy.

 

Ngũ-sử Thư: Luật-lịch-chí

 

Trong 5000 năm lịch-sử, dân Tầu sản-xuất được hơn một trăm thứ lịch, chỉ tiếc một điều, các lịch-pháp ấy thiếu chuyên-thư, có chuyên-trước th́ đa-số lại thất-truyền, mà sử-thư đại-đa-số lại không có luật-lịch-chí để bảo-tồn các loại lịch-pháp.

Khái-Luận

Trung-quốc là một nước nông-nghiệp, xưa nay vốn coi trọng lịch-pháp, nhân v́ sản-xuất quốc-gia, quốc-sự và sinh-hoạt nhân-dân liên-quan mật-thiết với nhau.

Trong 5000 năm Văn-minh-sử Trung-quốc, lịch-pháp cũng có 5000 năm thực-tiễn và cải-tiến. Từ Xuân-Thu Chiến-quốc đến giờ, lịch-pháp đă sản-xuất được già trăm loại. Trong đó, quan-trọng nhất là: Lịch Chuyên-Húc, Lịch Thái-sơ, Lịch Tam-thống, Lịch Đại-diễn, Lịch Đại-minh, Lịch Thụ-thời. Chúng được ghi chép trong: 'Sử-kư · Lịch-pháp', 'Hán-thư · Lịch-pháp', 'Đường-thư · Lịch-pháp', 'Tống-sử · Lịch-pháp', và Nguyên-sử · Lịch-pháp'.

Thành-Tích Trọng-Yếu

1) Sử-kư · Lịch-thư có ghi: Lịch Chuyên-húc, Lịch Thái-sơ.

Lịch Chuyên-húc khởi-nguyên từ Chu-triều. Sau khi Tần-thủy-hoàng thống-nhất Trung-quốc, lịch ấy được dùng đến  đời Hán Vũ-đế, Thái-sơ nguyên-niên.

Lịch Chuyên-húc thể-dụng cổ-lịch tứ-phân, cũng gọi là cổ-lục-lịch, là lịch-pháp xưa nhất cuả Tầu. Cái gọi là cổ-lục-lịch chính là Hoàng-đế-lịch, Chuyên-húc-lịch, Hạ-lịch, Ân-lịch, Chu-lịch, Lỗ-lịch hợp-xưng, đến nay đă thất-truyền.

Lịch Chuyên-húc dùng tứ-phân-pháp để tính lịch. Đặc-điểm ở chỗ dùng năm 365 ¼ ngày, một tháng sóc-vọng là  ngày, lấy lập-xuân mỗi năm làm khởi-điểm tiết-khí một năm. Lịch-pháp này đuợc dùng một mạch đến khi có lịch tứ-phân. Do đó, lấy tháng 10 làm tháng đầu năm, từ từ gia-tăng tiết-khí và nguyệt-phận để tránh sai-số, sở dĩ thời Tây-Hán mới đào thải lịch này mà thay thế bằng lịch Thái-sơ.

Sử-kư · Lịch-thư, Thiên 'Lịch-thuật Giáp-tư', luận-thuật Lịch Tứ-phân, có ghi chép về lịch Thái-sơ: "Tháng Một, ngày sóc, Giáp-tư, đông-chí, kỷ-thiềm, đổi năm thứ 7 làm Thái-sơ nguyên-niên ... Nửa đêm ngày mùng một là đông-chí".

Xin xem 'Thái-sơ Lịch' ở bên dưới.

 2) Hán-thư · Luật-Lịch-chí có ghi: Lịch Thái-sơ, Lịch Tam-thống.

1. Lịch Thái-sơ: 

Lịch-pháp này do bọn Lạc-Hạ Hoành, Đặng-B́nh sáng-chế. Tương-đối là một lịch-pháp tinh-tiến thời Tây-Hán và cũng là một bộ lịch-thư đầu tiên trong lịch-pháp-sử Trung-quốc.

