www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 23

 

DỊCH BẢN-ĐỒ KHẢO

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 181)

 

Giải Nam-mô A-di-đà Phật:

 

Nam là ngôi kiền tiên-thiên, kiền là trời, trời ắt không ǵ là chẳng bao; một khí lưu-hành, lạnh nóng đắp đổi, đó là dịch cuả biến-dịch vậy.

Lại là ngôi cuả ly hậu-thiên, ly là mặt trời, mặt trời ắt sáng, không chỗ nào là chẳng chiếu, sóc-vọng doanh-khuy, nhật-nguyệt chu-chuyển, đó là dịch cuả giao-dịch.

Lớn không ǵ là chẳng bao, sáng không chỗ nào là chẳng chiếu, c̣n không đủ để tường-tận kỳ-diệu cuả Phật-pháp. Duy 'vô', ắt vô-vi chẳng nhập, vô-thanh vô-xú, vô h́nh vô tượng, vô thủy vô chung, vô tại mà vô bất-tại, đó là dịch cuả bất-dịch vậy.

Dịch cuả giao-dịch là tượng, là tường-tận cắt nghiă quẻ vẽ ra từ đâu.

Dịch cuả biến-dịch là khí, là tường-tận cắt nghiă tự-trù từ đâu mà ra.

Dịch cuả bất-dịch là lư. Là Hà-đồ xuất-phát từ đâu.

Lư thống-thể cuả vạn-vật là duy-hoàng cuả giáng-trung.

Lư vật vật đầy đủ là minh-mệnh cuả hư-linh.

Hư-linh minh-mệnh, tức nam-phương diệu vô vậy. Diệu vô tức là cái Đức Phật gọi là 'chính-pháp nhăn-tàng, nát-bàn diệu-tâm, kim-cương-tính xá-lợi-tử' vậy! Mọi người đều có tính diệu-vô ấy, nhân câu nệ nơi khí bẩm, che mất vật dục, thường thường có mà không biết là có, nên mê chân trục vơng, lưu-lăng sinh-tử, thường ch́m nơi bể khổ.

Tam-giáo truyền tâm, tức truyền-tâm cuả nam-phương diệu vô ấy. Học-giả biết sở-tại mà tu đấy, có thể kiến tính thành Phật.

A-di-đà Phật là thứ-tự tạo-chỉ vậy.

Bởi chưng, tích tinh tức niệm, ngưng tụ kiên-cố gọi là 'A', ấy là sơ-thừa-pháp vậy.

Tại Thích là 'Thanh-tĩnh pháp-thân', tại Đạo là Thái-thanh chân-nhân, tại Nho là sung-thực mà có quang-huy cuả đại-nhân.

Trực-dưỡng vô-hại, sung-tắc chu-biến gọi là 'Di', ấy là phép trung-thửa vậy.

Tại Thích là viên-măn báo-thân, tại đạo là thượng-thanh chân-nhân, tại Nho là thánh-nhân vừa lớn lao mà vừa hoá.

Thần-hoá tự-nhiên, viên-thông ứng-cảm, gọi là 'Đà', ấy là phép thượng-thừa, là phép tối-thượng nhất-thừa vậy.

Tại Thích là 'thiên bách ức hoá-thân'.

Tại Đạo là Ngọc-thanh chân-nhân.

Tại Nho là thần-nhân, thánh mà không thể biết được.

Cái mà Nho gọi là thần, Đạo gọi là tiên, Thích gọi là Phật, ba người chỉ là một.

Nên nói: Ngưng-tụ kiên-cố gọi là 'A', 

           Sung-tắc chu-biến gọi là 'Di',

           Viên-thông ứng-cảm gọi là 'Đà',

           Ba cái gọi chung là Phật.

Chỉ sáu chữ giảng-giải chân–thành kỹ-càng ấy, hội thông tam-giáo, quán-triệt nhân-thiên. Mười sáu chữ Ngu-đ́nh, 33 chương Trung-Dung, 5000 chữ Đạo-đức-kinh, 10 vạn chữ Nam-hoa-kinh 5048 quyển Thích-điển (Kinh Phật), đều xuất từ sáu chữ ấy vậy!

Giữ ước, thi bác, lời xem tưởng chừng gần, mà chỉ thật cao xa; dường như Phật không phải là đại-thánh, mà năng làm được đến như thế sao. Phật-ngữ vô-gián vậy.

