www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 23

 

DỊCH BẢN-ĐỒ KHẢO

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 178) 
  

LƯ-SỐ HỢP-GiẢI

  

ĐẠI-HỌC GIẢI

 

Đại-học là học đại-quy-mô vậy. Đại là ǵ? Đại bảo chỉ có trời mới lớn-lao. Trời có thể học sao? Có thể chứ! Một vạch khai-thiên, Phục-hi học trời vậy. Đạo quan-sát trời, chấp hạnh cuả trời, Hoàng-đế học trời vậy. Chỉ có trời là lớn-lao, chỉ có Đế Nghiêu đặt ra phép-tắc. Đế Nghiêu học trời vậy. Duy có mệnh trời, Vu-Mục chưa đạt mức, đức cuả Văn-Vương thuần, Văn-Vương học trời vậy. Ta muốn không lời, trời có nói ǵ đâu, bốn muà vận-hành, trăm vật sinh-sôi, Khổng-tử học trời vậy. Thượng-thiên tải, vô-thanh vô-xú. Tử-tư học trời vậy. Tận tâm tri tính, biết thửa tính, ắt biết trời, tồn tâm  dưỡng-tính sở dĩ phụng-sự trời, ấy là Mạnh-tử học trời vậy. Tính sở dĩ xuất ra từ trời. Tính ai ai cũng có, tính đă là cố-hữu cuả mọi người, tức là ai ai cũng học trời vậy. Học đấy, ắt đại-hoá thánh-thần, khả dĩ theo tới, không học ắt cuồng-vơng quỷ cầm, cũng có thể tới. Nhưng mà trời có phân ra lư-thiên, khí-thiên, tượng-thiên, nên tính cũng có phân-biệt lư-tính, khí-tinh, chất-tính, nhưng mà tâm cũng có đạo-tâm, nhân-tâm, tâm huyết-nhục khác nhau, điều đó người ngu, người hiền, thánh-nhân cũng có suy nghĩ khác nhau. Lư-thiên bèn là lư-tính, là chỗ đạo-tâm tự-xuất. Lư là chân cuả vô-cực vậy. Trước lúc chưa có trời đất, đă có lư ấy, trời đất cùng tận, lư ấy phục-sinh trời đất. Lúc chưa có thân ấy, đă có lư rồi, thân  ấy ra đi, mà lư ấy vẫn c̣n. Lư vốn vô-tượng, trời hiện tượng cuả Hà-đồ để tượng.Hà-đồ hữu tượng để làm điạ-bàn, như nhân-thân vậy. Hà-đồ vô-tượng là lư-thiên, như tính cuả con người vậy.

 

Quẻ Khôn cuả Dịch nói: hoàng trung thông-lư, bởi chưng lư ấy quán bên trong đại- điạ, siêu bên ngoài đại-điạ. Số cuả Hà-đồ, 2-7 tại nam thuộc hoả, hoả chủ ấm-áp, nên phương nam ấm-áp nhiều, ấy là văn-minh từ-nhượng, đầu mối cuả lễ. 1-6 tại bắc thuộc thủy, thủy chủ lạnh, nên phương bắc lạnh nhiều, điều ấy trầm tiềm thị-phi, đầu mối cuả trí vậy. 3-8 tại đông thuộc mộc, là nguyên, là xuân, thuộc mộc ắt năng sinh hoả, nên đại-minh xuất nơi phù-tang, là nguyên ắt là thủ-lĩnh cuả tứ-đức, là xuân, là chỗ sinh cơ-xuất, ấy là sinh ra trắc-ẩn, là đầu mối cuả đức nhân. 4-9 tại tây thuộc kim, là lợi, là thu, thuộc kim ắt kim năng sinh thủy, nên  Hà-nguyên xuất-phát tự Côn-lôn, là lợi ắt cứng, mà năng chặt đứt, là thu ắt cộng lạc tây-thành, ấy là đầu mối cuả quả-cảm tu-ố vậy. 5-10 cư trung thuộc thổ, thống tứ-đoan, kiêm vạn-thiện, là bản-thể cuả tín-tâm, là đại-dụng cuả tín-thực. Lư ấy sở dĩ không ǵ là chẳng lư, mỗi mỗi được thửa lư. Thửa thể chí-hư, nên vạn-thù tại nơi nhất thể, thửa dụng chí-thần nên nhất thể năng ứng vạn thù. Chí-hư ắt nhất vô-sở-hữu, vô-sổ bất-hữu; chí-thần ắt viêm nhiên vô-vi, mà vô sở bất vi. Chu Liêm-khê nói: "Chân cuả vô-cực, tinh cuả nhị-ngũ, diệu-hợp mà ngưng, kiền-đạo thành nam, khôn-đạo thành nữ, ấy là tính sở dĩ tự lai, là chỗ con người do đó sinh ra vậy." Tinh cuả nhị-ngũ sinh ra thân cuả hữu-h́nh, chân cuả vô-cực diệu-hợp xung quanh, làm thành tính cuả vô-h́nh, tam–ngũ tương-hợp, hữu-vô hồn-nhất, trời ngụ nơi người, người ngụ nơi trời.

 

Cái ngụ trong người, tuy chỉ là một điểm cuả trời, mà chí-lư vô-phân, chí-thần năng Thong, quả thực là toàn-thể cuả thiên–lư vậy. Thiên-lư là tính cuả vạn-vật thống-thể, nhân tính là trời cuả vật vật mỗi mỗi vậy. Tính ấy ngụ trong mỗi thân, gọi là ẩn, siêu ra ngoài hữu-h́nh gọi là phí, phí ắt phóng ra ngoài lục-hợp, ẩn ắt cuộn lại mà ẩn tàng chốn mật. Di-luân lục-hợp, ắt thửa lớn không ǵ bao nổi. Ẩn-tàng chốn mật ắt không có bên trong, ấy là cái đạo Đại-học đă có được từ trước khi sinh. Một tiếng cuả

đất, khí thái-cực nhập vào, khí hiển lư vi, vi không thắng hiển, ắt gom góp về khí-bẩm, tri-thức dần dần khai-triển, cam thực duyệt sắc, giao vật mà dẫn. ắt che lấp nơi vật-dục vậy. Lư che lấp nơi khí, khí che lấp nơi vật, vật giao với vật, từ lư mà khí, từ khí mà vật. Người ngu chỉ biết có vật, mà không hiểu ǵ khí, người hiền hiểu rơ khí mà không đạt nơi lư, như chẳng tùng-sự nơi học, ắt tụ nơi tiểu mà mờ-mịt nơi đại vậy.  Đương lúc ấy, muốn từ tiểu mà nhập đại, không học cái đạo không thể học được th́ biết làm sao? 

 

TRUNG-DUNG GIẢI


 

          Trời là ǵ? Là lư, là khí. Khí-thiên, trên vận tinh-đẩu, dưới quán đại-điạ, rét lại bức đi, vận-hành không ngừng. Tích dầy có sắc, gọi là bích-lạc, chưa dầy vô-h́nh, gọi là hư-không. Bích-lạc hư-không không phải là trời, khí vô-bất–tại tức trời vô-bất–tại vậy. Con người từ lúc mới sinh, phát ra một tiếng, khí ấy do miệng mũi nhập vào, hư-không cuả khí-thiên vậy. Do miệng phân khỏi người, gọi là mệnh, người bẩm mệnh trời mà sinh, gọi là tính, nên nói: thiên-mệnh gọi là tính. Không tề-chỉnh, v́ sao? Khí ấy tuy hồn nhiên một đoàn, mà có phân ra âm-nghi, dương-nghi.