Lịch Thái-sơ được lưu-hành từ Hán-Vũ-Đế Thái-sơ nguyên-niên(104 BC) đến Đông Hán Chương-Đế Nguyên-hoà nhị-niên (85). Được dùng trong 189 năm.

Đặc-điểm cuả Lịch Thái-sơ là:

Theo Sử-kư · Lịch-thư, khởi-thủy cuả Lịch Thái-sơ là sáng ngày mùng một, tháng Một, Đông-chí Kỷ-thiềm, lúc đổi lịch nhằm thất-niên, Thái-sơ nguyên-niên ... Thái-sơ nguyên-niên, ... nhật được Giáp-tư, nửa đêm sóc-đán đông-chí". Định-nghiă được Lịch thái-sơ là các tiếng ghép 'Giáp-tư', 'sóc-đán', 'đông-chí', đều xẩy ra cùng một ngày vào lúc nửa đêm.

Trong Lịch Thái-sơ, lấy tháng giêng là tháng đầu năm, so với Lịch Chuyên-húc lấy tháng Một làm tháng đầu năm, khoa-học hơn nhiều.

Trước tiên, Lịch Thái-sơ lấy 24 tiết-khí hội-nhập vào lịch-pháp, làm cho lịch-pháp và tiết-khí quan-hệ mật-thiết hơn.

Lịch Thái-sơ lấy hồi-quy-niên là  ngày, tức thị tuế-thực là 365.250162 ngày, và sóc-vọng-nguyệt là  ngày, tức thị sóc-sách là 29.530864 ngày.

Lịch Thái-sơ chia một ngày ra làm 81 phân, cho nên Lịch Thái-sơ cũng gọi là 'bát-thập-nhất phân luật-lịch'.

Lịch Thái-sơ đổi cách trí-nhuận cuả dĩ-văng lúc cuối năm mà không có trung-khí (12 tiết-khí: vũ-thủy, xuân-phân, cốc-vũ, tiểu-măn, hạ-chí, đại-thử, xử-thử, thu-phân, sương-giáng, tiểu-tuyết, đông-chí, đại-hàn, cuả nguyệt-phận để trí-nhuận), theo đó mà làm cho tiết-khí và nguyệt-phận đồng-bộ.

Lịch Thái-sơ suy-toán ra 123 năm có 23 lần giao-thực thời-kỳ.

Lịch Thái-sơ bắt đầu điều-hợp khả-quan giao-hợp giữa nhật, nguyệt, ngũ-tinh. Cho nên  Lịch Thái-sơ khám phá ra sớm nhất chu-kỳ nhật-nguyệt-thực.

Khuyết-điểm cuả Lịch Thái-sơ là:

Năm tháng tích-lũy làm cho lịch-pháp trở nên tụt hậu (lịch-pháp tụt ra đằng sau khí-hậu), nhân v́ sai-lệch giữa tuế-thực và sóc-sách mỗi năm mỗi tăng.

Hậu-Hán-thư · Lịch-hạ có ghi chép về Lịch Thái-sơ như sau:

"Vũ-đế Nguyên-phong không hợp với trời, bèn hội-họp thuật-sĩ, làm Lịch Thái-sơ, nguyên lấy đinh-sửu là thời Vương-Măng. Lưu-Hâm làm lịch Tam-thống truy-nguyên lịch Thái-sơ đời trước, được ngũ-tinh hội tuế canh-tuất làm thượng-nguyên, Lịch Thái-sơ đến triều Chương-đế, Tuyền-phục Sớ-vi mới năng thuật được, khoá-hiệu các lịch, định sóc kê-nguyên, truy-sóc một ngày bèn hợp với trời, lấy làm lịch-nguyên Tứ-phân, cộng thêm 605 nguyên-kỷ ... ".

"Tháng Một giáp-tư, nửa đêm sóc-đán ngày đông-chí, số tháng nhuận tích, từ đó mới lập ra nguyên-chính-sóc, gọi là Hán-lịch".