Hôm qua, Du-trưởng Hiển-Tôn Tiên-sinh Thư-trai tự viết một câu đối:

前身本是明月

幾生修到梅花

Tiền-thân bản thị minh-nguyệt,

Kỷ sinh tu đáo mai-hoa.

Ta e Ngài tự-an trung-thừa, không cầu đạo vô-thượng, nên đáp bằng một bài thơ:

   真心莫比天邊月
 妙性非同雪裏花
 假使清高修得到
 仍然宇宙第三家

Chân tâm mạc tỷ thiên biên nguyệt,

Diệu-tính phi đồng tuyết lư hoa.

Giả sử thanh cao tu đắc lợi,

Nhưng nhiên vũ-trụ đệ-tam gia.

Hỏi rằng: "Nếu lấy minh-nguyệt là đệ-tam gia, ắt cái mà đạo-điển gọi là 'tâm tỷ trung thiên bửu-nguyệt' là lấy tâm làm nguyệt vậy. Cái mà Phật-điển gọi là 'Phật nhật tăng huy, là lấy tâm làm nhật vậy. Nay nói 'Chân tâm mạc tỷ thiên biên nguyệt'. Chưa đến kiền-khôn đệ-nhất gia. Song thế, các điều ấy đều sai ư?".

Tôi nói: "Tại sao lại sai vậy? Ấy là sau thời Thích-ca, Lăo-tử, do từ từ nhập vào giáo-pháp vậy. Bởi chưng, tâm cuả đại-điển là trăng, mà thủy-phủ cầu huyền, thuyết tu-mệnh vậy".

Tâm cuả Thích-điển là nhật, mà ly-cung tu-định, thuyết cuả tu-tính vậy.

Lại thêm lư-luận cuả đan-gia, hoặc nói duyên-hống tương-đầu, hoặc nói quy sà bàn-kết, long-hổ anh-sá, đỉnh-lô thủy-hoả, toản thốc giao-câu, phanh luyện ôn-dưỡng, mộc-dục thoát thai, đẳng đẳng công-phu, ấy cũng là thuyết tính-mệnh song-tu vậy.

Than ôi! Tu mệnh mà không tu tính là chấp hữu; tu tính mà không tu mệnh, là ch́m đắm nơi vô. Ấy là phép trung-thừa vậy.

Tính-mệnh song tu, là âm-dương hội-hợp, luôn luôn quay về bản-thể thái-cực. Ấy là thuyết băo nguyên thủ nhất, vạn-pháp quy nhất, phép thượng-thừa vậy.

Lại hỏi rằng: "Tu mệnh mà không tu tính, tu tính mà không tu mệnh, gọi là trung-thừa. Tính-mệnh song tu là thượng-thừa. Căn-cứ vào lời đó. Trung-thừa là vũ-trụ đệ-tam gia; không dùng thuyết đệ-tam gia cuả vũ-trụ. Than ôi! Phép thượng-thừa đă bảo rằng băo nguyên thủ nhất, lại đổi là vạn-pháp quy nhất, lại đă đến vậy. Bây giờ đệ-nhi gia, không biết bên trên có đệ-nhất gia không?".

Tôi nói: khó nói vậy! Trước hết, xin biện chứng bằng lời cuả hai nhà Thích-Đạo.

Ngày đó Thần-quang nhị-tổ giảng đạo 'vạn-pháp quy nhất', tự gọi là siêu Phật việt tổ, khả dĩ đại xiển tông-phong; kịp khi nghe Đạt-ma sơ tổ tây lai, diện bích tại chuà Thiếu-lâm, Quang-Toại đến gặp, chất-vấn sở học.

Đạt-ma hỏi rằng: "vạn-pháp quy nhất, nhất quy ǵ?".

Quang-Toại không trả lời được, bắt đầu ngộ kỷ thuật, thường tại luân-hồi, nhân đó bái-cầu chỉ-điểm.

Đạt-ma chiếu-cố Quang-Toại rằng: "Chư Phật không có Đạo thượng-diệu, há lấy tiểu-đức, tiểu-trí, khinh tâm, mạn tâm, đắc kư chấn thừa sao?".

Quang-Toại nghe được lời, hối-hận, lúc đó vớ lấy dao sắc chặt cánh tay trái, đặt trước mặt Đạt-ma, để tỏ thành-tâm.