Dương-nghi từ đông-chí cửu-điạ thăng lên mà là quẻ Phục, trải qua 182 ngày có lẻ, bắt đầu tới cửu-thiên, là tháng thuần-kiền lục dương.Thửa dương-nghi 182 ngày có lẻ, chính giữa lại phân ra 90 ngày có lẻ là xuân, 90 ngày có lẻ là hạ. Xuân tức số 8 cuả Hà-đồ, là số cuả thiếu-âm vậy; hạ tức số 7 cuả Hà-đồ, là số cuả thiếu-dương vậy. Số cuả xuân tại Hà-đồ là 3-8, trong là thiếu-dương, ngoài là thiếu-âm. Tại Lạc-thư, ắt  xuân đương ở tả 3, thuần là thiếu-dương, hạ đáng ở nơi tải 9, thuần là lăo-dương; sau hạ-chí đáng là ngôi cuả 2, là v́ thiếu-âm; trước đông-chí đáng là ngôi cuả 6, là v́ lăo-âm. Ấy là nghiă  cuả âm-dương hỗ-căn vậy, mà tứ-tượng phân vậy!

Do đó mà tiến tới, mà là bát-quái, 64 biệt-quái, 384 hào suy-diễn mà là 11520 sách-số, mà thiên–độ mở cho thông vậy! Hoá nguyên-chương vậy. Trí-ngu, hiền dữ, thọ-yểu cùng-thông, theo đó mà phân. Thêm vào nhị-thập-bát tú mà phụ vào với trời vận-động, là lúc con người giáng-sinh thụ-mệnh, chính đương khi cuả mỗ tú, mỗ độ, nắm lấy cơ-hội mà nhập, ắt tính cuả người ấy giống với tính cuả tú ấy. Tú có cát hung, người có thiện-ác. Thửa mệnh ắt tham-bác xuân-thu hàn-thử, hối-sóc, huyền vọng, can chi ngày giờ, sinh-khắc chế-hoá, mà tính khí-chất cuả vạn-hữu bất-tề vậy, ấy là khí-thiên được sau khi giáng-sinh vậy. Nếu tính bản nhiên, mệnh thiên-phú ắt lại từ lư-thiên. Khí-thiên trên vận tinh-đẩu, dưới quán đại-điạ, 129600 năm là một chung-thủy, lưu-hành  không ngừng nghỉ, là trời biến mà hữu thường vậy. Lư-thiên ắt quán bên trong khí-thiên, mà làm chủ cuả dục-giới, sắc-giới. Tuy không dời khỏi khí mà kỳ thực khí không tạp nơi khí, siêu-thoát khỏi dục-giới, sắc-giới, ắt uỷ-khí độc-lập, mà là vô-sắc-giới, ấy là tĩnh mà bất-động, trời thường mà bất-biến. Trời lưu-hành không ngừng, biến  mà hữu thường, vô-h́nh vô-tích, trời thường mà bất-biến, h́nh-tích đều tận-diệt. Vô-h́nh hữu tích là nhân kẽ hở mà nhập, đến không đợi đi. Tam-giới nội-ngoại, thiết thượng, thiết hạ, tứ-duy, bát-phương, không ǵ là chẳng lư, lư tức là cái ta gọi là chân cuả vô-cực vậy. Trời đất giao nhau, trời đất tức nhị-ngũ vậy; trống mái giao nhau, trống mái là nhị-ngũ vậy. Nhị-ngũ giao nhau, mà chân cuả vô-cực khi6ng ǵ là chẳng hồn-hợp bên trong. Nhị-ngũ có h́nh, sinh chất cuả hữu-h́nh, vô-cực vô-h́nh làm tính cuả vô-h́nh, tính là lấy nhân-vật bẩm-thụ mà nói vậy. Vô-cực không rơi vào âm-dương, không phân ngũ-hành, hồn nhiên, tuư nhiên. Nên mệnh thiên-phú. Tính bản nhiên, Nghiêu-Thuấn không khác với chúng-nhân, cái ấy lúc chưa sinh đă được từ lư-thiên, cái đó cũng được là thiên-mệnh gọi là tính. Được từ lư-thiên, thần là nguyên-thần, tâm là đạo-tâm, khai khiếu nơi mắt. Được từ lư-thiên có nghiă là thần là thức-thần, tâm là nhân-tâm, khai khiếu nơi miệng mũi. Nên  mắt con người thông lư-thiên, miệng mũi thông khí-thiên, như con cá trong nước vậy. Nhưng thông mà không biết là thông, không được đại-thông, chung-thông, không được hợp-nhất vậy, dẫn cuả vật-dục là tệ cuả t́nh-tứ vậy. Bản tính tệ nơi t́nh-tứ, t́nh-tứ làm việc nơi vật-lụy, ấy là mê chân trục vơng, lưu-lăng sinh-tử, quỷ-quan , cầm quan do đó nhập vào. Sai nơi huyền-quan thánh-vực vậy! Tính ấy sở dĩ tu nơi suất. Chu Liêm-khê nói: "Suất là tuần. Trở lại muốn tuần khí, ắt nhập hiền-quan, tức khí-hợp thần ắt nhập thánh-vực. Nhập hiền-quan là khí trở về thái-cực-thiên vậy; nhập thánh-vực là trở về vô-cực-thiên vậy. Biết thửa khí mà dưỡng đấy, đặt nền nơi trời đất, là đạo cuả hiền-nhân vậy; biết thửa thần mà ngưng, đóng khung trời đất, là đạo cuả  thánh-nhân vậy. Thiên-mệnh gọi là tính, tức minh-đức cuả Đại-học; suất tính gọi là đạo, tức minh minh-đức cuả Đại-học; tu đạo gọi là giáo, tức thân-dân cuả Đại-học. Ba cương-lĩnh cuả Đại-học, tức ba cương-lĩnh cuả Trung-Dung. Đại-học là học đại-quy-mô, mà chí-đại không ǵ bằng trời, nên Đường-Nghiêu lấy trời làm quy-tắc, Khổng-tử luật-thiên, tham-thiên, phối-thiên. Chữ suất trong suất-tính tức không lỗi, không quên, như cựu-vật cuả thượng-đế và ta, mà suất do đó. Biết thửa thể ắt gọi là đạt thửa dụng, bởi chưng mừng giận, buồn vui lúc chưa phát là trung cuả thể, là cái học cuả nội-thánh vậy; nắm hai đầu mối, dùng chỗ chính giữa cho dân, là trung-dụng vậy, là cái học cuả ngoại-vương. Hai đầu mối tức đức tính, là phân chia cuả vấn học. Không thể dời đạo trong khoảnh-khắc, dời lư ắt sai thánh-vực, dời khí ắt nhập quỷ-quan, ấy là lấy đạo-thể mà nói. Nếu lấy đạo mà dùng lời, ắt luyện-tập, ắt c̣n, tính cuồng khải-niệm, có thể làm thánh, bỏ ắt mất; duy thánh cương niệm có thể tác-cuồng, mà đạo có thể dời trong khoảnh khắc sao?". Một việc thận độc, Chu-tử ắt lấy điều mọi người không biết, điều ta biết riêng ḿnh là độc, đó là phép liễu-thủ vậy. Phép liễu-thủ tức thành-thực là đạo trời, là đạo cuả tự-nhiên; phép nhập-thủ là làm cho thành-thực, là đạo cuả người, cuả xă-hội loài người