2. Lịch Tam-thống:

Lịch Tam-thống là do Lưu-Hâm thời mạt Hán làm ra, lấy Lịch Thái-sơ làm nguyên-phôi, mà tu-đính. Sở dĩ gọi là Lịch Tam-thống là v́: chu-kỳ 1539 tuế là một 'thống', ba lần 1539 tuế là 'Tam-thống'.

Lịch Tam-thống lưu-hành từ thời Vương-Măng đến sơ-kỳ Đông-Hán. Thửa điều-hợp giữa tuế-thực và sóc-sách hoàn-toàn tương-đồng với Lịch Thái-sơ.

Lịch-số cuả hai lịch Thái-sơ và Tam-thống đồng dạng. Lấy tháng giêng mạnh-xuân mỗi năm làm tháng đầu năm, đồng dạng với 24 tiết-khí khuyết tương-khẩn-khấu để không có trung-khí trong tháng nhuận.

Đến thời Đông-Hán, lịch-pháp lại bị 'Hậu-Hán Tứ-phân-lịch' thế chỗ.

Hán-thư · Luật-Lịch-chí có ghi về Lịch Tam-thống như sau:

Hồi-quy-niên cuả Lịch Tam-thống: định đông-tây, lập quỹ-nghi, hạ lậu-khắc để t́m khoảng cách cuả 28 tú đến bốn phương, cử chung để định sóc-hối, phân-chí, triền-ly huyền-vọng (Hán-thư · Luật-Lịch-chí Thượng).

Giống Lịch Thái-sơ, hồi-quy-niên, sóc-vọng-nguyệt đều đồng-bộ: như "phục-phúc 'Thái-sơ-lịch' hối, sóc, huyền, vọng, đều tối-mật-thiết, nhật-nguyệt bắt đầu hợp-bích, ngũ-tinh như liên-châu ..." (Hán-thư · Luật-Lịch-chí Thượng).

Duyên-dụng để tiến tới chỗ hợp-lư cuả lịch-pháp: "Nhật, nguyệt, hối, sóc, huyền, vọng, bát-tiết, nhị-thập-tứ khí, quân-bằng, hữu-dụng nơi lịch-dụng-trạng" (Hán-thư · Luật-Lịch-chí Thượng) (Hán-thư · Luật-Lịch-chí Thượng).

  Đề ra Tam-đại là một hệ-thống, trải qua một thống, cần thay đổi triều-đại. Như: "Tam-đại, mỗi đại dựa vào một thống, hiểu rơ tam-thống thường hợp, mà lấy đắp-đổi làm đầu".

Trên thực-tế, Lịch Tam-thống là duyên-dụng cuả Lịch Thái-sơ, không có ǵ là mới mẻ cả.

Lịch Tam-thống sau bị Hậu-Hán Tứ-phân-lịch thế chỗ: lịch-pháp bị bọn Biên-Hân, Lư-Phạn kiềm-chế. Một hồi-quy-niên chỉ bằng 365.25 ngày, sóc-vọng-nguyệt chỉ bằng ngày, nhân mỗi năm dư ¼ ngày (25 khắc), nên mới gọi là Lịch Tứ-phân. Lịch-pháp đó, cứ mỗi 19 năm dương-lịch, lại có 7 tháng nhuận. Được ban-hành năm Nguyên-hoà nhị-niên (85 AD). 

3) Đường-thư  Lịch-chí, tác-giả là Hàn-lâm Học-sĩ đời Tống Âu-Dương-Tu.

Đường-thư · Lịch-chí, chủ-yếu ghi chép Lịch Đại-diễn.

Lịch Đại-diễn: lịch này do thiên-văn-gia kiêm Phật-học-gia Cao-Tăng Nhất-Hạnh (673-727) sáng-chế. Ngài từng sáng-chế ra 'Hoàng-đạo Du-nghi' dùng để quan-sát vị-trí 100 hằng-tinh trên trời. Năm Khai-nguyên thứ 12 (724), ngài phát-khởi quan-sát thiên-văn tại 12 điạ-điểm trên toàn-quốc. Lịch Đại-diễn là tác-phẩm tâm-huyết cuả Ngài. Năm Khai-nguyên thứ 17 (729) lịch được ban-hành và được dùng trong 29 năm.

