www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 23

 

DỊCH BẢN-ĐỒ KHẢO

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 182)   

 

HÀ-ĐỒ

河圖

 

 Đồ trên: năm ngôi lẻ (1, 3, 5, 7, 9, tích 25);
đồ dưới: năm ngôi chẵn (2, 4, 6, 8, 10, tích 30).
 

 

  

 

LẠC-THƯ

洛書

 

          Lạc-thư bất quá chỉ là một ảo-phương (magic square) bậc ba, mà tổng-số ngang, dọc, hoặc theo hai đường cheo chính đều là 15.

 

 

 


Lạc-Thư Thiên-văn tức         Lạc-thư Cổ-điển      Lạc-thư và Hậu-thiên
Hà-lạc cửu cung-đồ                                                        Bát-quái


         Trong Hà-lạc Cửu-cung-đồ, chín chùm sao là: Tứ-phụ, Thiên-kỷ, Hổ-bí, Hà-bắc, Ngũ-đế-toạ, Thất-công, Hoa-cái, Bắc-cực và Thiên-trù.

       Lạc-thư thường được áp-dụng trong Đông-y, Tính-danh-học, bói dịch, Phong-thủy (để đất), Dương-trạch (xem hướng nhà) và nhất là Kỳ-môn Độn-giáp.

  

TIÊN-THIÊN BÁT-QUÁI TỨ-TƯỢNG
LƯỠNG-NGHI ĐỒ

先天八卦四 象兩儀 

 

Nếu ta thế hai chữ âm.dương bằng vạch đứt và vạch liền ta được:

(Kể từ dưới kể lên)

 

DỊCH HỮU THÁI-CỰC, THỊ SINH LƯỠNG-NGHI

LƯỠNG-NGHI SINH TỨ-TƯỢNG TỨ-TƯỢNG SINH BÁT-QUÁI

(THƯỢNG-HỆ XI/11)

 


 TIÊN-THIÊN BÁT-QUÁI
 

Kể từ trên trở xuống:

          Nửa trái là kiền, đoài, chấn; nửa phải là: tốn, khảm, cấn, khôn.

Hệ-Hạ II/1 nói: "Cổ giả Bào-Hi thị vương thiên-hạ dă, ngưỡng tắc quan tượng ư thiên, phủ tắc quan pháp ư điạ, quan điểu thú chi văn dữ điạ chi nghi. Cận thủ chư thân, viễn thủ chư vật, ư thị thủy tác bát-quái dĩ thông thần-minh chi đức, dĩ loại vạn-vật chi t́nh. = Ngày xưa, họ Bào-Hy (Phục-Hy) cai-trị thiên-hạ, ngửng lên ắt xem tượng trời, cúi xuống ắt nh́n phép đất; xem văn vẻ cuả chim muông cùng sự thích-nghi cuả đất. Gần th́ lấy nơi thân ḿnh, xa th́ lấy nơi vật. Rồi mới làm ra tám quẻ để thông suốt cái đức cuả thần minh, để phân-tích t́nh cuả muôn loài".  

TIÊN-THIÊN LỤC-THẬP-TỨ QUÁI

 

Bên ngoài là Viên-đồ.

Mé tả là dương, đi theo chiều lượng-giác, gồm 32 quẻ: Kiền, Quyết, Đại-hữu, Đại-tráng, Tiểu-súc, Nhu, Đại-súc, Thái, Lư, Đoài, Khuê, Quy-muội, Trung-phu, Tiết, Tổn, Lâm, Đồng-nhân, Cách, Ly, Phong, Gia-nhân, Kư-tế, Bí, Minh-di, Vô-vơng, Tùy, Phệ-hạp, Chấn, Ích, Truân, Di và Phục.

Mé hữu là âm, đi theo chiều kim đồng-hồ, cũng gồm 32 quẻ: Cấu, Đại-quá, Đỉnh, Hằng, Tốn, Tỉnh, Cổ, Thăng, Tụng, Khổn, Vị-tế, Giải, Hoán, Khảm, Mông, Sư, Độn, Hàm, Lữ, Tiểu-quá, Tiệm, Kiển, Cấn, Khiêm, Bĩ, Tụy, Tấn, Dự, Quan, Tỷ, Bác và Khôn. 

Bên trong là Phương-đồ, gồm 8 hàng, từ trên xuống dưới, mỗi hàng 8 quẻ từ trái qua phải là:

Hàng I: Khôn, Bác, Tỷ, Quan, Dự, Tấn, Tụy, Bĩ;

Hàng II: Khiêm, Cấn, Kiển, Tiệm, Tiểu-quá, Lữ, Hàm, Độn;

Hàng III: Sư, Mông, Khảm, Hoán, Giải, Vị-tế, Khốn, Tụng;

Hàng IV: Thăng, Cổ, Tỉnh, Tốn, Hằng, Đỉnh, Đại-quá, Cấu;

Hàng V: Phục, Di, Truân, Ích, Chấn, Phệ-hạp, Tùy, Vô-vơng;

Hàng VI: Minh-di, Bí, Kư-tế, Gia-nhân, Phong, Ly, Cách, Đồng-nhân;

Hàng VII: Lâm, Tổn, Tiết, Trung-phu, Quy-muội, Khuê, Đoài, Lư;

Hàng VIII: Thái, Đại-súc, Nhu, Tiểu-súc, Đại-tráng, Đại-hữu, Quyết, Kiền.

Các quẻ mầu đỏ nằm trên trêmn đường chéo chính,

 

 

Lục-thập-tứ Quái Phương-vị Đồ


Các quẻ mầu đỏ là tám chính-quái: Kiền, Đoài, Ly, Chấn, Tốn Khảm, Cấn, Khôn. Trong Phương-đồ chúng nằm trên đường chéo chính. C̣n trên Viên-đồ chúng lại nằm cách nhau chín quẻ.

Chú-Thích: Xin ôn lại bài Kỳ 140: Đạo-giáo Dịch.

 

 

HẬU-THIÊN BÁT-QUÁI

 

Cũng gọi là Văn-vương Bát-quái. Kể từ vị-trí tây-bắc kể đi, theo chiều kim đồng-hồ là: kiền (kim), khảm (thủy), cấn (thổ), chấn (mộc), tốn (mộc), ly (hoả), khôn (thổ), đoài (kim). 

Thiệu-tử nói: "Ngôi quẻ nơi đây do Văn-Vương định ra, đó là cái học Hậu-thiên vậy". (此卦位乃文王所定。所謂後天之學也。Thử quái vị năi Văn-vương sở-định. Sở vị hậu-thiên chi học dă.) 

