www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 23

 

DỊCH BẢN-ĐỒ KHẢO

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 177) 
  

 

Lục-Thập-Tứ Quái-Biến Đồ

 (249, Chu-Dịch Khải-mông 周易啟蒙, tr. 427-440)
  

NGOẠI-THIÊN HẠ

 

Độ Số I

 H́nh 23.56 Chu-Thiên Lịch-Tượng Khí-Tiết Đồ
 

Đại-tượng-truyện quẻ Cách nói: "Trong đầm có lửa, tượng quẻ Cách, người quân-tử coi đó sửa sang lịch-số mà làm sáng tỏ thời-thế". Bốn muà biến-hoá là lớn lao cuả quẻ Cách, trị lịch-số là suy di-dịch cuả nhật, nguyệt, tinh, thần để hiểu rơ trật-tự bốn muà, mà dùng đậu 'Trong đầm có lửa' là ư-nghiă ǵ? Thuyết-quái-truyện bảo: ly là hoả, là mặt trời; đoài là đầm, là thủy, mà trong Kinh-thế Thư, Thiệu-tử lấy đoài làm mặt trăng, ly làm sao. Sao là dư-hưởng cuả mặt trời. Do đó mà nói, ắt hai quẻ ly-đoài là tượng cuả nhật-nguyệt-tinh, nên lời Thoán quẻ Cách nói: "Nuớc, lửa cùng làm khô-tắt nhau". Thủy là mặt trăng, hoả là mặt trời, nhật-nguyệt cùng làm thay đổi nhau mà ánh sáng sinh ra vậy (Hạ-Hệ V/2). Thủy là rét, hoả là bức, bức-rét cùng làm thay đổi nhau, mà năm tháng thành ra vậy (Hạ-HệV/2). Ôi! Huyền-tượng sáng tỏ, không ǵ bằng nhật-nguyệt, trời rủ tượng, thánh-nhân lấy đó làm biểu-tượng. Quan-sát vận-hành cuả nhật-nguyệt quanh năm, gặp nhau nơi 12 cung Hoàng-đạo. Lịch các đời trước canh-cải bất-nhất. Nay căn-cứ vào lịch 'Thụ-th́': tháng mạnh-xuân, nhật-nguyệt hội nơi Huyền-hiêu, tháng trọng-xuân, gặp nhau nơi Tưu-tư, tháng quư-xuân, gặp nhau nơi Giáng-lâu. Mạnh-hạ gặp nhau nơi Đại-lương, trọng-hạ gặp nhau nơi Thực-trầm, quư-hạ gặp nhau nơi Thuần-thủ. Mạnh-thu gặp nhau nơi Thuần-hoả, trọng-thu gặp nhau nơi Thuần-vỹ, quư-thu gặp nhau nơi Thọ-tinh. Mạnh-đông gặp nhau nơi Đại-hoả, trọng-đông gặp nhau nơi Tích-mộc, quư-đông gặp nhau nơi Tinh-kỷ. Vị chi là 12 thiên-điạ-thần. Theo 'Nguyệt-lệnh', tháng mạnh-xuân nhật ở Cung-doanh, đẩu-kiến tại dần, nên dần với hợi hợp, tháng trọng-xuân, nhật tại Giáng-lâu, đẩu-kiến măo, nên măo với tuất hợp, các tháng c̣n lại cứ theo thứ-tụ mà say ra. Nay hành-độ cuả nhật-nguyệt đă có sai-di, kiến-thần không tương-hợp nữa, mà muốn y cổ-hậu-khí tạo luật, hoặc giả có chỗ vi-bội. Chỗ gặp là xá (lunar lodges), có 28 xá: Đông-cung Thương-long có chứa 7 tú Giác, Cang, Đê, Pḥng, Tâm, Vỹ, Cơ; Bắc-cung Huyền-vũ có chứa 7 tú Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích; Tây-cung Bạch-hổ có chứa 7 tú Khuê, Lâu, Vị, Măo, Tất, Chủy, Sâm; sau rốt, Nam-cung Chu-tước có chứa theo chiều kim đồng-hồ 7 tú Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Ấy là nhị-thập-bát Tú. Trải qua   cổ. Trời vốn không có độ, nhân mặt trời vận-hành mới có độ. Trong nhị-thập-bát Tú, tú-độ nhiều ít không đều. Lại nữa, nhật vận-hành có nông sâu. Đông-phương thất tú phàm 750, bắc-phương thất tú phàm 980, tây-phương thất tú phàm 800, nam-phương thất tú phàm 1120. Hợp lại là 3650. Do tŕnh-tự đó mà làm ra bốn muà, chính là bát-tiết, kiến là 12 tháng, phân làm 24 tiết, định làm 72 hậu, kỳ là , mà tṛn tuế. Ôi! Dịch phạm-vi trời đất mà không vượt quá. Dịch có tứ-tượng để ứng với bốn muà; thiếu-dương là muà xuân, thái-dương là muà hạ, thiếu-âm là muà thu, thái-âm là muà đông. Dịch có bát-quái để ứng với bát-tiết; lập-xuân  là cấn, xuân-phân là chấn, lập-hạ là tốn, hạ-chí là ly, lập-thu là khôn, thu-phân là đoài, lập-đông là kiền, đông-chí là khảm. Bát-quái để ứng với bát-tiết. Quẻ có 12 tích để ứng với 12 thần. Phục là tháng một, Lâm là tháng chạp, Thái là tháng giêng, Đại-tráng là tháng hai, Quyết là tháng ba,  Kiền là tháng tư, Cấu là tháng năm, Độn là tháng sáu, Bĩ là tháng bẩy, Quan là tháng tám, Bác là tháng chín, Khôn là tháng mười, đó là 12 tích-quái tức nguyệt-quái. Bát-quái 24 hào để ứng với 24 tiết-khí; tích-quái 72 hào