 Đặc-điểm cuả Lịch Đại-diễn là đề ra 'Định-khí 定氣', kết-hợp chặt-chẽ lịch-pháp với vận-chuyển hằng năm cuả mặt trời. Ta biết rằng chuyển-động cuả mặt trời trên hoàng-đạo có vận-tốc biến-thiên: nhanh nhất vào ngày đông-chi, chậm nhất vào ngày hạ-chí. Về mặt toán-học, tia vectơ cuả mặt trời trên hoàng-đạo quét một diện-tích tỷ-lệ thuận với thời-gian (Định-luật Binet).

Ngoài ra, Lịch Đại-diễn chia thành bẩy thiên bao gồm: b́nh-sóc-vọng và b́nh-khí; 72 hậu; vị-trí mỗi ngày cuả mặt trời, vị-trí mỗi ngày cuả mặt trăng, vị-trí mỗi ngày cuả năm đại-hành-tinh; tinh-tượng mỗi ngày; thời-khắc ngày đêm; nhật-thực và nguyệt-thực.

Đường-thư · Lịch-chí có kư-thuật như sau về Lịch Đại-diễn:

Bắt đầu từ Đại-sư Nhất-hạnh đời Đường, chuyên dùng sách cuả đại-diễn, ắt lich-thuật cũng bắt rễ từ Dịch vậy (Đường-thư, Q.#25, Chí #15, Lịch #1).

"Khai-nguyên Đại-diễn-lịch diễn-kỷ thượng-nguyên nơi gặp tuế khổn-thuần, cách Khai-nguyên năm thứ 12, Giáp-tư tích 96961140 toán ...".

Nguyên-sử · Lịch-chí cũng chép:

"Khoảng Khánh-nguyên đời Tống, cải Thống-thiên-lịch lấy từ Lịch Đại-diễn, tuế sai-suất 82 năm".

4) Tống-thư · Luật-Lịch-chí có chép:

Lch Đại-Minh

大明

Lịch Đại-minh là lịch-pháp ban-hành năm Thiên-giám thứ 9 (510), được dùng trong 80 năm. Lịch đó do thiên-văn-gia Tổ Xung-Chi (429-500) sáng-chế.

        Ưu-điểm cuả Lịch Đại-minh là:

        Đề ra tuế-sai: Tổ Xung-Chi củ-chính sai lầm các lịch-pháp thời trước phạm phải là không chú-trọng đến tuế-sai. Cái gọi là tuế-sai là mỗi năm mặt trời trở lại không đúng ngay điểm đông-chí, sai-lầm  tích-lũy lại tạo ra tuế-sai. Tổ Xung-Chi tính ra là cứ mỗi 45 năm 11 tháng sai 1 độ.

Cải-tiến phép nhuận: cải cựu-lịch cứ mỗi 19 năm có 7 tháng nhuận thành cứ mỗi 391 năm có 144 tháng nhuận, điều đó nâng cao độ chính-xác cuả lịch-pháp.

Chỉ ra giao-nguyệt-điểm: sau khi tính toán kỹ-lưỡng, Tổ Xung-Chi được giao-nguyệt-điểm (thời-khoảng mặt trăng quay lại giao-điểm cuả hoàng-bạch-đạo) 27.21223 ngày gần đúng với trị-số cận đại: 27.21222. Biểu-minh tính khoa-học cuả vấn-đề.

      Tống-thư, Quyển 13, Chí 3, Lịch-hạ chép:

"Đại-minh năm thứ 6, Nam-Từ-châu tùng-sự-sử Tổ Xung-Chi thượng biểu rằng: cổ-lịch sơ-suyễn, không tinh-mật ... Theo chỗ thần thấy, sai-giác giữa nhât-nguyệt là 3 độ, nhi-chí quỹ-cảnh sai 1 ngày, ngũ-tinh chí-phục sai đến 4 tuần, lưu-nghịch tiến-thoái hoặc dời hai sao, phân chí thặng thất ...". Tức thị ghi chép Tổ Xung-Chi đề ra lịch-pháp đuơng thời sai vạy, cần thay bằng Lịch-pháp Đại-minh.