Đạt-ma thấy pháp-khí như vậy, bèn truyền-thụ chân-tông, Quang-Toại tức th́ đốn-ngộ, nối tiếp đích-phái cuả Phật-môn.

Sau có bài kệ rằng:

不知到底一歸何?
是以神光拜達摩,
立雪少林為甚事,
只求一指躲閻羅

Bất tri đáo để nhất quy hà?

Thị dĩ thần-quang bái Đạt-ma.

Lập tuyết Thiếu-lâm vi thậm-sự,

Chỉ cầu nhất chỉ đoá diêm-la.

Do đó mà xem, vạn-pháp quy nhất, bèn là việc hạ-thủ, không phải là việc liễu-thủ. Năm xưa, Thiền-sư Hoàng Long-Cơ đăng đàn thuyết-pháp, Thuần-dương tổ đứng nghe ở dưới.

Hoàng-long Thiền-sư hỏi rằng: "Dưới kia là đạo-nhân nào?".

Lữ-tổ ứng đáp: "Vân-thủy Đạo-nhân".

Thiền-sư nói: "Vân tận thủy càn, Ngài về đâu?".

Lữ-tổ nghe được đại ngộ, nhân có bài thơ:

棄卻瓢囊摔碎琴,
而今不煉礦中金,

自從一見黃龍後,
始悔當年錯用心。

                  Khí khước biều-nang suất toái cầm,

                  Nhi kim bất luận khoáng trung câm (kim),

                  Tự tùng nhất kiến Hoàng-long hậu,

                  Thủy hối đương niên thác dụng tâm.

Nếu như thế, đều là tối-thượng nhất-thừa cuả Phật-Lăo, bèn là đệ-nhất-gia cuả vũ-trụ vậy. Vấn-giả vâng dạ. Tôi nói: "Nguời lấy làm như thế mà thôi sao? Như thế là phép xuất-thế cuả Phật-Lăo, không phải là phép trị-thế cuả thánh-hiền vậy".

Vấn-giả nói: "Phép trị-thế cuả thánh-hiền c̣n có tiến đến như thế sao?".

Tôi nói: "Có".

Bởi chưng, từ thanh-ngưu tây khứ, Đạo có ngũ-tổ, thất-chân; từ bạch-mă đông lai Phật có tam-tông, ngũ-phái (Xin xem định-nghiă các tiếng ghép này bên dưới).

 Mấy chân-nhân ấy, đại-khái xuất-gia tu-hành, chân siêu bỉ ngạn, đốn ngộ vô sinh, cao ắt cao vậy; nhưng mà bỏ người cầu trời, thể trọng hơn dụng, so với thánh-nhân, tận nhân hợp thiên, thể-dụng kiêm toàn có khoảng cách.

Phu-tử nói về tính-mệnh: đối Lỗ Ai-công ắt nói: phân nơi đạo gọi là mệnh, h́nh-dung nơi đất gọi là tính.

Tử-tư viết ra Trung-Dung ắt nói: "Thiên-mệnh gọi là tính".

Do đó mà xem, cái mà Phu-tử gọi là 'Đạo' tức là cái Tử-tư gọi là 'Trời'; cái mà Tử-tư gọi là 'Trời' tức là cái Phu-tử gọi là 'Đạo' vậy.

Học-giả đời sau không hiểu 'Đạo' với 'Trời' là vật ǵ, mà cao-đàm tính-mệnh, đại-khái là lời phá-đạo vậy.

Hoành-Cừ Tiên-sinh nói: "Thái-cực là Đạo".

Lại nói: "Thái-hư tức khí", khí ấy không phải là đại-khối ư-khí, không phải là thực-khí cuả miệng mũi, bèn là khí tiên-thiên, thái-hoà nguyên-khí vậy.

Thái-hoà khí, lấy toàn-thể mà nói, ắt gọi là thái-cực; lấy động-tĩnh mà nói, ắt gọi là lưỡng-nghi; lấy lưu-hành không ngừng, vận-chuyển chu-thiên mà nói, ắt gọi là tứ-tượng, bát-quái, 64 biệt-quái, 384 hào, với lại 24 tiết-khí, 365 ¼ ngày, không ǵ là chẳng nguyên-khí vận-dụng.