để ứng với 72 hậu; có 28 phản-dịch-quái để ứng với 28 xá; 64 quẻ 384 hào để ứng với chu-thiên 3650. Cho nên, phúc-đoan mới bắt đầu, biểu-chính nơi giữa, quy-dư nơi cuối, hợp khí-sóc hư-doanh, mà nhuận sinh.Thượng-Hệ I/3 nói: "Nhật-nguyệt xoay vần, một lạnh, một nóng". Hồng-Phạm nói: Nhật-nguyệt vận-hành, ắt có đông, có hạ. Đông-chí, nhật hành bắc-lục mà rét; hạ-chí nhật hành nam-lục mà nóng. Xuân hành tây-lục, thu hành đông-lục, mà ngày đêm dài bằng nhau, rét bức cân bằng, cho nên họ Phùng Tương nói: đông-hạ trao cho nhật, xuân-thu trao cho nguyệt, để biện đóng góp cuả bốn muà. Trong phép trao cho nhật, dựng cầu treo 8 thước trên mặt đất, tứ-duy, tứ-trung dẫn 8 cân châu cuả xích-đạo; tấn nhập hoàng-đạo bắc, dời chỗ sang hắc-đạo. Muà xuân, nguyệt hành hoàng-đạo đông, gọi là thanh-đạo; tấn nhập hoàng-đạo tây, gọi là bạch-đạo. Muà đông, nguyệt hành hoàng-đạo bắc, gọi là hắc-đạo, tấn nhập hoàng-đạo nam, gọi là xích-đạo. Muà thu, nguyệt hành hoàng-đạo tây, gọi là bạch-đạo; tấn nhập hoàng-đạo đông gọi là thanh-đạo. Ấy là không được thửa chính; nên nói: xuất dương-đạo ắt hạn-hán, xuất âm-đạo ắt mưa. Nếu vận-hành hoàng-đạo, ắt là chính vậy. Trịnh Khang-Thành nói: ngày xuân-phân tại Lâu, ngày thu-phân tại Giác, mà nguyệt huyền ở Khiên-ngưu, Đông-tỉnh, cũng lấy quỹ-cảnh, biết khí-chí bất-thông. Quái-nghiệm nói: Ôi! Bát-quái khí-nghiệm, thường không tại rằm để nhập nguyệt mùng 8 thượng-huyền, không tận mùng 8 hạ-huyền, hậu nơi quái-khí, âm–khí được chính mà b́nh. Lấy đó mà nói, ắt trí nguyệt cảnh, dũng dùng nhật độ. Nếu như xuân-phân nhật tại Lâu, ắt nguyệt thượng huyền ở Đông-tỉnh, hạ-huyền ở Khiên-ngưu. Thu-phân, nhật tại Giác, thượng-huyền ở Khiên-ngưu, hạ-huyền ở Đông-tỉnh. Bởi chưng, xuân-phân Lâu tú lặn ở dậu, thu-phân Giác tú lặn ở dậu, để suy ra, mà nguyệt-lệnh trung-tinh có thể biết đuợc vậy. Nay xuân-phân nhật tại Bích, thu-phân nhật tại Chẩn, ắt nguyệt-huyền ở trong khoảng các tú Sâm, Tỉnh, Cơ, Đẩu, là bất đồng, do tuế-sai vậy. Án: Theo lịch Thụ-th́: đông-chí, nhật tại Cơ 80, xuất th́n sơ-nhất khắc, nhập thân chính tam khắc. Tiểu-hàn, nhật tại Đẩu 140, xuất th́n sơ-sơ, nhập thân chính tứ. Đại-hàn, nhật tại Nữ 10, xuất măo chính tứ, nhập dậu sơ-sơ.  Lập-xuân, nhật tại Hư 50, xuất măo chính tam, nhập dậu sơ-nhất. Vũ-thủy, nhật tại Nguy 100, xuất măo chính-nhị, nhập dậu sơ-nhị. Kinh-trập, nhật tại Thất 110, xuất măo chính nhất, nhập dậu sơ-tam. Xuân-phân, nhật tại Bích 80, xuất măo sơ tứ, nhập dậu chính-sơ. Thanh-minh, nhật tại Khuê 140, xuất măo sơ tam, nhập dậu chính-nhất. Cốc-vũ, nhật tại Lâu 100, xuất măo sơ nhị, nhập dậu chính-nhị. Lập-hạ nhật tại Vị 120, xuất măo sơ nhất, nhập dậu chính-tứ. Tiểu-măn, nhật tại Tất 10, xuất dần chính-tứ, nhập tuất sơ-sơ. Mang-chủng, nhật tại Tất 150, xuất dần chính-tam, nhập tuất sơ-sơ. Hạ-chí, nhật tại Tỉnh 30, xuất dần chính-tam, nhập tuất sơ-nhất. Tiểu-thử, nhật tại Tỉnh 180, xuất dần chính-tứ, nhập tuất sơ-sơ. Đại-thử, nhật tại Liễu 10, xuất măo sơ-sơ, nhập dậu chính-tứ. Lập-thu, nhật tại Tinh 10, xuất măo sơ-nhất, nhập dậu chính-tam. Xử-thử, nhật tại Trương 90, xuất măo sơ-nhị, nhập dậu chính-nhị. Bạch-lộ, nhật tại Dực 70, xuất măo sơ-tam, nhập dậu chính-nhất. Thu-phân, nhật tại Chẩn 10, xuất măo sơ-tứ, nhập dậu chính-sơ. Hàn-lộ, nhật tại Chẩn 170, xuất măo chính-nhất, nhập dậu sơ-tam. Sương-giáng, nhật tại Cang 20, xuất măo chính-nhị, nhập dậu sơ-nhị. Lập-đông, nhật tại Đê 70, xuất măo chính-tam, nhập dậu sơ-nhất. Tiểu-tuyết, nhật tại Tâm 10, xuất th́n sơ-sơ, nhập thân chính-tứ. Đại-tuyết, nhật tại Vỹ 10, xuất th́n sơ-nhất, nhập thân chính-tam. Đó là số khắc cuả ngày đêm dài ngắn vậy. Khí cuả trời đất chu-lưu lục-hợp. Mặt trời đi th́ mặt trăng lại, rét đi th́ bức lại (Hạ-Hệ V/2).