Về phép cải nhuận có chép:

"Đến lúc đó, Xung-Chi lại cải chương-pháp 391 năm có 144 lần nhuận ... Cổ-nhân chế chương lập ra trung-cách, tích 19 năm thường có 7 lần nhuận, điều đó không thể không sửa đổi ...".

'Tống-thư · Luật-Lịch-chí' do Lương · Thẩm-Ước soạn (sai lầm), chủ-yếu ghi chép Lịch , Đại-minh (Xin xem lại Bài Kỳ 10, nhất là đoạn nói về Tổ Xung-Chi này:

[Sau đó ít lâu, khoa-học-gia kiêm toán-gia tài-ba Tổ Xung Chi 祖沖之 (429-500), tự Văn-viễn 文遠 của Nam-Tề (479-502), có chế ra vài khí-cụ thiên-văn, trắc-đạc cẩn-thận, đặt phép tính mới để cải-thiện lịch Nguyên-gia. Ông đă phân-biệt năm vũ-trụ với năm tiết-khí và nhận thấy rằng tuế-sai khoảng 46 năm dời sang phía tây 1 độ xưa (kỳ thực là 70.7 năm dời một độ

một chu-kỳ mới gắn bó sóc-thực với năm tiết-khí tức tuế-chu: 391 năm tiết-khí = 4836 tháng, trong đó 144 tháng nhuận. Sai-số tỷ-đối là 10-6, quá giỏi. Ta thử hỏi là ông lấy hai số 391 và 144 ở đâu ra ? Hiển nhiên ông đă lần lượt chia tử-số và mẫu-số của phân-số mũ cuả 12 vừa kể cho ước-số chung lớn nhất (GCD) của  chúng.

Ta có :  

Hoá ra vậy. Kiểm-chứng:

log (1691772624) = 9.228341993; log (4593632611) = 9.662156258;

log (144) = 2.158362492; log (391) = 2.592176757;

9.228341993 - 9.662156258 = - 0.433814265;

2.158362492 - 2.592176757 = - 0.433814265.  Quá đúng.

Cuối cùng ông tổng-hợp tuế-thực, sóc-thực đă tính và chu-kỳ 391 năm này để tạo ra lịch Đại-minh 大明, năm Đại-minh thứ 7 tức quư-măo (463). Ông dâng lên vua nhưng bị một đại-thần được Hiếu–Vũ-Đế sủng-ái tên là Đới Pháp Hưng 戴法興 ganh ghét nên bảo là họ Tổ tự-thị cải biến cổ-lịch, là một hành-vi "sai kinh trái đạo". Ông đáp: tân-lịch không dựa vào quỷ-thần mà chỉ căn-cứ vào quan-sát cẩn-mật và tính toán tinh-xác, mọi người cần nghe và thấy chứng-minh để hiểu sự thật và dữ-kiện. Để bênh họ Đới vua cho vời một số người biết lịch-pháp lại tranh-luận với họ Tổ nhưng thợ làm sao múa ŕu qua mắt Thầy được. Hiếu-vũ-đế thăng-hà năm giáp-th́n (464). Tổ Xung Chi cũng từ-quan lui về với toán và khoa-học. Họ Đới vẫn tiếp-tục thuyết-phục người kế-vị ông không dùng tân-lịch. Do đó 47 năm sau lịch ấy mới được dùng, đúng mười năm sau khi ông mất.]  

5) Nguyên-sử · Lịch-chí,

Nguyên-sử · Lịch-chí, là do bọn Hàn-lâm Học-sĩ đời Minh Tống-Liêm đời Minh tu-soạn, có ghi chép Lịch Thụ-th́.