Bát-quái này bắt nguồn từ Chương V, Thuyết-quái-truyện, chuyên nói về muôn vật theo chân Đấng Chủ-tể mà ra vào. Tiết I nói: "Đấng Chủ-tể ra ở Chấn (đông), thanh-khiết, chỉnh-tề ở Tốn (đông-nam), thấy nhau ở Ly (nam), làm việc ở Khôn (tây-nam), vui nói ở Đoài (tây), đánh nhau ở Kiền (tây-bắc), khó nhọc ở Khảm (bắc), xong việc rồi nói ở Cấn (đông-bắc)" (帝出乎震,齊乎巽,相見乎離,致役乎坤,說言乎兌,戰乎乾,勞乎坎,成言乎艮。Đế xuất hồ chấn, tề hồ tốn, tương-kiến hồ ly, trí-dịch hồ khôn, duyệt ngôn hồ đoài, chiến hồ kiền, lao hồ khảm, thành ngôn hồ cấn.) 

Chương V Tiết II chỉ là tán rộng Tiết I mà thôi:
Vạn-vật xuất hồ chấn, chấn đông-phương dă; tề hồ tốn, tốn đông-nam dă, tề dă giả ngôn vạn-vật chi khiết tề dă; ly dă giả minh dă, vạn-vật giai tương kiến, nam phương chi quái dă; Thánh-nhân nam diện nhi thịnh thiên-hạ, hướng minh nhi trị, Cái thủ chư thử dă, khôn dă giả điạ dă,vạn vật giai trí-dưỡng yên, cố viết trí-dịch hồ khôn; đoài chính thu dă, vạn vật chi sơ duyệt dă, cố viết duyệt ngôn hồ đoài, chiến hồ kiền, kiền tây bắc chi quái dă, ngôn âm dương tương bạc dă, khảm giả thủy dă, chính bắc phương chi quái dă, lao quái dă, vạn vật chi sở quy dă, cố viết lao hồ khảm, cấn đông bắc chi quái dă, vạn vật chi sở thành chung nhi sở thành thủy dă, cố viết thành ngôn hồ cấn.
萬物出乎震,震東方也;齊乎巽,巽東南也,齊也者言萬物之潔齊也;離也者明也,萬物皆相見南方之卦也;聖人南面而廳天下明而治,蓋取諸此也,坤也者地也,萬物皆致養焉,故曰致役乎坤;兌正秋也,萬物之所說也,故曰說言乎兌,戰乎乾,乾西北之卦也,言陰陽相也,坎者水也,正北方之卦也,勞卦也,萬物之所歸也,故曰勞乎坎,艮東北之卦也,萬物之所成終而所成始也,故曰成乎艮。Muôn vật ra ở phương Chấn, Chấn là phương đông. Sạch sẽ chỉnh-tề ở Tốn, Tốn là đông nam, tề là nói muôn vật chỉnh tề, sạch sẽ. Ly là sáng, muôn vật đều sáng mắt mà thấy nhau; thánh-nhân xoay mặt về phiá nam mà nghe thiên-hạ, hướng về phiá sáng mà trị, tượng lấy ở chỗ đó vậy. Khôn là đất, muôn vật đều được nuôi nấng, nên mới bảo: làm việc ở Khôn. Đoài là chính thu, muôn vật đều vui vẻ, nên bảo rằng: nói năng vui vẻ ở Đoài. Đánh nhau ở Kiền, Kiền là quẻ tây bắc, là bảo âm dương xô xát nhau vậy. Khảm là nước, là quẻ chính bắc, là quẻ khó nhọc, muôn vật đều quy về đó, nên mới nói khó nhọc ở Khảm. Cấn là quẻ đông bắc, là nơi muôn vật làm nên cuối và làm nên đầu, nên nói rằng làm nên nơi phương Cấn. 

  

NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT

 南無阿彌陀佛

南無阿彌陀佛

 

Phật Quang Phổ Chiếu Thập Phương Pháp-Giới 

Trong h́nh, bên trái là bốn chữ 'Phật-quang phổ-chiếu', c̣n bên phải là bốn chữ 'thập-phương pháp-giới'. 

Thế-nhân thường niệm Nam-mô A-di-đà Phật nhưng không biết chú-ngữ này nghiă là ǵ. Nam-mô có nghiă là quy-mệnh, cung-kính đính lễ, giáo-mệnh quy-y, tín-thụ, tiêu-trừ nghi-tâm, tin-tưởng vào cứu-độ cuả A-di-đà Phật. A-di-đà Phật là tôn-hiệu cuả tôn-sư cuả thế-giới tây-phuơng cực-lạc.

Vô-lượng thọ-kinh chỉ lược-thuyết, muốn nghiên-cứu kỹ cần đọc Đại-phương Quảng-Phật Hoa-nghiêm-kinh 大方廣佛華嚴謹經 (048 , tr. 11-24).

Cổ đại-đức có nói: niệm kinh không bằng niệm chú, niệm chú không bằng niệm Phật.

 

 

 

 

理性釋疑

LƯ-TÍNH THÍCH-NGHI

理性適宜

 

          Hoặc hỏi: kim-đan, long-hổ, duyên-cống (Pb-Hg), đỉnh-lư, thuyết ly tính, khảm mệnh, cả hai đều phải hay đều trái? Tôi nói: phép ấy là bàng-môn ngoại-đạo. Ắt có chỗ phải. Nhưng nếu đối-chứng với tam-giáo thánh-nhân, ắt có chỗ trái.

Tại sao vậy? Đạo cuả Khổng-tử lấy thiên-mệnh làm tính. Lấy suất-tính làm

đạo. Mệnh-khảo lấy phú-tí mà nói. Tính là lấy bẩm-thụ mà nói. Phú-tí là lư. Bẩm-thụ cũng là lư. Lư tính bản-nhiên, tức chân cuả vô-cực, tinh cuả nhị-ngũ, diệu-hợp mà ngưng. Lư ấy bèn là cực trí cuả tam-giáo. Nên Nho nói: tính tức lư vậy. Kinh Kim-cương nói: "Lư bèn là cực trí cuả tam-giáo. Nên Nho nói: "Tính tức lư vậy". Kinh Kim-cương nói: "Nhất hợp lư-tướng". Tâm-ấn-kinh nói: "Tam-phẩm nhất lư". Trung-Dung nói: "Suất-tính gọi là đạo". Dịch nói: "Thành tính tồn tồn, đạo-nghiă chi môn = Cái tính đă thành rồi, cứ c̣n măi măi, đó là cửa ngơ cuả đạo-nghiă" (Thượng-Hệ VII/2). Mạnh-tử nói: "Tận thửa tâm, biết thửa tính; biết thửa tính ắt là biết trời vậy". Lại nói: "Tồn thửa tâm, dưỡng thửa tính, sở dĩ phụng-sự trời vậy". Thanh-tịnh-kinh nói: "Chân thường ứng vật, chân thường được tính". Kinh Kim-cương nói: "Tính phúc-đức". Lục-tổ nói: "Kiến tính thành Phật". Cho nên Khổng-tử lấy suất tính mà thành thánh. Thích-ca lấy kiến-tính mà thành Phật. Lăo-quân lấy đắc-tính mà thành Đạo. Các điều minh-tâm kiến-tính, tồn-tâm dưỡng-tính, tu-tâm luyện tính ấy, quy nhất, thủ nhất, nhất-quán. Lăo-tử tuy nói tính-mệnh, lấy chân âm trong ly gọi là tính, lấy chân-dương trong khảm gọi là mệnh vậy. Như chân cuả Thanh-tịnh-kinh thường đắc-tính. Đạo-đức-kinh nói: "Quy căn phục mệnh. Đặc-tính là tận-nhân vậy. Phục-mệnh là tận thiên". Mà Khổng-tử cũng nói: "Cùng lư tận-tính dĩ chí ư mệnh = Xét cùng lư bàn hết tính mà đạt đến mệnh" (Thuyết-quái-truyện I).   