Trong Đồ 23.56, trong hai tượng tṛn vuông dựng lên bát-quái tả-hữu đan vào nhau, một thuận, một nghịch, âm-dương đắp đổi. Một đi, một lại. Dương là ban ngày, là ấm, là nóng, âm là ban đêm, là rét, là lạnh. Ngày đêm cảm lẫn nhau mà muôn vật sinh, nóng lạnh thay thế nhau mà bốn muà thành, cho nên 5 ngày gọi là một hậu, ba hậu gọi là một khí, sáu khí gọi là một muà, bốn muà gọi là một tuế tức là một năm tiết-khí. Một tuế là 24 tiết-khí, nên tám quẻ, 24 hào, mỗi hào trực một khí. Hạ-thể bát-quái là trinh, thượng-thể bát-quái là hối, thửa hào sơ với tứ là ứng, nhị với ngũ là ứng, tam với thượng là ứng. Đông-chí khởi đầu nơi hào sơ-cửu quẻ Phục, chấn hạ cấn thượng, một dương động bên dưới trùng-âm, âm thịnh mà dương vi, lấy trước sau mà ước-lượng, 1 dương mà 9 âm, lấy trước sau mỗi mỗi hai khí cùng xem, bắt đầu từ đông-chí ắt kiêm tiểu-tuyết, đại-tuyết, tiểu-hàn, đại-hàn cùng là bản-vị, phàm 5 khí, cộng là 10 hào ước-lượng. Các khí c̣n lại giống thế. Cho nên đêm dài ngày ngắn, thiên-khí đến đó th́ rất lạnh. Hai hào lục-nhị, lục-tam đều âm, tiểu-hàn, đại-hàn, âm đều cực thịnh, nên xuân-khí ứng. Lập-xuân bắt đầu từ hào sơ-cửu quẻ Bí, ly hạ cấn thượng, lấy trước sau 19 phần mà ước-lượng, 3 dương mà 7 âm, nên khí ấm dần dần. Lục-nhị, cửu-tam, Vũ-thủy, Kinh-trập. Giữa xuân-phân, nơi hào sơ-cửu quẻ Tiết, đoài hạ khảm thượng, âm-dương quân-b́nh, lấy trước sau 10 phần mà ước-lượng, 5 dương mà 5 âm, thiên-khí đến đó hoà ấm, ngày đêm dài bằng nhau. Cửu-nhị, lục-tam, Thanh-minh, Cốc-vũ, tích ấm sinh nóng, mà hạ-khí ứng. Lập-hạ bắt đầu nơi hào sơ-cửu quẻ Tiểu-súc, kiền hạ tốn thượng, lấy trước sau 10 phần mà ước-lượng, 7 dương mà 3 âm, khí-hậu hướng về nóng. Cửu-nhị, cửu-tam, Tiểu-măn, Mang-chủng, thiên-khí thịnh-nhiệt. Hạ-chí đến ở hào sơ-lục quẻ Cấu, tốn hạ kiền thượng, một âm sinh bên dưới trùng-dương, dương nhiều âm ít, lấy trước sau 10 phần mà ước-lượng, 1 âm mà 9 dương, cho nên ngày dài mà đêm ngắn, thiên-khí đến đó mà đại-nhiệt. Cửu-nhị, cửu-tam, hào ứng đều cương, tiiểu-thử, đại-thử, nhiệt thịnh uất-biến mà thu-khí ứng. Lập-thu khởi nơi hào sơ-lục quẻ Khổn,  khảm hạ đoài thượng, lấy trước sau 10 phần mà ước-lượng, 3 âm mà 7 dương, thiên-khí bắt đầu rét. Cửu-nhị, lục-tam, Xử-thử, Bạch-lộ. Thu-phân trúng nơi hào sơ-lục quẻ Lữ, cấn hạ ly thượng, cương nhu trung-phân, lấy trước sau 10 phần mà ước-lượng, 5 âm mà 5 dương, thiên-khí đến đó mà thanh-đống (vừa trong trẻo, vừa đóng băng), ngày đêm dài bằng nhau. Lục-nhị, cửu-tam, Hàn-lộ, Sương-giáng, thanh cực làm rét mà đông-khí ứng. Lập-đông khởi nơi hào sơ-lục quẻ Dự, khôn hạ chấn thượng, lấy trước sau 10 phần mà ước-lượng, 7 âm mà 3 dương, thiên-khí hướng rét. Lục-nhị, lục-tam, Tiểu-Tuyết, Đại-tuyết, âm-khí thịnh cực mà nhất dương phục-sinh bên dưới. Như  hoàn vô đoan, chu nhi phục thủy, do đó bát-quái động chạm nhau, một trinh mà tám hối, 8 x 8 = 64, viên-chuyển chu-lưu mà thiên-độ hoàn-tất vậy. Về Lục-thập-tứ Quái Viên-đồ, xin xem Nội-thiên (H́nh 23.02).