Nên Dịch nói: "Làm khuôn mẫu cho biến-hoá trong trời đất mà chẳng quá trớn, uốn nắn nên muôn vật mà chẳng sót, thông suốt đạo ngày đêm mà am-tường, cho nên thần th́ không có phương-sở, mà đạo Dịch th́  không có h́nh-thể" (Thượng-Hệ IV/4).

Là Thần, là Dịch, là Đạo, là Trời, không ǵ chẳng là biệt-danh cả; lư-khí ấy,  thụ cùng tam-giới, hoành nhập hồng-hoang; vô-danh vô-tượng, mà là nguồn cuả danh danh tượng tượng; vô-sắc vô-h́nh, mà là chủ cuả sắc sắc h́nh h́nh.

Thăng-phù vậy mà sinh cơ xuất, Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh cuả thiên-đạo ngụ, mà nhân-lễ có gốc vậy.

Giáng-trầm mà sát-khí đến, thiên-đạo Lợi Trinh ngụ vậy, mà nghiă trí có nền.

Cái đó tức điều mà Phu-tử gọi là Đạo, Tử-tư gọi là Trời, Trương-tử gọi là thái-cực, Chu-tử gọi là 'Chân cuả vô-cực' vậy.

Trời không phải là trời xanh, không phải trời cao vời vợi, mà vô-thanh vô-xú, không nghe, không thấy được, không chỗ nào là không có, không lúc nào là không như vậy. Siêu ra ngoài xanh xanh, siêu ra ngoài cao vời vợi; quan nơi sinh sinh nguyên nguyên, có hữu-t́nh vô-t́nh bên trong, chủ tŕ trời cuả muôn loài.

Chu-tử nói: "Chân cuả vô-cực, tinh cuả nhị-ngũ, diệu-hợp mà ngưng, kiền-đạo thành nam, khôn-đạo thành nữ".

Bởi chưng, chân cuả vô-cực là thiên-lư vây. Tinh cuả nhị-ngũ là phụ-mẫu. Nhị-ngũ giao mà thiện-lư nhất. Không ngụ nào là không có ngụ bên trong, tam-gia hỗn-hợp; ấy là nhân-sinh tự lai, tức tính-mệnh tùng hữu vậy.

Lư ấy như vậy, chưa nhập trong nhị-ngũ, là trời cuả vạn-vật thống-thể; đă nhập nhị-ngũ rồi, là trời vật vật mỗi mỗi đầy đủ.

Từ trời mà phân ra gọi là mệnh, chủ-tŕ h́nh-hài gọi là tính.

Trời là một đại-thiên, tính là một tiểu-thiên.

Trời có Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh, tính có nhân, nghiă, lễ, trí.

Con người năng thực-tiễn nhân-nghiă, lễ-trí, gọi là suất-tính. Con người năng lấy tính phân ra trong trời, mà lấy tính hoàn nơi trời, gọi là hợp-thiên.

Biết điều ấy gọi là cùng tính.

Thi-hành điều ấy gọi là tận tính.

Hoàn thành điều ấy gọi là chí mệnh.

Như thế gọi là thánh, lớn lao mà hoá thần thánh mà không biết được.

Trời tức người, người tức trời, cớ sao nằm sấp, ngửng lên, co ruỗi, phục thực, đạo dẫn làm chi? Đó là đạo cuả Khổng-tử, sở dĩ trải qua muôn đời mà không suy-sụp.

Nay đại-khái lược-thuật lập ngôn cuả Phu-tử, mượn để tựu-chính nơi người hữu đạo.

Nhan-Hồi hỏi về đức nhân. Khổng-tử đáp: "Khắc kỷ phục lễ".

Chỉ bốn chữ ấy mà thôi, cử phàm thiên-đức, vương-đạo, đức tính, học-vấn, trên th́ khả dĩ theo gót văng-thánh, dưới th́ khai lai-học-giả; không ǵ là chẳng hiển-vi học-cụ, thể-dụng kiêm toàn, thủ ước mà thi bác. Cái gọi là ngôn cận chỉ viễn là thiện-ngôn vậy. Cái ấy là ǵ? Ta là ǵ?

Là dục, là riêng tư, là thiên, là việc hại đức nhân vậy; nhỏ mà thanh-sắc hoá lợi; lớn mà phú-quư công-danh; phàm có việc làm mà làm, đều là cái ta vậy.

Lễ là ǵ?