          Tâm-pháp cuả tam-giáo, từ đời Tần-Hán trở về sau, đều thất chân, học-giả mỗi mỗi bầy tỏ rơ-ràng ức-kiến cuả ḿnh. Ấy là cái ta gọi là: chú kinh kinh mất, giảng Phật mạ-lỵ Phật, là lẽ sở dĩ nhiên cuả tiểu-ngôn phá-đạo. Thuyết kim-đan, bắt đầu từ Ngụy Bá-dương triều Đông-Hán, chú-thích Tham-đồng-khế, nơi nhật-nguyệt doanh-khuy, một khí thăng-giáng. Dịch-tượng, dịch-số tuy rất tường-tận, nhưng mà đạt nơi giao-dịch, biến-dịch mà không đạt nơi bất-dịch, là do-lai cuả kỳ-đồ bách-xuất.

          Đời nay, có người lấy vận-động tri-giác làm tính, lấy tứ-đại giả hợp làm mệnh. Đó là thuyết tối-hạ vậy. Có người lại lấy chân-âm chính giữa ly làm tính, chân-dương chính giữa khảm làm mệnh, chính giữa ly bèn là khí cuả hạ-chí vậy, chính giữa khảm bèn là khí cuả đông-chí vậy. Lấy hai khí âm-dương làm tính-mệnh, bèn là tính khí-chất, mệnh khí-số vậy. Thuyết ấy so với Cáo-tử thấp hơn một bậc. Tại sao? Cáo-tử tuy nói tính, chưa từng dạy cho người khác tạo-tác uốn nắn. Liên-kết quy-sà, vận-ban long-hổ vậy. Khí nhân-thân, hô-hấp thăng-giáng, gốc ở tự-nhiên. Như quả tất phải thăng mà lại giáng, phải giáng mà lại thăng, vơng động khí-huyết, sai vậy thiên-thường, không những không năng thành đạo mà lại c̣n vơng-động khí-huyết mà sinh bệnh. Theo đó sinh-giao, có người lấy thần làm tính, khí làm mệnh. Thuyết này so với hai thuyết trên, rất có chân-đắc. Thần-khí hợp-nhất, vô-tư vô lự, gọi là tâm đức tương-ỷ vậy. Phép ấy nhập vào chân-tông.

          Nhưng mà nơi mệnh-mạch cuả tam-thánh, dường như có chỗ chưa đạt. Chê rằng: thần-khí tiên-thiên, hậu-thiên hỗn-tạp, thuyết ấy tuyệt lự vơng tư, thi-hành lâu, không hoăn-đăi, có thể trường-sinh mà không thể tạo vực cuả thánh-nhân. Tại sao? Biết nhỏ mà không biết lớn, biết người mà không biết trời, biến-h́nh không bỏ, dường như có thể-tướng vậy. Há chẳng biết lớn lao cuả trời đất có thể hủy-hoại, huống hồ thân huyết-nhục ấy khiến cho thủ-định thần-khí. Ngồi năm trăm năm như giữ thây quỷ vậy. Làm sao mà không thể huỷ-hoại được? Thánh-vực là thuần nơi lư mà không tạp nơi khí vậy. Nên Nho nói: "Cùng thần tri-hoá"; Đạo nói: "Cốc thần bất-tử"; Phật nói: "Chính-pháp phục-tàng, niết-bàn diệu-tâm". Lời tuy khác nhau, mà lư ắt chỉ là một mà thôi!

          Hoặc lại hỏi rằng: "Trước-tác mà Tiên-sinh truyền cho mạt-hậu, trừu-tâm phi-tướng, thần hợp thái-cực, rất phù-hợp với minh-tâm kiến-tính, nhưng mà không theo mệnh công hạ-thủ, không rơi vào hư-không sao?". Tôi nói: Tiên-sinh không phải là môn-đồ cuả thánh-nhân, làm sao mà đạt chân-không được? Chấp tướng quá độ. Há chẳng nghe Trung-Dung nói: thanh-sắc đă hoá dân mạt vậy. Đức nhẹ như lông, lông c̣n có luân, trên đội trời, rất vô-thanh, vô-xú. Thanh-xú đă vô-h́nh, bởi chưng lông là tượng vậy. Thanh-xú là khí vậy. Ly tượng, ly khí, chẳng phải lư th́ là ǵ? Kinh Kim-cương nói: " Nếu lấy sắc mà ngó ta, là người hành tà-đạo, không năng thấy được Như-Lai, nom mà không thấy, nghe mà không nghe được, nên năng thể vật mà không sót". Thanh-tịnh-kinh nói: "Đại-đạo vô-h́nh, sinh-dục trời đất, tam-giáo thánh-nhân đều lấy ngó mà không thấy, nghe mà không nghe được, bao la trời đất, người dưỡng-dục quần-sinh là đạo mà tiên-sinh độc lấy làm kẻ lạc không, là đan-kinh dụ-ngôn để mê-hoặc. Các đan-kinh đều lấy hoà-hợp tứ-tướng, tom góp ngũ-hành, kết thánh-thai, phóng dương-thần, kiên thủ v́ kim-đan, nơi đó có hoả giáng thủy thăng, kim-mộc giao-tính, trừu-hối điền duyên, chủng chủng tạo-tác, khổ tử vô thành, thương-thủ chung thân chẳng ngộ, lấy ngoa truyền ngoa, tự ngộ, giác-ngộ người khác, đáng buồn! đáng thương!".  Ta nay phá mê-đoàn, nghi vơng ấy, miễn trí di-ngộ thế-nhân, thất lạc quần-tính. Kim là ǵ? Kiền là kim. Trời là ǵ? Kiền là trời.