(Trung-Dung, Chương XX, 290, tr. 81). Ḍm mà chẳng thấy, nghe mà chẳng nghe đuợc, thiên-đạo ẩn-vi vậy. Như tại bên trên, như tại bên trái, bên phải, thiên-điạ lăng-phí, hiển vậy. Hiển tức tam-đạt-đức, ngũ-đạt-đạo, cửu-kinh tam-trọng vậy; vi là tải trời bên trên, vô-thanh vô-xú. Thể là thiên-đức, dụng là vương-đạo, ấy là đạo cuả người quân-tử, sở dĩ gốc nơi thân ḿnh, trưng nơi thú-dân, khảo nơi tam-vương mà không sai lầm, dựng nơi trời đất mà không trái nguợc, chất-vấn nơi quỷ-thần mà không khả-nghi, trăm đời để chờ thánh-nhân mà không mê-hoặc. Người hành-đạo, đă không sách-ẩn hành thành, yên thân nơi tiểu-thành, lại không bỏ cuộc giữa đường, hối mà vô-văn, nên năng sách-vi mà làm, vô nhập mà không tự-đắc, rồi sau mới đạt-tham trời đất, tán hoá-dục, trời đất đắc-vị, vạn-vật toại-sinh hữu-hiệu, như thế ắt duy trời giáng trung, duy thánh trung-dung thành-công.Một sách Trung-Dung, bắt đầu từ trời, kết-thúc nơi trời, lấy không ḍm, không nghe làm nhập-thủ, lấy vô-thanh vô-xú làm liễu-thủ, cực-đại hiển-vi, khuyếch phí-ẩn, quán thành minh, suy làm tam, tam-đạt-đức, ngũ-đạt-đạo, cửu-kinh, tam-trọng, ba ngàn ba trăm, thiên-nhân thể-dụng, bản-mạt lưỡng-đoan phép nội-thánh ngoại-vương. Mà cuối-cùng một bút quét đi mà nói rằng: thanh-sắc để hoá mạt cuả dân, đức nhẹ như lông, lông nhẹ có luân-lư, mà thượng-thiên tải, tất vô-thanh vô-xú mà đến sau, để biết gốc cuả hữu là ở vô, sinh nơi vô vậy. Hữu là hiển, vô là vi, hữu-vô hiển-vi, gốc tự đồng-nguyên. Đạt thửa vi mà không đạt thửa hiển gọi là tố, hữu-thể vô-dụng; đạt thửa hiển mà không đạt thửa vi, gọi là thiên, hữu-dụng vô-thể. Hai cái đó đều lệch sang một bên, không ở chính giữa, mà chấp-tượng ngoan-không, có thể biết phải phản-hồi. Sự ở chính giữa lại phân ra kinh trung, vỹ trung, kinh trung là lư, lư ắt thường mà không biến, tam-cương ngũ thường, suốt từ xưa không thay đổi; biến mà hữu-thường là văn-chất tam-thống, nhân thời chế-nghi. Thể đấy gọi là trung, hành đấy gọi là dung, hành thành hữu-hiệu gọi là hoà. Hoặc hỏi: chí-trung-hoà, ngôi cuả trời đất ư? Vạn-vật sinh-dục ư? Như người bất-trí trung-hoà, trời đất sẽ đảo-trí sao? Tôi ứng đáp: thiên-điạ là âm-dương. Mừng, giận, buồn, vui là bốn muà. Phát ra đều trúng tiết, như đương vui mà vui, ắt xuân hành xuân-lệnh, trúng-tiết cuả vạn-vật phát-sinh; đương mừng mà mừng, ắt hạ hành hạ lệnh, trúng-tiết cuả vạn-vật sướng-mậu, đương giận mà giận, ắt thu hành thu lệnh, trúng-tiết cuả vạn-vật kết-thúc; đương buồn mà buồn, mà đông hành đông lệnh, trúng-tiết cuả vạn-vật thâu-tàng. Nên cai-trị cuả đế-vương, thường hành muà xuân, h́nh hành muà thu, nghênh hạ nơi nam, tiếp đông nơi bắc. Phát-hiệu, xuất-lệnh, mỗi mỗi theo muà, chớ sát-phạt thiên hoà. Tam-công luận đạo, âm thuận dương hoà, âm-dương đắc-vị, ắt trời đất đắc-vị, ắt vạn-vật toại-sinh vậy. Chẳng thế, ắt đương vui mà giận, trọng-xuân hành thu-lệnh, ắt nước có băo lụt, hàn-khí tổng-chí, giặc cướp nổi lên; đương vui mà buồn, trọng-xuân hành đông-lệnh, ắt dương-khí bất-thắng, luá mạch không chin, dân phần đông ăn cướp lẫn nhau; đương vui mà mừng, trọng-xuân hành hạ-lệnh, ắt nước đại-hạn-hán, khí ấm đến sớm, sâu luá phá hại. Cử-phàm tôn-ti tương-xâm, nam-nữ trái nhau, cử-chỉ sai muà, hiệu-lệnh sai lạc, tức điều đó có thể loại-suy. Ôi âm-dương sai trái, ắt trời đất thất-vị, trời đất thất-vị, ắt mưa nắng rét bức thất-thường, ắt tật bệnh sinh ra, b ách cốc thảo-mộc chiụ tai-hại, tương nhân mà đến, như vậy ắt thiên-ương nhân-hại, vạn-vật sinh thành khó thoả.Nhưng mà con người có sang hèn, điạ-vị có cao thấp, mà chính-lệnh hành-sự có nhỏ có lớn, nên vương tỉnh duy tuế, khanh-sĩ duy nguyệt, sư quân duy nhật, thứ-dân duy tinh, thửa hành-sự đắc thất, cảm chiêu tai-tường, hoặc xem một thiên-hạ, hoặc xem một nước, hoặc xem một nhà, hoặc xem một cá-nhân. Trách-nhiệm khinh-trọng, cũng phân-biệt vạn-hữu bất-tề. Như thiên-tử hữu-đạo, đoan củng vô-vi, thửa thức cơ thần ngưng sở cảm, ắt đại-khối khí toàn tiêu, nên gió không minh-điều, mưa không phá-khối, biển không dậy sóng, vân thụy nhật tường, trong phong cảnh trăng tạnh, vạn-vật đúng chỗ, ham đang nhân-thọ. Ấy là có hiến bạch-trĩ, lữ-ngao có cống, mà nước đệ-sơn hang-hải, không triệu mà đến. Tam-đại trở về trước, đạo tại quân-tướng, ắt trách-nhiệm tại công-khanh; tam-đại trở về sau, đạo tại sư-nho, ắt trách-nhiệm tại học-sĩ, thiên nhân cảm triệu, nhanh như ảnh-hưởng, đức lưu-hành, nhanh như ngựa trạm. Nếu có thức-giả, hẳn cho lời ta là không bậy-bạ. 