Án: Phục, Cấu, Tiết, Lữ, Bí, Tiểu-súc, Khổn, Dự, Cấu đều là nhất-thế trong Bát-quái cung-biến. Phục, Cấu đảm-trách nhị-chí (đông-chí, hạ-chí), Kiền, Khôn lấy sơ-hào biến vậy. Tiết, Lữ đảm-trách nhị-phân (xuân-phân, thu-phân), Khảm, Ly lấy sơ-hào biến vậy. Bí đảm-trách lập-xuân, Cấn  lấy sơ-hào biến vậy. Tiểu-súc đảm-trách lập-hạ, Tốn lấy sơ-hào biến vậy. Khổn đảm-trách lập-thu, Đoài lấy sơ-hào biến vậy. Dự đảm-trách lập-đông, Chấn lấy sơ-hào biến vậy. Nhị-chí, nhị-phân, lấy Kiền, Khôn, Khảm, Ly biến, là tứ-chính-quái bất-dịch. Tứ-lập lấy Cấn, Tốn, Đoài, Chấn  biến, là tứ-ngung phản-dịch-quái vậy. Lại nữa, trong Dịch, duy chỉ 8 quẻ ấy là được sơ-tứ âm-dương tương-ứng, mà nhi-ngũ, tam-thượng không ứng, là để tuế có 24 tiết-khí, mà bát-tiết chỉ ngừng nơi 8 mà thôi.