Vạn-vật thống-thể nhất thiên, vật vật mỗi mỗi có đủ một trời. Thiên-lư, thiên-khí tại trời là mệnh, tại người là tính. Tính khí-thiên, rút cục cùng tận. Lư khí-thiên vạn kiếp thường tồn. Khí là quỷ-thai, lư là thánh-thai vậy. Kẻ tu chân trước biết tứ-đại là giả, hồn phách là giả. Từ vô-thủy đến giờ, không tăng, không giảm. Duy chỉ có tính thiên lư-thiên ấy mà thôi. Gọi là kết thai. Ngộ đến thần-thông quảng-đại, tính hợp vô-cực, gọi là thoát thai. Nếu bỏ nguyên-thần lư-tính, mà biết cầu thánh-thai, là phao-chiếu thặng châu, mà cầu mắt cá vậy. Kỳ-lân t́m lân, nhận giặc làm con, nong mạ cho chóng lớn, vô-ích mà có hại.

          Ta lấy thường-t́nh dương tĩnh. Phi lễ chớ ḍm, nghe, nói mạnh. Vô nhân, ta, chúng sinh, tướng người thọ. Là trúc cơ luyện kỷ. Lấy đốn-ngộ bản-lai, kiền-nguyên diện-mục. Lư-tính nguyên-thần. Là đắc dược kết thai. Lấy đói ăn, khát uống. Hạ cát, đông cừu kết thai. Quư tiện có thứ bậc. Già trẻ có trên dưới. Túng-dung trung-đạo, là mộc-dục ôn-dưỡng. Chu thiên hoả-hầu. Lấy số tận lư thuần. Tính hợp vô-cực. Là thoát thai thần-hoá. Lấy tạo-chỉ nông sâu, tri-hành thuần-bác, mà phần hiền-quan, thánh-vực để tiếp-tư đạo-thống, trở đậu miếu-mạo, sư biểu vạn thế.

        Là chứng quả triều nguyên. Từ hội tí khai thiên, vạn-vật từ vô nhập hữu, từ lư nhập khí, từ khí nhập tượng vậy. Hội ngọ truyền-đạo, do tượng ngộ khí, do khí ngộ lư. Tượng ắt huỷ-hoại nhanh, khí ắt huỷ-hoại chậm. Lư ắt chủ khí, chủ tượng, mà vạn kiếp bất hủy vậy. Người người đều trái lư, ắt trời đất cơ-hồ tắt thở. Nguyên, Hội, Vận, Thế ấy thăng-giáng tiêu-tức, lư tự-nhiên vậy.

       Nghiêu, Thuấn, Vơ, Thang, khai sáng tâm-truyền, đó là muà xuân cuả đạo-thống, tam-giáo thánh-nhân kế-văng khai lai, bèn  là muà hạ cuả đạo-thống vậy.

      Sau khi qua khỏi đấy, có thánh-nhân xuất, không phải thu th́ là ǵ? Xuân phát, hạ trưởng, thu thâu đông tàng, mà Nguyên, Hội, Vận, Thế hoàn-thành vậy. Ôi! Đạo là có thịnh có suy, có phân có hợp, suốt từ xưa đến giờ, vô cùng vô tận. Văng lai đắp-đổi, như tuần-hoàn vậy. Đạo tức lư vậy. Lư vốn nhất-trí, có thịnh có suy, mà mặt trời có thịnh có suy. Vận–hội thăng-giáng, khiến ra thế. Vốn không phân-hợp; mà mặt trời có phân, có hợp, chỉnh-tán cuả giáo-hoá khiến ra vậy. Đạo bao trời đất, đạo quán muôn loài, không thời nào là chẳng có, không nơi nào là không như thế. Vô-h́nh vô sắc, mà là gốc cuả h́nh h́nh sắc sắc. Vô thanh vô xú, mà là nguồn cuả thanh thanh xú xú. Bẩm-phú vậy mà có tính-mệnh. Co ruỗi vậy mà phán âm-dương.

      Do đó mà xem, Đạo Dịch không bắt gốc từ vạch tiên-thiên. Tiền-nguyên cuả vạch là chân Dịch. Đạo không khởi từ Truyện cuả Trung-thiên. Bất-truyền há không chỉ Đạo. Nên thuở ban đầu có Dịch. Không thần khó thấy, không truyền hữu đạo, không thánh khó biết, không vẽ để có đạo, khả dĩ thấy dịch, khả dĩ thấy đạo. Ấy là cổ thánh-thần, kế trời lập-cực, thay trời tuyên-hoá, mà truyền cuả đạo-thống tự-lai vậy. Đạo tuy không thời nào là chẳng có, mà trước thời thái-cổ, hồng-hoang khó t́m bằng-cứ. Nên Khổng-tử viết sách, kế-thừa Đường-Ngu, đó là do-lai cuả truyền đạo

trung-thiên. Từ đó trở đi, Nghiêu truyền cho Thuấn, Thuấn lấy cái đó truyền cho Vơ, Vơ lấy cái đó truyền cho cho Thang, Thang lấy cái đó truyền cho Văn, Vũ, Chu-Công.

Thuở đó trời không có hai mặt trời, dân không có hai vua, ấy là thời Tam-đại trở về trước. Đạo tại vua, tướng, giáo-hoá chỉnh-trang. Chỉnh tại không phân.

       Từ Chiêu-mục trở về sau, giáo-hoá từ từ lăng-di. Đợi đến U, Lệ, suy-đồi không cứu-văn nổi, giáo-hoá suy. Lúc đó Khổng-tử nơi hạnh-đàn, Lăo-Đam nơi trụ-hạ, mà Thích-ca dấy lên từ Tây-vực, cái đó gọi là từ Tam-đại trở về sau. Đạo tại sư-nho, giáo-hoá phân, phân ắt tán. Giáo-hoá cuả Khổng-tử: tồn tâm dưỡng-tính, tông chỉ là nhất-quán. Dạy bảo cuả Phật-thị minh-tâm kiến-tính, lấy quy-nhất làm tông-chỉ. Dạy bảo cuả Lăo-thị, tu-tâm luyện-tính, lấy thủ nhất làm tông-chỉ. Tam-giáo thánh-nhân, tuy mỗi người một phương trời, đất phân Hoa-Di, mà thửa giáo không khác, như hợp phù-tiết.