Lịch Thụ-th́ 授時:

Lịch này là tác-phẩm cuả hai Thiên-văn-gia Vương-Tuân 王恂1235-1281và Quách Thủ Kính 郭守敬 (1231-1316).

          Ngay khi chưa dứt triều Kim ở Bắc-Hoa, Mông-cổ đă thừa-dụng Lịch Đại-minh cải-tiến của Kim (1215). Năm Canh-th́n (1220), Nguyên Thái-tổ Thành Cát Tư Hăn 成吉思汗 (1160?-1227) tây-chinh, ngày rằm tháng năm có nguyệt-thực không đúng với lịch này, mùng một tháng 2 và tháng 5 năm đó đều thấy trăng mới ở phía tây-nam (thiểu), bèn sai Trung-thư-lịnh Gia Luật Sở Tài 楚材 chỉnh sai. Năm Giáp-ngọ (1234) Nguyên-triều diệt Kim. Rồi đến năm Canh-ngọ Trung-nguyên (1270), Quốc-binh nam-phạt, mà thiên-hạ xem như đă ổn-định, suy thượng-nguyên Canh-ngọ (1210), ngày Nhâm-tuất vừa đúng mùng một tháng Một, Đông-chí giờ chính-tí, Nhật Nguyệt Hợp-Bích, Ngũ-tinh Liên-châu, đồng-hội nơi độ thứ 6 của Tú Hư, ứng với phù-tín của Thái-tổ. Lại thấy Tây-thành và Trung-nguyên điạ-lư khác xa, sáng nghĩ ra cách gia giảm dặm ngàn, nên dù Đông-Tây vạn dặm, cũng không hề để sai-thắc. Bèn đặt tên là "Tây-chinh Canh-ngọ Nguyên Lịch" (Nguyên-sử, Lịch 5-6, tr. 1025-1070), nhưng chưa ban-hành vội. Năm Chí-nguyên thứ tư (1267), Tây-thành Trác Mă Lỗ Đinh 札馬魯丁soạn dâng "Vạn-niên-lịch"lịch này không được hậu-truyền), Nguyên Thế-Tổ Hốt-Tất-Liệt 忽必烈 (1214-1284) mới đem ban-hành. Năm Chí-nguyên thứ 13, đang b́nh Tống, Nguyên Thế-Tổ bèn triệu Tiền-trung-thư Tả-thừa Hứa Hoành 許衡, Thái-tử Tán-thiện Vương-Tuân王恂, tự Kính-phủ 敬甫, Đô-thủy Thiếu-giám Quách Thủ Kính 郭守敬(1231-1316, tự Nhược-tư 若思, cải-trị lịch mới. Bọn họ bàn rằng Kim tuy cải lịch, nhưng tựu chung chỉ dùng lịch Kỷ-nguyên của Tống, sửa đổi qua loa, mà không trắc-đạc trên trời ǵ cả. Bèn cùng bọn Nhật-quan nam, bắc là Trần Đỉnh Thần, Đặng Nguyên Lân, Mao Bằng Dực, Lưu Cự Uyên, Vương Tố, Nhạc Huyễn, Cao Kính tham-khảo lịch các đời trước, lại trắc-hậu Nhật Nguyệt Tinh Thần biến-thiên vận-hành tiêu-tức, tham-biệt dị-đồng, lấy trung-b́nh để làm nền-tảng cho lịch. Năm Kỷ-măo (1279) Nguyên diệt Tống. Đông-chí năm Chí-nguyên thứ 17 (1280), lịch soạn xong, được ban tên là Lịch Thụ-th́ 授時歷 (Nguyên-sử, Q. 54-55, Thụ-th́ Lịch-kinh, Lịch 3-4, tr. 979-1024). Năm sau lịch được ban-hành khắp thiên-hạ. Năm thứ 20 (1283), Hoàng-đế hạ chiếu cho Thái-tử Dụ-đức Lư-Khiêm 李謙 soạn Lịch-nghị (Nguyên-sử, Q. 52-53, Lịch 1-2, tr. 929-978).