Là thành, là công, là trung, là việc thành đức nhân vậy; gần mà trung-hiếu, tiết-nghiă, cao mà đại-hoá thánh-thần; phàm không có việc làm mà làm, đều là lễ vậy.

Công khắc-phục, trước hết, tức phụng-sự nhà vua.

Ôi! Làm quan mà chí tại cơm no áo ấm, phụng-sự vua mà có ư mua danh; lâm sự mà sợ khó, cầu được yên, tận tiết mà tham sống sợ chết. Phàm có tâm-điạ ấy vô tại phi-dục, vô tại phi-tư, vô tại phi thiên vậy; khắc mà khứ đấy, ắt duy tri đương sự quân, trung đương tận. Tâm ấy thản-bạch, khuyếch nhiên đại-công.

Lúc b́nh thường ắt tĩnh cung nhĩ lập, đều đó là chính-trực.

Lúc biến ắt tận-tụy hết sức ḿnh, chỉ biết có chết mà thôi.

Tức trí-quân nơi đương đạo, nhập thế nơi nhân-thọ.

Phú-giáp thiên-hạ, quư làm vương-hầu, công trùm hoàn-vũ, danh thùy trúc-bạch (luạ tơ trần). Lại cũng ở vào vùng trời vô-sự.

Nhưng mà khắc-kỷ, bèn hành sự thủ ước sự minh-lễ vậy.

Phục lư cuả thiên-lư, do chưa được phục băm ba ngh́n lễ vậy.

Thờ vua mà chưa biết phục băm ba ngh́n lễ, ắt lưu làm trung, mà không học nghị-luận; muốn thi-hành vương-đạo, tôn đức tính nhiều, công cuả đạo vấn học, lại không dung-viện vậy.

Hiểu rơ thể, đạt dụng, thủ ước bác thi, cử phàm lễ-nhạc h́nh-chính.

Nhân cách các chỗ tổn-ích, không nệ cổ, không lưu-tục, tùy thời chế-nghi, ai được xứng đáng ấy, rồi sau mới gọi là phục-lễ vậy.

 Nếu khắc-kỷ mà không biết phục-lễ, ắt lưu làm thanh-đàm không-hư; phục-lễ mà không biết khắc-kỷ, ắt lưu làm biến-canh cuả nệ cổ, đó là tệ-đoan cuả học-thuật hậu-thế, không thể nào không biết vậy.

Nói khắc-kỷ, ắt kế-tiếp phục-lễ rồi sau mới biết thánh-nhân lập-ngôn nơi không lỗi, không tại chẳng chí-thành, chí công, mà tại lưu-lộ đại-trung vậy.

Cho nên vương-đạo tất gốc ở thiên-đức, tính-mệnh không ngoài luân-thường, thể-dụng, gốc-ngọn không thể khiếm-khuyết một. Biết điều đó gọi là biết đạo, thi-hành điều đó gọi là đắc-đạo, hoàn thành điều đó gọi là thành đạo. Lớn lao như thế có thể gọi là thánh-hiền, kém một bậc cũng không hổ thẹn với danh-giáo.

Giữ vững điều đó để kế-văng, ắt là đích-phái cuả Nghiêu, Thuấn, Văn, Chu, Khổng-tử, Nhan-Tăng, Liêm-Lạc, Quan-Mân. Tu-tŕ để khai lai, ắt là tông-sư đạo-đức, văn-chương, lễ-nhạc, h́nh-chính, trung-hiếu, tiết-nghiă. So sánh với tam-tông ngũ-phái cuả Phật-môn, ngũ-tổ thất-chân cuả Đạo-gia, tựa hồ không phản-bội nhau vậy!

Đó há chẳng phải là vũ-trụ đệ-nhất-gia sao?

Mạnh-tử nói: "Ta muốn kế-thừa và phát-triển tư-tưởng cuả Khổng-tử". Chính ta cũng muốn làm như thế.
 

CHÚ-THÍCH:

Minh-đường: là nhà minh chính-giáo. Từ thời Đường-Ngu đă có Minh-đường. Phàm thiết-triều chư-hầu, đăi công, dưỡng lăo, dạy học, tuyển sĩ đều tổ-chức trong nhà này.

Tư-mă: tên quan. Từ thời Đường-Ngu đă có chức quan này. Nhà Chu đặt ra quan Đại-tư-mă, là một trong lục-khanh, nắm giữ quân-chính.