      Tam-giáo tương-đồng, là tâm, là tính, là nhất, là thể cuả đạo vậy. Hoặc giả bất-đồng ít ỏi, ai theo tục nấy, mà chế-nghi. Như Đại-học cuả Nho lấy định-tĩnh nhập-thủ, mà đạo-gia ắt nói thanh-tĩnh. Thử hỏi định-tĩnh với thanh-tĩnh khác nhau chỗ  nào? Trung-Dung lấy không ḍm, không nghe làm đạo-thể, lấy vô-thanh vô-xú làm chí-đạo. Thử hỏi không ḍm, không nghe, với hư-vô tịch-diệt, khác nhau chỗ nào? Hậu-nho động một tí lấy dị-đoan quy lỗi cho Phật-Lăo. Há chẳng biết Khổng-tử Gia-ngữ nói: "Khổng-tử băm bốn tuổi, bảo Nam-cung Kính-Thúc rằng: ta nghe Chu có Lăo-Đam, biết nguồn cuả đạo-đức, hay chỉ-quy cuả lễ-nhạc, ắt là thầy cuả ta vậy. Ta sẽ theo học". Kính-Thúc nói cho Lỗ-Quân, Lỗ-Quân nói cho Mă Bộc-Tùng đến Chu hỏi lễ. Trở về nói với đệ-tử rằng: ta biết con thú, con thú có thể chạy được, ta biết con chim, con chim có thể bay được, ta biết con cá, con cá có thể lội được. Chạy có thể mắc bẫy, bay có thể mắc lưới, bơi có thể vướng lưỡi câu, duy rồng ta biết có thể bay bổng lên trời. Lăo-tử giống như con rồng vậy. Ôi! Khổng-tử lấy Lăo-tử hiểu rơ nguồn cuả đạo-đức hay chỉ-quy cuả lễ-nhạc. Thử hỏi đạo-đức, lễ-nhạc không phải là đại-đoan cuả nho-sư chúng ta sao? Mà Khổng-tử đă tôn làm thầy, mà than bảo là rồng. Đă như thế, mà nay ta bảo là dị-đoan, đó có phải là tâm-điạ cuả Khổng-tử chăng?

Đến như Phật, thời Khổng-tử, Phật-pháp nhập Trung-quốc, đến đời Hán Minh-đế, Kim-nhân nhập mộng, Trung-quốc mới hay là có Phật. Đời Xuân-Thu, Khổng-tử không dự-trù tên dị-đoan ấy, không dự-pḥng Phật-pháp nhập Trung-quốc vậy. Vả lại Khổng-Tùng-tử nói: "Thái-tể Phỉ hỏi Khổng-tử rằng: thiên-hạ ai là thánh-nhân?

Khổng-tử đáp: Tây-phương có thánh tên là Phật. Thửa đất không trị mà cũng không loạn". Gia-ngữ, Khổng-Tùng-tử đều là sách thánh-môn gia-truyền. Vả chăng cách đời thánh không xa, không những không cho Lăo là dị-đoan, cũng chưa từng cho Phật là dị-đoan vậy. Mà Luận-ngữ nói về thuyết dị-đoan, có muốn thêm Phật-Lăo vào có thể được chăng? Vả lại, lời Luận-ngữ vu-vơ, đáng ngờ, Đại-học mà không suy nghĩ, ắt tâm không sở-đắc, rộng lớn mà không năng phản-ước, vừa tệ-hại, vừa vu-vơ. Suy nghĩ mà không học, vừa hại, vừa đáng ngờ. Cũng bất-đồng với cái học cuả thánh-nhân. Bất-đồng ắt là khác, đó là dị-đoan ngoan-không vậy. Thiết tưởng thời Khổng-tử có hai loại dị-đoan ấy. Học-giả hậu-thế chưa xem đại-nguyên cuả tam-thánh, nệ vào thô-tích cuả các nhà, phân-môn biệt-hộ, mâu-thuẫn nhau, tuy nói ai bảo-vệ đạo nấy, há chẳng biết càng biện-luận lẽ phải, càng rối rắm, lẽ phải càng rối rắm càng sai đạo.