          Thời-gian Vương-Tuân nhậm Thái-sử-lệnh, phân-chương thiên-văn quan-trắc và suy-toán, ông có biên-khảo được hơn 40 lịch-thư. Trong lúc biên-chế Lịch Thụ-thời cống-hiến cuả ông cũng ngang hàng với cống-hiến cuả Quách Thủ-Kính. Sau khi ông mất, các sáng-tác cuả ông về Toán-pháp, Lịch-luật được nhóm Quách Thủ-Kính hiệu-san thành 7 quyển 'Suy-bộ' và 2 quyển 'Lập-thành', 3 quyển 'Lịch-nghị Nghĩ-cảo', 2 quyển 'Chuyển-thần Tuyển-trạch', 12 quyển 'Thuợng-Trung-Hạ Chú-thích'. Các trước-tác về Thiên-văn, Lịch-pháp cuả Quách Thủ-Kính gồm có: 'Suy-bộ', 'Lập-thành', 'Lịch-nghị Nghĩ-cảo', 'Nghi-tượng Pháp-thức', 'Thượng-Trung-Hạ Lịch-pháp-thức' và 'Tu-lịch Nguyên-lưu', gồm 14 loại, tổng-cộng 105  quyển.

Ưu-điểm cuả Lịch Thụ-th́ là:

Độ chính-xác rất cao: lấy 365.2425 ngày làm hồi-quy-niên, tức lấy 365 ngày 5 giờ, 49 phút, 12 giây làm một năm. 29.530593 ngày là 1 tháng, so với trị-số hiện-đại 29.530589 chỉ sai 0.000004 ngày, mới thấy rằng độ chính-xác khá cao.

Trước hết, phế bỏ thượng-nguyên tích-niên, mà khởi ngay lịch-nguyên sơ-niên.

Lấy thời khoảng năm làm chiều dài cuả một tiết-khí để thiết-lập tháng nhuận là tháng có trung-khí.

Dùng Lượng-giác Cầu để tính kinh-độ cuả hoàng-đạo và xích-đạo.

Dùng bất-đẳng-thức tam-giác để ước-lượng cách khoảng giữa mặt trời, mặt trăng và năm đại-hành-tinh.

Lịch Thụ-th́ cũng tính ra giao-cuả hoàng-xích-đạo là 230 90’ 30" (độ cổ).

Tóm lại, Lịch Thụ-th́ là một Lịch có độ chính-xác cao, và được lưu-dụng lâu nhất (363 năm).

Về Lịch, Thụ-th́, Nguyên-sử · Lịch-chí có chép:

"Lịch-pháp cổ-kim, hợp nay th́ không năng thông cổ, mật-cổ th́ không năng nghiệm-kim. Bây giờ, Lịch Thụ-th́ khảo-cổ ắt tăng tuế-dư mà giảm tuế-sai, lấy nó mà suy tương-lai ắt tăng tuế-sai mà giảm tuế-dư", đề ra ưu-điểm cuả Lịch Thụ-th́.

Thụ-th́ Lịch-nghị Hạ c̣n chép:

Kể từ khí-sóc đệ-nhất, đến Nguyên năm thứ 18 (Tân-tị) làm một nguyên (Thượng khảo văng cổ, hạ-nghiệm tương-lai, đều củ soát lịch-nguyên, tính chu-tuế tiêu-trưởng các nhất).

Thụ-th́ Lịch-nghị Hạ c̣n chép:

"Lịch-pháp sơ-mật nghiệm tại giao-thực ... hợp sóc khiếm-khuyết ở chỗ khuy-thực, thời-khắc có thể cùng được chăng?"

Cống-Hiến và Ảnh-Hưởng

Thành thử ra các Luật-lịch-chí bảo-lưu được các lịch-pháp đă thất-truyền. Tỷ như, từ 'Hán-thư · Thiên-văn-chí', ta có thể suy ra Lịch Thái-sơ. Do đó, 'Ngũ-sử-thư · Luật-luật-chí' trở thành những tài-liệu nghiên-cứu quư-báu.

 

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 189

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com