 

TAM-DỊCH THÁM NGUYÊN

 

Sách Dịch được làm ra cốt để nêu rơ ba nghiă: bất-dịch, biến-dịch và giao-dịch.

Mà ba phép Lư-học, Số-học và Tượng-học sơ-lược. Lớn là Thánh-vực, Hiền-quan, tận-tính chí-mệnh; vi-diệu cuả thiên-đạo; thứ đến là cương-thường danh-giáo, tŕ thân thiệp thế, nhân-sự danh hiển; thứ nữa là trị lịch minh thời, âm-dương doanh-hư, vật-loại tiêu-trưởng, cát hung hưu-cữu biến-hoá. Khai vật trước thiên-hạ, thành-vật sau thiên-hạ. Sở dĩ nhiên như thế nên Dịch mới là tổ cuả chư kinh, nguồn cuả vạn-pháp.

Lư vi đạo đại, thủ dụng đa môn. Người nhân thấy nó là nhân th́ gọi là nhân, người trí thấy nó là trí th́ gọi là trí, trăm họ thấy nó hằng ngày mà không biết thửa sở dĩ nhiên. Trước Khổng-tử, Dịch chuyên về tượng-chiêm (bốc-phệ), nên quan Thái-bốc mới chấp-chưởng, chưa liệt vào học-cung. Kể từ khi Khổng-tử soạn ra Thập-dực, thư-sướng nghiă-lư, tham-bác danh-số, bắt đầu giảng truyền cùng với Ngũ-kinh, nên không c̣n bị liệt vào thuật-số nữa. Cái ǵ là bất-dịch? Là Hà-đồ. Cái ǵ là biến-dịch?

Là Lạc-thư. Cái ǵ là giao-dịch? Là nhật-nguyệt biểu-tuợng Dịch vậy. Hà-đồ là lư. Lư chủ ngũ-thường, thường ắt hằng-cửu, bất-biến. Tại trời gọi là thiên-lư, tại đất gọi là điạ-lư, nơi cơi người gọi là tính-lư. Lư gốc ở vô-tướng. Trời hiển-tượng Hà-đồ. Hà-đồ bèn là vi-diệu cuả lư. Lư tĩnh nên năng ứng mà không thấy được. Đất tĩnh nên năng ứng mà sinh những ǵ có thể thấy được. Nên lấy Hà-đồ làm điạ-bàn. Lư vốn tĩnh mà đất cũng tĩnh vậy. Số cuả Hà-đồ: 2, 7 tại nam thuộc hoả, là lễ cuả văn-minh, bản-

tính bốc lên, nên phương nam ấm áp, thiên-cổ bất-dịch. 1, 6 tại bắc thuộc thủy, mà là trầm-tiềm cuả trí, thủy tính chẩy xuống, nên phương bắc rét lạnh, thiên-cổ bất-dịch. 3, 8 tại đông thuộc mộc, là hiếu-sinh cuả đức nhân, mộc năng sinh hoả, nên mặt trời mọc ở phù-tang. 4, 9 tại tại tây thuộc kim, là nghiă cuả quả-đoán, kim năng sinh thủy, nên sông ng̣i phát-nguyên từ Côn-lôn. 5, 10 cư trung-ương thuộc thổ, là thành-thực cuả tín, nên điều hoà hàn-thử cuả bốn muà. Ba điều ấy cũng là thiên-cổ

bất-dịch. Nên bảo là bất-dịch, lư cuả vô-h́nh, quán-xuyến dục-giới, sắc-giới và vô-sắc-giới. Bên trên quản-lư Hà-Hán, tinh-đẩu, ngũ-hành được chúng mà thuận-bố; bên dưới quản-lư thập-điện chư ty, cửu-u được chúng mà có trật-tự. Chính giữa quản-lư sơn-hà đại-điạ vạn-tính ức triệu, phi-tiềm-động-thực, phẩm-loại thế-gian, vô-t́nh cũng như hữu-t́nh. Được chúng mà các đắc kỳ sở. Lư đó lại vượt khỏi dục-giới, sắc-giới và vô-sắc-giới, là vô-cực lư thiên, lư tối-thượng vô-vi chân-linh, con ngựi được nó mà tiêu-diêu chung cổ, vạn-kiếp thường-tồn. Lư không chỗ nào là không có; các đắc kỳ lư, cho nên lư. Lư đó tức duy-hoàng giáng-trung, thượng thiên phú-tính, vô-cực chí chân. Bên trong dục-giới, sắc-giới và vô-sắc-giới, ắt không dời khỏi khí, cũng không nhiễm nơi khí. Bên ngoài dục-giới, sắc-giới và vô-sắc-giới, ắt uỷ khí độc-lập. Từ hội tư khai-thiên đến hai hội tuất, hợi là thời-kỳ trời đất chung cùng.

 

Dục-giới, sắc-giới và vô-sắc-giới hàm-quy vô-hữu. Mà lư ấy phục-sinh thiên-điạ. Nên người Tầu gọi là thượng-đế, người phương tây tộn-kính gọi là thiên-vương, hợp nhau mà gọi là đạo, hay thiên-điạ tam-giới thập-phương, vạn-linh chân-tể. Muôn vật thống-thể nơi một chân-tể, vạn-vật mỗi mỗi đều có một chân-tể. Tam-giáo truyền-tâm, tức truyền-tâm cuả chân-tể vậy. Chân-tể vạn-kiếp thường-tồn, tâm ấy cũng vạn-kiếp thường-tồn. Tu tâm ấy ắt cùng tuổi thọ với chân-tể, u-mê tâm ấy, ắt nhập ṿng sinh-tử luân-hồi. Đó là Dịch cuả Dịch, cho nên dễ biết, mà nói ra khó, mà là uyên-nguyên cuả Đạo vậy. Nên Khổng-tử nói: "Dịch vô-tư dă, vô-vi dă, tịch-nhiên bất-động, cảm nhi toại thông thiên-hạ chi cố = Đạo Dịch không nghĩ-ngợi ǵ cả, không làm ǵ cả, yên-lặng chẳng động, cảm mà biết ngay nguyên-cớ cuả thiên-hạ" (Thượng-Hệ, X/4). Lại nói: "Phạm-vi thiên-điạ chi hóa nhi bất quá, khúc-thành vạn-vật nhi bất di, thông hồ thiên-địa nhi tri. Cố thần vô phương nhi Dịch vô-thể. = Làm khuôn mẫu cho biến-hoá trong trời đất mà chẳng quá trớn, uốn nắn nên muôn vật mà chẳng sót, thông suốt đạo ngày đêm mà am hiểu, cho nên thần không có phương-sở mà Đạo Dịch th́ không có h́nh-thể" (Thượng-Hệ, IV/4). Phật nói: "Quang-minh tịch-chiếu, vô sở bất-thông, bất-động đạo-trường, biến chu sa-giới". Lăo-tử nói:"Đại-đạo vô-h́nh, sinh-dục thiên-điạ. Đại-đạo vô-t́nh, động hành nhật-nguyệt. Đại-đạo vô-danh, trưởng-dưỡng vạn-vật". Lăo-tử cũng nói: "Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh. Vô-danh thiên-điạ chi thủy, hữu danh vạn-vật chi mẫu. = Đạo có thể nói được không phải là đạo thường; tên có thể gọi được không phải là tên thường. 'Không' là gọi cái có trước trời đất; 'có' là gọi mẹ cuả muôn loài".