Trương-tử, tức Trương-Tái: Tự Tử-hậu. Người đời Tống ở tại Mi-huyện, trấn Hoành-cừ. Hồi nhỏ, mồ-côi tự lập, thân thiết với Nhị-Tŕnh, tu-luyện được chính-yếu cuả Đạo-học, lấy giáo-chỉ cuả văng-thánh, tất có thể đạt đích, điều cần học lá cách cai-trị đời Tam-đại. Thường nói: "V́ trời đất lập tâm, v́ sinh-dân lập-mệnh, v́ văng-thánh kế-thừa tuyệt-học, v́ vạn-thế khai thái-b́nh". Thửa học-thức hành năng như thế. Thời Gia-hựu đỗ Cử Tiến-sĩ, làm Vân-nghiêm lệnh; đầu đời Hi-ninh làm hiệu-thư Sùng-chính-viện. Về sau, trú dưới Nam-sơn giảng học, số học-tṛ thành tựu rất đông. Đời xưng là Hoành-cừ Tiên-sinh. Trước-tác gồm có: Chính-mông, Đông-minh, Tây-minh, Dịch-thuyết, đều chép trong Trương-tử Toàn-thư tức Trương-Tái Tập (427).

Thuế-Thang-Các: là một thiên trong Kinh Thư, Thủ-tự; Thang đă bị Hạ mệnh truất, trở về Hào, viết ra Thang-cáo.

      Thù-Tứ: tên hai con sông cuả nước Lỗ. Thiên Đàn-cung trong Kinh Lễ chép: Ta với hai con gái thờ Phu-tử nơi Thù-Tứ. Sử-kư, Truyện 'Hoá-thực' chép: Bến Thù-Tứ cuả Trâu-Lỗ c̣n có di-phong cuả Chu-Công. Lỗ vốn là nước văn-hiến, từ Chu-Công bố-hoá đến Khổng-tử thiết-giáo, người đời thường bảo là văn-hoá Lỗ, nên lấy danh-xưng là Thù-Tứ.

Ngữ-lục: Tức Ung-chính ngự-soạn Ngữ-lục.

Tham-đồng-khế: tên sách do Ngụy Bá-dương trước-tác. Trong sách hay nói đến khảm-ly, thủy-hoả, long-hổ, duyên-cống. Là thủy-tổ lư-hoả các đời sau.

    Ngũ-tổ 五祖, Thất-chân 七真: Ngũ-Tổ Thất-Chân là tổng-xưng cuả năm vị tổ-sư và bẩy vị chân-nhân. Họ lại chia thành mam-bắc-phái.

      Bắc-phái gồm có: ngũ-tổ là: Vương Huyền-Phủ, Chung Ly-Quyền, Lă Đồng-Tân, Lưu Hải-Thiềm và Vương Trùng-Dương; thất-chân là: Mă Đan-Dương, Đảm Xử-Đoan, Lưu Xử-Huyền, Khâu Xử-Cơ, Vương Xử-Nhất, Hách Đại-Thông và Huyền Bất-Nhị.

      Bắc-phái gồm có: ngũ-tổ là : Trương Bá-Đoan, Thạch-Thái, Tích-thức, Trần-Nam và Bạch Ngọc-Thiểm; thất-chân là: Mă Đoan-Dương, Đàm Xử-Đoan, Lưu Xử-Huyền, Khâu Xử-Cơ, Vương Xử-Nhất, Hạch Đại-Thông và Huyền Bất-Nhị.

      Tam-tông: là Thiền-tông, Thiên-đài-tông và Hiền-thủ-tông.

     Ngũ-phái: là năm đích-phái cuả Lục-tổ Tuệ-năng Đại-sư: Ky-ngưỡng, Lâm-tế, Tào-đỗng, Vân-môn và Pháp-nhăn.

      Liêm-Lạc-Quan-Mân: là bốn chi-phái Tống-nho, cũng xưng là Tống Ngũ-tử. Từ Bắc-Tống đến Nam-Tống, danh-nho Lư-học là Liêm-khê Chu Đôn-Di (1017-1073), Lạc-dương Tŕnh-Hạo (1032-1085) và Tŕnh-Di (1033-1107), Quan-trung Trương-Tái (1020-1077) và Mân-trung Chu-Hi (1130-1200).


*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 183

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com