Đường đường đại-đạo, tam-giáo hợp triệt chỉnh-tề, nhân tâm-pháp bất truyền, chính-tông thất-thụ, học-giả mỗi người giữ một góc, tự sinh rối rít. Ba ngàn năm nay, bụi cỏ càng râm-rạp, trời làm chăng? Ép người làm chăng? Vô-cực là lư vậy, là thần vậy. Thái-cực là khí vậy, là số vậy. Lư-thần là kinh vậy, khí-số là vỹ vậy. Kinh là thường mà không biến, vỹ ắt biến mà hữu-thường. Thường ắt kông chậm, không nhanh, không đi không tới, không làm mà thành. Biện ắt hữu-danh khả xưng, hữu-tích khả tuần. Qua lại đắp-đổi. Hai điều đó cùng nền vũ-trụ, đồng-quan quán vạn loài, động tại chỗ không nghe, không ḍm. Trời vô-thanh, vô-xú mà có thể nói ra đuợc, gọi tên đuợc, là nhân-bẩm làm ra tính khí-chất. Mệnh khí-số cùng thông thọ-yểu, trí-ngu, hiền-ác, tính-mệnh cuả vạn-hữu bất-tề, cuả không thể nói ra, cuả không thể gọi tên vậy. Nhân-bẩm là tính bản-nhiên, là mệnh trời cho. Nghiêu-Thuấn với người thường giống nhau vậy. Tính bản-nhiên tức tính duy-hoàng giáng-trung, tính nhân-sinh mà tĩnh, tính tính-thiện. Chính là đạo-tâm, tính khí-chất, bèn là tính cây kỷ, cây liễu, tính nước chẩy siết, tính ác khả dĩ làm điều thiện. Đó là ḷng người vậy. Hai điều ấy một hiển một vi, hiển ắt dễ biết, lưu mà là dục, nên nguy chẳng an. Vi ắt khó biết, phản thành lư, nên xa vời diệu vợi khó thấy. Duy cuồng khắc niệm, lư khắc dục vậy. Cuồng có thể thành thánh, duy thánh vơng-niệm, dục thắng lư vậy. Thánh có thể thành cuồng, thánh cuồng phân-biệt, nhân cầm chia lià. Nhân quỷ mộng-giác, khoảnh-khắc cơ-hy, sát-na nhất niệm, lư vi đạo đại, tiểu-nhân quên mất, quân-tử cẩn-thận. Vô-cực mà thái-cực, ấy là thiên-mệnh gọi là tính, tiên-thiên biến ra hậu-thiên, nhập từ trời, tức Hà-đồ thuận-hành tương-sinh, bèn nguyên thửa bắt đầu tự lai vậy. Thái-cực trở về vô-cực, là cùng-lư tận-tính để chí-mệnh, hậu-thiên trở về  tiên-thiên siêu-phàm nhập thánh, tức Lạc-thư nghịch-hành tương-khắc, bèn là do quỷ cuả yếu thửa chung-thần có phân-biệt lư-khí. Lư trong thần không chậm không nhanh, không đi không tới, không làm mà thành, thường mà chẳng biến, diệu-hợp vạn-vật mà thành lời vậy. Không đối-đăi, không phối-ngẫu, là một, là đứng ḿnh ên, thần trong khí lại mà ruỗi, ắt làm thần. Đi qua mà co là quỷ. Thần là thăng, là dương; quỷ là giáng, là âm. Có đối-đăi, có phối-ngẫu, văng-lai tuần-hoàn, phân ra ắt có vạn-thù, họp lại nguyên là một khí. Thần trong lư là nguyên-thần. Thần trong khí là thức-thần; nguyên-thần là tiên-thiên; ǵn giữ ắt có ngày tiến lên cao-minh. Thức-thần là hậu-thiên, thả lỏng ắt có ngày rơi vào nơi ô-uế. Hai điều ấy tạp nơi gang tấc, duy người am-tường biết vậy. Hoặc có người hỏi ta: Ngài ở điạ-vị thuyết lư-khí tính-mệnh, luận vô-cực, thái-cực, vi ắt hiển vậy. Nhưng mà không phải là đạo trị-thế. Ta nói: lời cuả ngươi thành-thực. Nhưng mà đời nay không như đời xưa, bổ-túc thiên lệch, mà cứu-tế vậy. Bởi chưng từ khi Khổng-tử mất đi, vi-ngôn tuyệt-diệt. Xuân-Thu xuống dốc, mà công-lợi dấy lên, cấp-vụ phú-quốc cường dân chụp xuống. Đạo-đức nhân-nghiă là vu-khoát, nên Mạnh-tử kế-nghiệp Khổng-tử, khởi lên cứu vớt. Lấy nhân-nghiă phá công-lợi. Lấy đạo-đức địch phú-cường. Lấy tính thiện cứu-văn nhân-tâm mà khai-giải dị-đoan. Lấy tri-ngôn dưỡng-khí, chứa di-ngôn vào môt tuyến. Đến khi bạo Tần đốt sách, Nho-đạo cơ hồ tuyệt diệt. May mắn được Hán hưng nho-nhă, di-thiên lần lần được phục-hồi. Do đó tâm-pháp hạ xuống thành kinh-học, kinh-học hạ xuống thành sách-luận, sách-luận hạ xuống thành thơ phú. Đến đầu đời Ngũ-quư suy-sụp, một mạch tư-văn càn quét nơi thiên-đạo mới hảo-hoàn. Không ǵ đi mà không trở lại. Viêm-Tống khải-hưng, chân-nho tái-xuất. Cái học tính-lư Đồ-Thư, bắt đầu từ Hoa-sơn, thịnh ở Liêm-Lạc. Giường mối vi-ngôn chỉ thêm hơi thở. Như cái học bán-sơn bát-cổ, lịch-đại tương-nhân, xưa mà Di-Địch. Tích án đầy ḥm, không phải là thời-nghệ. Sách chất đầy nhà, đều là văn-chương. Kinh-sử tuy c̣n, nhưng lấy hư-khí mà đọc. Cái văn-chương nói đến toàn là cương-thường, danh-giáo, mà cương-thường, danh-giáo suy-đồi đến thế. Từ-thao thịnh mà tinh-vi suy. Nhân-sự nhiều mà thiên-sự ít ỏi, sơ-sài. Lâu lâu cũng nói đến vi cuả thân-tâm tính-mệnh, quá bán là v́ công-danh phú-quư, đến như thực-tế cuả thân-tâm tính-mệnh, không những không năng chân-hành, mà cũng bất năng chân-tri. Nhân bất năng chân-tri, tức người có chí thi-hành cũng không biết nhập-thủ từ đâu? Suy-di vọng-dương mà trở lại. Điều đó ta đă lóc tận gốc, đào tận rễ, độc tiêu chân-thực, đă giữ tại nhất tuyến cô-lậu. Tệ cuả mạt-lưu ta đă biết. Nhưng mà ta chưa ưng ư, như quả muốn cầu đạt-dụng, ắt có Kinh cuả Khổng-Mạnh. Hai đầu mối hợp-nhất, may mắn được trung-dung. Ta lại khổ v́ tha lỗi. Tâm là chuá-tể cuả vạn-hoá vậy. Nho nói: tồn-tâm. Đạo nói: tu tâm. Phật nói: minh-tâm. Nếu không dời ḷng mà là đạo, để tâm phân-biệt nhân-tâm với đạo-tâm, tức có phân-biệt duy-nguy với duy-vi. Hậu-thế không được chân-truyền, chỉ biết từ trong bụng, không biết tại nơi nào. Đa chấp tâm cuả tạng-phủ khí-chất để làm tâm. Ấy là lấy thủ-tâm mà chấp-tượng, hư-tâm mà trước không, chế tâm ắt lư-dục giao-tŕ, không phân thánh-phàm. Lư-khí chằng biện, không lấy làm kỳ-quái thửa lao-tâm mà vô-thành vậy. Tâm ấy Nghiêu truyền cho Thuấn, Thuấn truyền cho Vơ, Vơ lấy đó mà truyền cho Thang, Thang lấy đó mà truyền cho Văn, Vũ, Chu-Công, Chu-Công lấy đó mà truyền cho Khổng-tử, Khổng-tử truyền cho Tăng-tử, Tăng-tử truyền cho Tử-tư, Tử-tư truyền cho Mạnh-tử. Từ Mạnh-tử trở đi, tâm-pháp thất-truyền, trải qua Tần, Hán, Tấn, Tùy, Đường, hiếm có người tạo-vực. Đợi đến Viêm-Tống thụ-mệnh, ngũ-tinh tụ khuê, văn-vận thiên khai, Hy-di xuất-hiện, Liêm-Lạc nối gót, quyết có Quy-sơn. Sau Quy-sơn, tiếp đến Dự-chương, cho đến Diên-b́nh, đạo truyền Chu-tử, mà tâm-pháp nhất mạch, tiếp theo có Nga-hồ, Lộc-đỗng, Chu-học, Lục-học, phân ra đức tính, vấn học, mà cái học cách vật lại chia ra sự vật, vật dục. Tôn đức tính là lấy cách cuả cản-cách, lấy vật làm vật dục. Thửa ư như vầy: nhân-sinh mà tĩnh là tính trời cho. Cảm nơi vật mà động, là dục-tính vậy. Nên Mạnh-tử nói: "Dưỡng tâm không gỉ tốt bằng quả-dục, quả vật-dục là sự việc Trọng-Cung vấn nhân. Cách sự vật là sự việc Nhan-Uyên vấn nhân. Cách tức khắc, cách ấy là cách thửa phi cách cuả Kinh Thư". Mạnh-tử bảo duy chỉ đại-nhân mới cách được phi-cách cuả quân-tâm. Vật tức ta. Cách vật tức khắc-kỷ vậy. Một là khắc kỷ phục lễ, thiên-hạ quy nhân. Kiến-hiệu nhanh. Nhanh như thế, tại sao vậy? Bởi chưng tính thiên-mệnh, cảm nơi vật mà động, người người cố-hữu, đặc-biệt câu nệ nơi khí-bẩm, tệ nơi vật-dục, phần nhiều có mà không biết là có. Thánh thánh truyền-tâm, tức truyền thửa tâm cố-hữu, thửa tâm cố-hữu, tức tính bản-nhiên, tính bản-nhiên tức cái trời muốn ta làm, Tồn tâm dưỡng tính sở dĩ phụng-sự trời. Trời là tính thống-thể cuả mọi người. Tính là mọi người đều có đầy đủ trời. Nên Mạnh-tử nói: "Tận thửa tâm là biết thửa tâm, biết thửa tâm là biết trời. Tồn tâm dưỡng-tính sở dĩ phụng-sự trời". Thiên nhân vốn tự nhất-quán. Trời thống bốn muà, tâm thống tứ-đoan [tức ḷng trắc-ẩn, đức nhân, ḷng tu-ố, đức nghiă (Mạnh-tử, CôngTôn Sửu Thượng)]. Cái mà trời đầy đủ, con người cũng đầy đủ. Chỉ e một nỗi c̣n người không năng tận-tính. Đạo tận-tính, do trí-tri nhập thủ, công cuả trí-tri, do cách vật nhập thủ, cách sự vật là cái học cuả 'lưu sóc nguyên'. Cách vật-dục là cái học do gốc đến ngọn. Nếu cách sự vật mà không biết chân tâm-tính ắt rơi vào chấp-tượng. Cách vật-dục mà không biết mà không biết chân tâm-tính ắt nhập vào ngoan-không. Nhưng mà cũng khó biết lúc nào biết. Nếu cho tâm cuả tạng-phủ là tâm, ắt huyết-nhục một đoàn, điều ấy là tâm đàn-bà con nít cũng biết, mà không phải là tâm thánh thánh tương-truyền vậy. Tâm ấy tùy sức sống mà có, tùy sự chết mà không. Sinh-khí không lại, tức thành hôi thối bẩn thiủ, mà không phải là nhân sống mà có, nhân chết mà không. Là tâm cuả hư-linh bất-muội vậy. Nếu lấy tri-giác vận-động làm tâm, tâm ấy là tâm nguy-ngập bất-an, mà không phải là tâm vi-diệu khó thấy, không phải là tâm cuả thiên-lư. Tâm nguy-ngập bất-an là tâm thiên-khí. Tâm huyết-nhục một đoàn, là tâm vật-tượng. Trước thái-cực khí đầy đủ nơi lư. Sau thái-cực lư ngụ nơi khí. Khí là sung cuả tượng. Lư-khí không có vật tượng bất-hiển. Là lư, là khí, là tượng. Ấy là bất-dịch, biến-dịch, giao-dịch. Là chỗ tam-dịch tự lai. Là chỗ người ngu, người hiền, thánh-nhân phân-kỳ vậy. Người ngu chấp tượng, người hiền thông-khí, thánh-nhân minh lư. Người học dịch đều nói tiên-thiên, hậu-thiên, mà không nói đến lư-thiên. Tiên-thiên là ǵ? Là sinh thiên. Hậu-thiên là ǵ? Là thiên sinh. Thiên sinh là lư, là chí-tĩnh bất-động-thiên vậy. Thiên-sinh là tượng. Kinh-tinh vỹ-tinh-thiên vậy. Một khí lưu-hành, mặc-vận bốn muà. Là tông-động-thiên vậy. Đạo-tâm là lư. Thượng ứng chí-tĩnh bất-động-thiên. Cái đó sinh thiên, sinh điạ. Là trời thường mà không biến vậy. Cái đó do thánh-vực tạo ra. Nho nói là Đại-thành-thánh. Thích nói là Đại-giác Kim-tiên, Đạo nói là Đại-la Kim-tiên. Tam-giáo quy-nhất. Quy nơi lư vậy. Nên Nho nói là cùng lư tận tính, Đạo nói là tam-phẩm nhất lư, Phật nói là: nhất hợp lư tướng. Lời tuy bất-đồng, mà lư chỉ là một vậy. Nhân-tâm là khí. Trên ứng tông-động-thiên. Cái đó biến mà là trời hữu thường. Người tạo ra cái ấy gọi là hiền-quan. Ngũ-quan bách-hài, là tâm cuả hữu-tượng có thể thấy được. Trên ứng kinh-tinh vỹ-tinh-thiên. Niềm vui cuả thánh-nhân phục ḷng người vậy. Nếu lấy huyết-tâm làm tâm, ắt t́nh phóng-túng trục-vật, bách-ưu cảm đấy, sinh-tử giới-hạn đấy, không ǵ là không khổ, c̣n vui nỗi ǵ? Ngày nay nhà Nho phần đông nói tâm ở chỗ thiện, tức thiện Đạo-tâm. Tâm tại chỗ ác, tức là nhân-tâm. Nếu luận như thế, ắt Tử-sản nước Trịnh, Án-Anh nước Tề đă sớm chửi Nhiễm-Lộ mà tiến lên vậy. Mà thánh-miếu hinh-hương chưa từng sánh kịp. Lượng xét người hữu-đạo, thửa đạo là ǵ? Bởi chưng kẻ ác hành-sự nơi ác, mà mang họa. Ác có tận mà hoạ cũng có tận. Kẻ thiện hành-sự nơi thiện mà được phúc. Thiện có tận, mà phúc cũng có tận. Thiện-ác hoạ-phúc tuy có bất-đồng, như nếu không được truyền tâm-pháp, ắt không năng minh-thiện phục sơ. Cùng lư tận-tính, chí mệnh hợp thiên ắt là một. Đường đường tá bá, thanh danh hiển-hách, không được liệt thánh hiền ban, mà khu khu hàn-sĩ, phục xứ bồng-mao, phận được hưởng báo cuả thớt đậu. Là v́ hữu đạo. Thửa đạo hẳn có thực-tại, lại không được truyền, kư-tụng từ chương, phảng-phất nghi-tự, cùng là bàng-môn dị-đoan có thể suy-trắc. Như lấy kư-tụng làm đạo, ắt lục-kinh luôn luôn c̣n, tam-truyện vẫn c̣n. Ngoài Khổng-Mạnh, Nhan-Tăng ra, sao hiếm người thánh-thiện vậy. Sở dĩ tâm-pháp không dễ biết, dễ nói. Linh-dài thần-minh, sở-tại cuả đạo-tâm, khắc kỷ phục-lễ, tồn đạo tâm đi, là nhân-tâm. Mừng giận, vui, buồn lúc chưa phát, chỗ Khổng-Nhan vui lại thấy tâm cuả thiên-điạ chăng? Học-giả khi ở cảnh-giới ấy, chính là cái Nhan-tử gọi là 'huy chi thể (làm tứ chi bị thương)', truất thông-minh, ly h́nh khử trí, giống như đại-thông-thời vậy. Cũng là cái mà Khổng-tử gọi là 'cùng thần tri hoá' (cùng thần biết hoá) [Hạ-Hệ V/4]. Chí mệnh hợp thiên-thời vậy. Lư ai ai cũng đầy đủ, trở về lư vạn-vật thống-thể. Vô-tại, vô-bất-tại, mà tâm cuả thần-thánh hợp thiên. Cũng vô-tại, vô-bất-tại vậy. Nên năng vô-tư vô-vi, tịch-nhiên bất-động, cảm mà tùy thông lẽ cuả thiên-hạ. Sơ-tâm ấy lấy giáng-trung mà nói, gọi là mệnh; lấy bẩm-thụ mà nói gọi là tính. Tâm sở dĩ ghi nhớ gọi là ư. Tâm cố ư đến gọi là chí. Mệnh vậy, tâm vậy, tính vậy, t́nh vậy. Hợp lại mà nói, là một lư. Lư ấy để phục-dục vạn-vật mà nói gọi là trời. Để chủ-tể vạn-vật mà nói, gọi là đế. Để vạn-vật thủy-chung cộng-do mà nói, gọi là đạo. Để vô-thanh vô-xú, ḍm mà không thấy, nghe mà không nghe được, thể-vật không sót, lưỡng tại bất-trắc, chí-ẩn chí phí, chí-vi chí-hiển, vô-sinh vạn-hữu, hư-hàm chí-thực, vô-chung vô-thủy, vô-tại mà vô sở bất-tại, vô-vật bất-lư, các đắc kỳ lư, chí chân chí vơng, tịch nhiên bất-động, cảm nhi toại thông, không đi mà tới, không chậm không nhanh, không làm mà thành mà nói, gọi là chí-lư, chí-thần, chí-thành, chí-thiện. Nên trời có thiên-lư, đất có điạ-lư, người có tính-lư, vật có vật-lư, sự có sự-lư. Đắc lư ắt trị, thất lư ắt loạn. Biết sức-văn cuả lễ, có thể chế lễ. Biết thanh-trọc cuả khí, có thể tác nhạc. Do đó dạy dân là gọi là chính. Cấm dân vi-phạm gọi là h́nh. Thầy để dạy đó. Thưởng để phụ đó. Phạt để giúp đỡ. Có thủy, có chung. Gốc ngọn không rối. Trước sau có thứ-tự, mà thánh hiền năng sự xong xuôi. Hiểu điều đó, ắt tam-giáo một lư, vạn-quốc một lư. Một lư là tông-tổ cuả chúng ta. Hai khí là cha mẹ cuả chúng ta. Vạn-tượng đều là tông-tổ, con cháu cuả chúng ta. Cha mẹ yêu thương con cái, chúng ta cùng loài. Sinh thành cùng loài có trước sau, mà lễ giữa thân-tộc sinh ra. Kiến-thức có minh-muội mà lễ giữa tôn-hiền sinh ra. Hiếu-nghiă có dầy mỏng, sự công có lớn nhỏ, mà thân cuả ngũ-phục, tước cuả ngũ-đẳng, do đó mà định vậy. Kim-thạch ty-trúc, có thể thấy tượng được vậy. Trong đục cao thấp, có thể nghe được cao thấp mà biết là khí vậy. Có tượng ấy tức có khí ấy, có khí ấy ắt có âm ấy. Chủ đấy là khí vậy. Tượng gốc ở bát-quái, khí gốc ở Lạc-thư, lư gốc ở Hà-đồ. Khai vật trước thiên-hạ, thành vật sau thiên-hạ. Ấy là lư-do Kinh Dịch là tổ cuả chư kinh, là nguồn cuả vạn-pháp vậy. Hiểu rơ điều ấy, ắt Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ, có thể theo dơi mà biện, quân-thần, dân, sự, vụ có thể lư-luận được. Hoà nhạc có thể điều-hợp được bát-phong, có thể bổ-túc tạo-hoá, có thể di-dưỡng tính-t́nh, có thể hoà với thần-nhân, có thể biết được trị-loạn. Sự việc liên-quan đến nhạc lớn vậy thay! Nhưng mà thất-truyền rồi. Nếu hiểu rơ lư là tông-tổ, khí là cha mẹ, tượng là do-lai cuả đồng-khí, đồng-lư, ắt tam-giáo một nhà, vua tôi, cha con, vợ chồng, tương kính, tương-ái, không tổn-thương đến tâm cuả tông-tổ phụ-mẫu, ắt vạn-quốc an-nghiệp, vua tôi, cha con, vợ chồng, bạn bè tận-tụy với nghiă-vụ. Như thế, ngày cuả Nghiêu-Thuấn có thể thấy lại. Hiền-quan thánh-vực có thể cùng tiến tới. Mà đời đại-đồng có thể xẩy ra ngay ngày hôm nay vậy.