 

Các điều này là thâm-tri Dịch cuả bất-dịch, thiện-dụng Dịch cuả bất-dịch, thiên ngôn Dịch cuả bất-dịch. Trời 1 sinh thủy, điạ 6 thành nó. Thủy ở trên trời làm mây, làm mù, hữu-khí vô-chất, gọi là sinh cuả tiên-thiên. Tại đất ắt khí biến thành chất, gọi là thành cuả hậu-thiên. Điạ 2 sinh hoả, thiên 7 thành nó. Hoả ở trong đất, ẩn nơi kim-thạch, hữu khí vô-h́nh, gọi là sinh cuả tiên-thiên. Kim-thạch bị trời kích-thích, mà thành lửa chói sáng, biến khí ra h́nh; ấy là thành cuả hậu-thiên. Thiên 3 sinh mộc, điạ 8 thành nó. Mộc gốc thực-vật, rễ sinh nơi đất, mà nói rằng trời 3 sinh mộc, mộc ắt được khí trời đến, điạ bắt đầu sinh nó. Đất 4 sinh kim, trời 9 thành nó, quặng cuả ngũ kim, tất từ đất ra, thấy trời trải qua hoả, mới có thể dùng được. Trời 5 sinh thổ, đất 10 thành nó, hư-không là bụi, chạm đất tích lại thành khối. Đồ xuất-hiện nơi Hoàng-hà, đó là trời sinh vật, thành vật, để đảm đương lẽ bất-dịch, để chỉ bảo cho con người. Lạc-thư là biến-dịch, một khí lưu-hành, không một ngày nào là không biến, không lúc nào bất-dịch. Từ 1 đến 9, Phục-Lâm-Thái-Tráng-Quyết-Kiền. Do đông nhập hạ, đó là dương-nghi cuả Thái-cực vậy. Từ 9 đến 1, Cấu-Độn-Bĩ-Quan-Bác-Khôn. Do hạ nhập đông, đó là âm-nghi cuả Thái-cực vậy. Dương-nghi bao-hàm Nguyên 8, Hanh 7, nhị thiếu cuả xuân-hạ vậy. Âm-nghi bao-hàm Lợi 9, Trinh 6, nhị lăo cuả thu-đông vậy, ấy là hai nghi sinh tứ-tượng vậy. Xuân có cấn cuả lập-xuân, chấn cuả xuân-phân, hạ có tốn cuả lập-hạ, ly cuả hạ-chí, đó là bốn quẻ cuả dương-nghi vậy. Thu có Khôn cuả lập-thu, đoài cuả thu-phân, kiền cuả lập-đông, khảm cuả đông-chí, đó là âm-nghi cuả bốn quẻ vậy. Bốn quẻ cuả dương-nghi là: 8 bạch (trắng), 3 bích (biếc), 4 lục (xanh lá cây), 9 tử (tím). Bốn quẻ cuả âm-nghiă là: 2 hắc (đen), 9 xích (đỏ), 6 bạch (trắng), 1 bạch (trắng). 5 hoàng (vàng) là bản-thể cuả nguyên-khí, cư trung cung mà ứng phó với tám phương. Là cực-nữu cuả cửu-cung, là chủ-tể cuả bát-quái. Một quẻ thống-lĩnh ba khí, mỗi khí biến ra 24. Một khí thống-lĩnh ba hậu, hậu biến ra 72. Biến cuả hậu 5 ngày có lẻ. Hợp lại được 365 ¼ ngày. Từ Nguyên sang Trinh, khí cuả một tuế giáp ṿng vậy. Trừ phần lẻ không dùng, được 360 ngày, làm 360 hào, hợp thành 60 quẻ. Gia dĩ nguyên-khí cuả bản-thể là Kiền-Khôn, dụng là Khảm-Ly, mà 64 quẻ, 384 hào, mà khí cuả một tuế giáp ṿng vậy. Ấy là Dịch cuả biến-dịch, Thái-cực lư-thiên vậy. Hà-đồ hữu tượng là điạ-bàn, Hà-đồ vô-h́nh là thiên-lư. Vô-cực lư-thiên bao bên ngoài thái-cực khí-thiên, quán bên trong thái-cực khí-thiên. Bao ngoài thái-cực khí-thiên là thiên ngoại thiên, bất-động thiên, đại-la-thiên, tam-thập-tam thiên. Quán bên trong thái-cực khí-thiên là thiên-trung-thiên, thiên-điạ-tâm, thái-cực-thiên. Quán bên trong đại-điạ, bao bên ngoài thiên-điạ. Đến tinh-đẩu-thiên là chấm dứt. Nhị-thập-bát Tú kinh tinh, tùy trời mà chuyển, một ngày một ṿng, thường quá 10, 30 ngày có lẻ thường quá một cung, 365 ngày có lẻ. Từ khởi nơi không-phận Hư-Nguy, nhưng quay trở về. Không-phận Hư-Nguy là một ṿng trời. Kiền là trời, thuần dương mà kiện. Ly là mặt trời, 2 dương 1 âm, nên thứ-kiện. Một ngày một ṿng, mỗi ngày không đủ 10. Tích 365 ¼ ngày, phục-hội với trời nơi không-phận nguyên-khởi, gọi là 1 tuế. Mỗi tuế 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, cộng 360 ngày làm một tuế. Mà trời với mặt trời hội, trên thực-tế là 365 ¼ ngày. Dư 5 ngày 3 giờ, gọi là khí-doanh. Cho nên năm nay muốn biết xuân năm sau, chỉ cần cộng thêm 5 ngày 3 giờ. Khí thái-cực, nửa âm nửa dương. Âm-khí là rét, dương-khí là ấm. Dương tự nửa đêm đông-chí, giờ tư thăng lên, mỗi tháng qua 1 cung, trải qua tư-sửu-dần-măo-th́n-tỵ đến hạ-chí, dương toàn trên trời, âm toàn tại tuyền, nên nóng ở trên mặt đất, lạnh bên dưới mặt đất. Sau hạ-chí, âm tiến dương thoái, trải qua ngọ-mùi-thân-dậu-tuất-hợi đến đông-chí, ắt dương toàn tại tuyền, âm toàn tại thiên, nên nóng dưới mặt đất, lạnh trên mặt đất. Dương-khí thượng thăng, ắt bách cốc thảo-mộc xuân phát, hạ trưởng; dương chủ sinh vậy. Âm-khí hạ-giáng, ắt bách cốc thảo-mộc vàng uá rồi rụng xuống, thu thâu, đông tàng, âm chủ sát vậy. Dương-khí thượng thăng, động-vật cảm mà hoá, ắt cá côn biến thành đại-bàng; sau đó ắt sấm phát thanh, chuột đồng hoá ra chim cút, do tiềm (cá) nhập phi (chim), vào nước mà hoá ra con hầu nhỏ, do phi (chim) nhập tiềm (cá). Phi không tự là phi, khí thăng ắt cảm mà phi. Tiềm không tự tiềm, khí giáng ắt cảm mà tiềm. Do đó mà xem, bốn muà không tự lạnh, nóng, ấm, mát. Phát-trưởng, thâu-tàng vậy, khí khiến nên làm ra thế. Khí thái-cục thông-suốt tinh-đẩu bên trên, quán  đại-điạ bên dưới, tuy lẽ thường mà không gián-đoạn. Thực vạn phần bất-đồng. Từ 1 đến 9, 1800 có lẻ. 900 đằng trước, từ lạnh đến ấm, 900 đằng sau, từ ấm đến nóng.  Từ 9 đến 1, 1800 có lẻ. 900 đằng trước, từ nóng đến mát; 900 đằng sau từ mát đến rét, rất rét. Từ Hư đến Đẩu 450. Đến Cơ ắt rét dần dần thành ấm. Từ Cơ đến Pḥng, ắt ở trong khí ấm. Từ Pḥng đến Giác, ắt ấm  dần dần trở thành nóng. Từ Chẩn đến Tinh là bắt đầu nóng. Từ Tinh đến Tỉnh là nóng chấm dứt. Từ Sâm đến Măo là bắt đầu mát. Từ Măo đến Khuê là hết mát. Đến Bích ắt mát trở thành rét. Từ một khí mà phân thành hai nghi, âm-dương phẫu-phán. Lưỡng-nghi phân thành tứ-thời, do tứ-thời phân thành bát-tiết, do bát-tiết phân thành 24 tiết-khí, 72 hậu, 365 ¼ ngày. Khí-vị các hậu bất-đồng, độ mỗi tú-tính mỗi khác. Nhân-vật bèn bẩm theo đó mà sinh, giờ sinh bất-đồng, tú-độ rút cuộc khác. Nên vật loại có sang hèn, đại-tiểu, nhân sinh có thọ-yểu, cùng-thông, tri-ngu, hiền ác, đều do khí khiến ra vậy.

 

Tính bản-nhiên, phú lúc sơ-sinh, đến từ lư-thiên, lư vốn nhất trí, nên tu tính ấy, thánh-phàm đồng-quy. Tính khí-chất bẩm sau lúc sinh, đến từ khí-thiên, khí có phù-trầm, thăng giáng, sao có cát hung, thiện-ác, mà người có trí-ngu, hiền dữ, thọ-yểu, cùng thông, cũng nhân vạn-hữu khác nhau. Tụ-hội nơi khí là phàm-phu tục-tử. Đạt nơi lư là đích-mạch cuả thánh hiền. Ấy là đạo cuả thánh-nhân, sở dĩ không tụ-hội nơi ngũ-hành mà siêu-xuất nơi tam-giới vậy. Lư thiên là ǵ? Là vô-cực vậy. Khí-thiên là

ǵ? Là thái-cực vậy. Thuyết vô-cực xuất từ sách cuả Lăo-tử vá sách của Khổng-Mạnh, hiếm người khái-kiến. Đến đời Tống, Chu Liêm-khê làm ra Thái-cực Đồ-thuyết, bắt đầu phát-biểu. Sau truyền được mấy đời, ít người hội-ư được, đa-số lấy thái-cực làm lư, đặt vô-cực vào chỗ vô-quan khẩn-yếu, há biết là thái-cực đă rơi vào âm-dương, không phải khí, th́ là ǵ? Nếu cho làm tính, không phải tính cuả khí-chất th́ là ǵ?

 

Công-bố tính cuả cây kỷ, cây liễu, thuyết cuả nước chẩy xiết, luận tính ác cuả Tuân-tử đủ để dộng nhân thanh-văn, mà thuyết tính thiện cuả Mạnh-tử phản-khởi nghi-ngược cuả kẻ sĩ, bởi chưng nhân lư vi, khí hiển. Vi ắt khó thấy, hiển ắt dễ biết. Sai một ly đi một vực trời. Do đó, đạo sở dĩ thất-truyền vậy. Lư-thiên, khí-thiên tuy đều vô-h́nh, nhưng mà khí thiên lưu-hành, rét bức đắp đổi, động mà có h́nh-tích, có thể thấy được; lư thiên bất-động, tĩnh mà vô-tượng khó ḍm. Đế Thuấn truyền ngôi cho

Vua Vơ, nhân-tâm, đạo-tâm biện nhiệm-nguy-vi. Nhân-tâm tức tính cuả khí-chất, thấy được đầu mối, đạo-tâm tức kiến-đoan cuả tính bản nhiên. Tính bản nhiên bẩm ra lúc sơ-sinh, xuất từ lư-thiên, cái mà Chu-tử gọi là 'vô-cực chi chân, cùng với tinh-hoa cuả nhị-ngũ, diệu-hợp mà ngưng vậy'. Trước khi sinh không nên cho là khí cuả miệng mũi tự sinh, không mượn ngũ-cốc ăn vào mà tự trưởng. Chân-lư vô-cực, kỳ-diệu cuả tĩnh-dụng. Đợi đến sau lúc sinh ra, khí thái-cực nhập vào mũi miệng, từ đó hô-hấp văng lai, là thân-thể sung-túc, là chỗ tiếp-giáp cuả phân-khí, chính đương mỗ tú, mỗ độ, ắt người đó được khí mỗi tú, mỗi độ mà sinh. Nếu sao tốt, độ chính, năm với tháng ngày tương-phù, ắt người ấy tính-t́nh thiện-lương, phú-quư công-danh, chung thân vô-tổn. Nếu tinh cát, độ chính, năm với tháng ngày có phù, có thương, ắt người ấy tính-t́nh tuy thiện-lương, mà phù thương hỗn-tạp, ắt chiết-chuẩn thừa-trừ, thửa phúc bất-toàn, hoặc trải qua khó khăn, chờ thời hiển-vinh. Nếu tinh cát, độ chính, năm với tháng ngày có thương, vô-phù, đại-vận lưu-niên lại nhiều sứt mẻ, ắt suốt đời không gặp vận, có chí khó thành, trung-thần, nghiă-sĩ, từ đó mà ra, khí-số khiến ra như thế. Ngược lại, nếu tinh hung, độ lệch, năm với tháng ngày tương-phù, ắt giầu có nhưng bất-nhân, sang mà bất-nghiă, gian-thần, tặc-tử, ở đó mà ra, cũng do khí-số khiến ra như thế, tính và mệnh khiến ra như thế. Mệnh ấy không phải là mệnh trời phú, mà là mệnh cuả khí-số.  Tính ấy không phải là tính bản nhiên, mà là tính cuả khí-chất vậy. Mệnh ấy, tính ấy phát-hiện nhân là duy-nguy cuả nhân-tâm, mà không là duy-vi cuả đạo-tâm. Nhân-tâm sao lại nguy? Nhân thửa nguồn xuất từ khí-thiên, động mà không tĩnh, ham ăn, hiếu-sắc, giao vật mà dẫn, tính-t́nh phóng-túng phục-vụ chí, chí-hướng giấu diếm bản lai. Thửa quy-lưu nơi ô-trọc. Dương cuả khí-thiên, tại con người là hồn. Tính ắt to lớn mà loạn-tư, ngủ say ắt nằm mơ và du-đăng. Âm cuả khí-thiên, tại con người là phách, động ắt muốn hoả phồn chước, tĩnh ắt ma-quái hôn-trầm. Trí-sử bốn cửa không đóng, cửu-khiếu chẩy xuống, lục-dục rong ruổi, thất-t́nh phân-nhiễu. Ô hô! Một điểm đạo-tâm, kỷ vi linh-minh, bao nhiêu không bị che lấp, làm thửa ràng buộc, lưu-lăng sinh-tử, thường ch́m bể khổ mà thôi.