 

THƯ TỊCH KHẢO

 

035 Khổng-tử Gia-ngữ Kim-chú Kim-thích 孔子家語今今譯, của Tiết An Cần 薛安 và Cận Minh Xuân靳明春, Đại-liên Hải-vận Học-viện Xuất-bản-xă, Đại-liên, tháng 2-1993.

048 Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa 一切經音義, Đường · Đại-Từ-Ân Tự Sa-môn Thích Nguyên Ứng 釋元應 soạn, Vũ-tiến Trang Hân 武進莊, Gia-định Tiền Điếm 錢坫, Dương-hồ Tôn Tinh Diễn 孫星衍 đồng hiệu-chính, Tân-văn-phong tái-bản, Đài-bắc, tháng 3-1980.    

325 Tân-Dịch Tứ-Thư Độc-bản 新譯四書讀本, Tu-đính Bát-bản, Tạ Băng Oanh 謝冰塋, Lư-Tiển 李鍌, Lưu Chính-Hạo 正浩 và Khâu Tiếp-Hữu 邱燮友 chú-dịch, Tam Dân Thư-cục, Đài-bắc, Tháng 9-1983. 

013 Thực-dụng Kỳ-môn Độn-giáp 實用奇門遁甲, Trần Anh Lược 陳英略 biên soạn, Quỷ-cốc-tử Tung Hoành Học-thuật Nghiên-cứu-viện, Hongkong, 1980.

290 Trung-Dung, Khổng-Cấp nguyên-tác, Chu-Hi tập-chú, Bản Việt-dịch của Cụ Cử Hồng-liên Lê-Xuân-Giáo, Trung-tâm Học-liệu Bộ Giáo-dục, Sài-g̣n, 1972.

292 Kỳ-Môn Độn-Giáp Bí-Cấp Đại-Toàn, Nhị-bản, Lưu Bá-Ôn hiệu-đính, phụ Xuất-Sư, Xuất-Hành Bửu-Kính-Đồ, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 8-1988.

427 Trương Tái Tập 張載集, Nhất-bản, Trương Tái 張載 trước, Trung-hoa Thư-cục xuất-bản, Tháng 8-1978.

444 Hạ Mạnh-tử, in kỳ nh́, Dịch-giả : Đoàn-Trung-C̣n, Trí-đức Ṭng-thơ, Sài G̣n, Tháng 9-1950.

492 Mencius, Translated with an Introduction by D. C. Lau, Penguin Books, 1970.

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 184

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com