 

Đạo-tâm xuất từ lư-thiên, bất nhập âm-dương, không rơi vào ngũ-hành, nên thuần mà không tạp, tĩnh mà năng sáng, thần để trí-diệu. Đạo-tâm cuả con người, xuất từ khí-biểu, quán bên trong khí, gọi là nguyên-thần. Thần ấy không lúc nào mà không tương-thông với lư-thiên. Chỉ có thần mới năng thông, nhưng thông mà không hay biết, không được đại-thông, chung-thông, là v́ lụy vào khí. Nhân-tâm cuả con người, trú nơi thân-thể, gọi là thực-thần. Thần ấy không lúc nào là không tương-thông với lư-thiên. Duy khí năng thông, cũng thông mà không biết là đang thông, không được đại-thông, trung-thông là v́ lụy vào khí. Kẻ sĩ có chí, nếu không được thánh-nhân đích-truyền tâm-pháp, nên năng làm được điều thiện, khử điều ác, tích đức luỹ công, tiêu-trừ tội lỗi u-ám, rồi sau mới khử dục điều-tức, công thuần lâu bền, khí sở bẩm đến từ lư-thiên, tương-hợp với khí-thiên. Phàm sự trong khí-thiên có cảm-thông, thoát nơi tứ-đại, quay trở về thái-hư, ắt là thần trong khí có thể đồng thọ với trời đất, cùng tuổi với nhật-nguyệt. Nếu ứng-vận giáng-sinh có thể làm công-hầu, tướng tướng, thông-minh trí-tuệ, xuất loại siêu-quần. Nếu hạnh-ngộ cơ duyên, ắt nghe đại-đạo, biết nguyên-khí đạo-tâm ở đâu, cũng nên tích đức lũy công, kiêng mặn, ăn chay, tức niệm ngưng thần, dài lâu khí-hoá, lư thuần, lư sở thụ luôn luôn tương-hợp với lư thiên. Phàm sự lư-thiên, có cảm tất thông, thoát khỏi tứ-đại, quay trở về vô-nhiệm vào luân-tang cải biến, trời đất chung thủy, không liên-quan ǵ với cực, pháp-thân của vô-cực. Vượt khỏi tam-giới, không tụ nơi ngũ-hành, hoạch đại-an-lạc, vĩnh-viễn không thoái-chuyển, nên năng bằng vai vế với Tiên-Phật. Phật đồng đội-ngũ với thánh-hiền, chủ-tŕ tạo-hoá, thọ bằng vô-cực. Nại cớ lư vi đạo đại, không ai là không truyền. Lại kiêm thiên-luật sâm-nghiêm, vơng tiết tất khiển. Sở dĩ chính- pháp khó vậy. Tam-giáo truyền-tâm, có phân ra chính-pháp, tướng-pháp và mạt-pháp, mà tạo-chỉ quả-báo, có phân-biệt dục-giới, sắc-giới và vô-sắc-giới. Dịch có giao-dịch, biến-dịch và bất-dịch khác nhau, học có lư-học, số-học và tượng-học khác nhau, đạo có hạ-thừa, trung-thừa và thượng-thừa, thuốc có thượng-phẩm, trung-phẩm, hạ-phẩm, nhân-quả có ngọc-thanh, thượng-thanh, thái-thanh, thanh-tịnh pháp-thân, viên-măn báo-thân, thiên bách ức hoá-thân, đại-nhân, thánh-nhân, thần-nhân, các xưng-hiệu kể sao cho siết. Nghiên-cứu vượt khỏi giao-dịch, biến-dịch, bất-dịch đạt được nguồn của giao-dịch, biến-dịch, bất-dịch, ắt thể-dụng hợp nhất, gốc ngọn kiêm gồm, hữu vô bất-nhị, hiển-vi vô-gián, tĩnh-thánh động-vương, chấp hai đầu, dùng chính giữa, đó gọi là chính-pháp. Nếu đạt được giao-dịch, biến-dịch mà không đạt đuợc bất-dịch, ắt có dụng mà không có thể, biết hữu mà không biết vô, biết hiển mà không biết vi, có động-vương mà không có tĩnh-thánh, tụ họp nơi dục, sắc-giới mà không đạt ngoài vô-sắc-giới, gọi là tướng-pháp. Thứ đến là đạt giao-dịch mà không đạt được biến-dịch, bất-dịch, ắt tụ nơi dục-giới mà chuyển-hồi sinh-tử, cái đó gọi là mạt-pháp. Nho có tồn-tâm, dưỡng-tính, giữ đạo nhất-quán; Thích có minh-tâm kiến-tính, đạo quy-nhất; Đạo có tu-tâm luyện-tính, đạo thủ nhất thân hành thực-tiễn. Nho có thể thành Thánh, Thích có thể thành Phật, Đạo có thể thành Tiên, gọi là chính-pháp. Ngàn năm về sau, chính-pháp thất truyền, Nho ắt chấp-nê vào huấn-hỗ, mất ư mà truyền lời. Thích, Đạo ắt tụ-họp nơi đốt nhang, tụng kinh, tụng lời mà quên ư-vị. Chấp nơi hiển mà không đạt nơi vi, tụ nơi người mà không đạt nơi trời, đủ làm thiện-nhân mà không đủ làm thánh-nhân, thần-nhân, cái đó gọi là tướng-pháp. Ngàn năm sau tướng-pháp thức-vi, nho-giả trầm-luân nơi từ-thao, lấy tứ-thư, ngũ-kinh làm lợi-lộc giai-đệ, tăng-đạo truyền làm y-thực, mượn tiên-kinh, phật-điển làm dụng-cụ khất-thực, đến đó, ắt tam-thánh di-ngôn rơi vào t́nh-trạng nửa c̣n nửa mất, tức thiện-nhân không dễ thấy, cái đó gọi là mạt-pháp. Lúc Như-lai đang tịch-diệt, tăng-ngôn ngộ đạo chính-pháp một ngàn năm, tướng-pháp một ngàn năm, mạt-pháp một ngàn năm. Sau mạt-pháp, chính-pháp trở lại như chính-tông thất-thụ, ắt dị-đoan phản-khởi, bọn cuờng-vọng tập-hợp lại, luờng gạt bằng lời giả-dối, mê-hoặc bọn ngu-mông, giành kỳ-công, lấy cơ-tâm, cơ-sự, cơ-khí làm đạo, không phải là tiểu-bổ cho ẩm-thực hằng ngày, và binh-lực phú-cường, nhưng mà dụng tâm thái quá, ắt kiêu-bạc phách tán, xem xét thái quá, ắt dâm-dật sinh sôi. Nên bọn Lỗ-Ban, Mặc-Địch kỹ xảo không phải là bất-thần, rốt cuộc không nhập vào được vào Đạo Khổng-Mạnh, nên phải ở bên ngoài. Đời mạt-pháp cũng có nội-tu mê-hoặc ḷng người. Đạo không đạt nơi tam-dịch, làm u-mê đại-nguyên của thiên-nhân

tính-mệnh, lời không c̣n căn-cứ vào tam-thánh, làm rối-loạn đại-bản của cương-thường, danh-giáo. Men theo vô-tri của phàm-dung, phóng-túng nơi vô-kê của cuồng-ngôn, làm loạn bằng quỷ-thần, dụ-dỗ bằng hoạ-phúc. Đại-khái lấy khí thổ nạp vào miệng mũi làm suất-tính, lấy nhân-tâm tạo-tượng làm sở-đắc, không tuân giới-luật, không phân-biệt trong ngoài, không phân thiện ác, ắt nong mạ cho chóng lớn; cố tạo độc-chỉ, làm hại bằng việc nhỏ nhoi, truyền đồ dẫn chúng, lưu độc miên man, thậm chí nhân chúng thế lớn, ắt mong nuôi vơng-khí phi-phận, không nghĩ đến trăm vạn Hoàng-cân thời Hán-mạt, chung quy phá-diệt. Giao-thời Nguyên-Minh, ắt có bọn Hàn-lâm Nhi, Lưu Phúc-Thông, số người đến vài chục vạn, cuối cùng cũng thân mất nhà tan, gặp kết-quả của yêu-nhân bạn-nghịch. Ô hô! Bọn chúng hại người, tàn-nhẫn hơn hổ-lang, tàn-hại hơn băo lụt. Hổ-lang, băo lụt hại thân-thể con người, mà dị-đoan tà-thuyết, thoạt đầu ắt truyền-thụ tiểu-đạo, hại nhân tâm-thuật, kế đó ắt

loạn nhân luân-thường, bại nhân danh-tiết, rốt cuộc ắt mong muốn phi-phận, hại nước tan nhà. Thuật mê-hoặc người khác, đại-khái để dẫn linh-tính thăng-thiên, thấy toàn tiên-phật, trụ vào cung-điện. Tại bát nháo chi thiên, quần áo, mũ măo lệch lạc, há chẳng nghe Trung-Dung (Chương XXXIII) nói: "Phải dùng đến thanh và sắc để giáo-hoá người dân, th́ đó là mạt-kế vậy. (Đây thuộc về Kinh Thi thơ Quốc-phong 'Vệ Thạc-nhân. Trịnh Phong' trong Kinh Thi". Kinh Thi nói: "Đức nhẹ như lông, lông c̣n thấy lớn nhỏ, chỉ có đức hoá-sinh của trời là không thấy hơi hướng vậy. Ấy mới thật là cao-siêu, mầu-nhiệm vậy" (290, tr.126). Kinh Kim-cương nói: " Nếu lấy sắc mà quan-sát ta, lấy tâm thành mà cầu ta, là người thi-hành tà-đạo, không thể thấy được Như-Lai". Lại nói: "Phàm tướng sở-hữu đều là hư-vơng". Lăo-tử nói: "Đại-đạo vô-h́nh". Thánh-nhân tam-giáo đều vị thường nói đến gác lầu không trung, sự vinh-hoa, nỗi tĩnh-lư. Lời ấy không phải là yêu-quái th́ là vơng (nói láo). Không những chỉ ngu-phu, ngu-phụ, mà văn-nhân, học-sĩ cũng từng nói thế. Đáng buồn thay! Tái-giả đồng-tâm con gái đẹp, trí dời hồn trên gối, bạn tốt thiên-lư. Do trong lối mộng, nghĩ đến con trai mộng-giao, nghĩ đến thiếu-nữ mộng dựng, nên tư-niệm quá trớn, quỷ-thần thông đấy; vơng tưởng thái quá, yêu hồ ám-ảnh nhập vào cửa ấy, đến nỗi vơng-tưởng quá độ, cũng không thể có đuợc sở-kiến. Phương đó tự hạnh đắc đạo mà không biết rằng ḿnh đă nhập vào sào-huyệt của yêu-ma quỷ-hồ, mà không tự-giác.

 

Thuật tiểu-đạo cũng có luyện được thức-thần, du-lịch tứ-xuất, biết hoạ-ohúc của con người, như Ngô-Chân thiên nói: "Phép bế-mục giám h́nh tư-thần, sơ-học khó có ngay đường bằng phẳng, hoặc giả có khi chu-du vạn-quốc, làm sao nhà phá lại di-cư". 'Nhà phá lại di-cư' nghĩa là người học được điều ấy thân tàn ma dại mà nhập luân-hồi. Như một niệm có sai lạc, chung quy trụy-lạc. Lại nói: "Đầu thai đoạt xá cùng di-cư, tên cựu-trú là tứ-quả-đồ, sao chẳng hồi-đầu tu đại-dược, chân-kim khởi ốc lúc nào khổ?". Điều ấy nói về bàng-môn tiểu-đạo, chẳng ǵ là không hiệu-nghiệm. nhưng mà nhập-thủ sai-lạc, khó thành chính-quả. Nên Khổng-tử nói: "Tuy tiểu-đạo cũng có lúc khả-quan vậy; rất xa mà sợ-sệt câu-nệ, là điều người quân-tử không làm". Đạo của Dương-Chu, Mặc-Địch hoành-hành thiên-hạ, thời đó không có ǵ là khả-quan, nhưng mà trở-ngại tơ hào, ngang trái vạn dặm. Chính lấy đạo của Mạnh-tử, thiên-thu vạn-cổ về sau, đều biết rằng đó là tà-thuyết dị-đoan. Chung thân cay đắng, cũng như hèn-hạ vô-văn, càng ngày càng trầm-trọng vậy. Bởi chưng trời đất không hai lư, thánh-nhân không hai ḷng. Bên ngoài thức đạo, ắt thuộc bàng-môn, lao đầu vào nhầm-lẫn, phi đồ vô-ích, làm hại không ít. Dương-Chu, Mặc-Địch đều thiên-chất xuất-chúng, suốt đời tinh-cần, nhân lư-khí quan-đầu, biện-luận chưa trong sáng, thiên nhân cùng diệu, hiểu biết chưa trọn vẹn, đại-bản đă sai, phần c̣n lại không đáng xét. C̣n như Nhiễm-Hữu, Quư-Lộ làm quan nơi cửa quyền, Quản-Trọng, Án-tử, đường đường tá-bá, sự-nghiệp Nhiễm-Hữu so với Quản-Án, sao ngừng ở thiên-uyên? Mà Nhiễm-Hữu, Quư-Lộ thớt đậu thiên-thu, Quản-Trọng, Án-tử, nan miễn khí tiểu v́ sao? Giữa hai cái lớn, chỉ có đạo là độc-tôn. Bá-nghiệp tiểu-thành cách xa vạn vạn vậy.


*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 180

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com