 

Độ Số II

 

H́nh 23.57 Điạ-Phương Vạn Lư Phong-Kiến Đồ

 
          Đại-tượng quẻ Tỷ nói: "Trên đất có nước là quẻ Tỷ; Tiên-vương coi đó dựng ra vạn-quốc và gần gũi các nước chư-hầu. Vua là cương-lư thiên-hạ, phong-kiến bang-quốc, để phiên-vệ vương-thất, thân chư-hầu, sở dĩ gần gũi với thiên-hạ vậy". Chế-độ Nhà Hạ, Nhà Thương xa-xưa quá không thể khảo được. Nay nhân chính-thể Nhà Chu, biện-phương chính-vi, văn-chương thể-quốc kinh-dă, mà đồ-thư kinh-kỳ ngàn dặm, hương (= ngày xưa, là một khu có 12500 nhà), toại (= khu đất cách kinh-đô 100 dặm), đô (kinh-đô), bỉ (= ấp ngoài ven biên-thùy), điện (= vùng đất quanh thành nhà vua cách 500 dặm), sảo (vùng quanh thành nhà vua cách 300 dặm), huyện (= đời Chu, vùng đất quanh thành nhà vua cách 1000 dặm), thể-chế có vẽ bản đồ, mà chư-hầu phân-phong đại-tiểu-hầu, điện (= vùng đất quanh thành vua chư-hầu cách 500 dặm), nam (cách xa vương thành 2000 dặm), biện (phong-ấp cuả khanh đại-phu thời cổ), vệ (= mấy quận liền nhau), yếu (= cách xa Kinh-đồ từ 1500 đến 2000 dặm), di (=
rộng 500 dặm), trấn (= một khu đất đủ năm vạn người trở lên), Phiên-cửu-phục (phiên-cửu-phục là một bang-quốc gồm có: Vương-kỳ tức Kinh-đô); cùng là chín phiên-phục: hầu-phục, điện-phục, nam-phục, biện-phục, vệ-phục, man-phục, di-phục, trấn-phục và phiên-phục. Mỗi Phục rộng khoảng 500 dặm vuông), nhân đó có thể gồm coi vậy. Sớ: Đời thái-b́nh đất rộng một vạn dặm, Trung-quốc 7000; đời trung-b́nh, thông Di-Địch 7000, Trung-quốc 5000; đời suy-mạt, thông Di-Địch 5000, Trung-quốc 3000. Nên Mạnh-tử gọi đất hải-nội vuông ngàn dặm có chín, đất công-hầu 100 dặm vuông, Tử, Nam, 50 dặm vuông, phân đất làm ba hạng.  Bởi chưng thể-chế Nhà Hạ, Nhà Ân, Nhà sơ Chu bắt chước theo. Đến Chu-Công làm tướng cho Thành-Vương, khai-thác Đại-cửu-châu, tặng phong đất cho Chư Công có công 500 dặm vuông, đất chư Hầu 400 dặm vuông, đất chư Bá 300 dặm vuông, đất chư Tử 200 dặm vuông, đất chư Nam 100 dặm vuông, c̣n không đáng 100 dặm th́ cho chư-hầu làm phụ-dung. 'Vương-chế' nói: trong châu thiết-lập 210 nước, 5 châu là 1680 nước, ắt đại-hiệu nói ra vậy.

          Theo Chu-Lễ, Đại-tư-đồ lấy phép thổ-khuê đo bề sâu cuả đất, chỉnh nhật-cảnh để t́m trung-tâm cuả đất. Nhật nam, ắt cảnh ngắn nhiều, nóng nhiều, nhật bắc ắt cảnh dài nhiều, lạnh nhiều, nhật đông ắt cảnh lúc chiều và nhiều gió, nhật tây ắt cảnh sáng và nhiều bóng mát. Cảnh ngày chí, 1 thước 5 tấc, gọi là điạ-trung, trời đất hợp, bốn muà giao nhau, gió mưa hội, âm-dương hoà vậy. Song thế, bách vật phụ-an, bèn thiết-lập vương-quốc.

Bên trên bàn về thể-chế đo điạ-trung và thiết-lập vương-quốc. Thổ-khuê làm bằng ngọc, dài 1 thước 5 tấc, đo bề sâu cuả đất, đo chiều dài cuả nhật-cảnh. Khi xưa, Chu-Công đo thổ-trung ở Dương-thành, Dĩnh-xuyên, lập biểu thước, lấy ngày hạ-chí trú-khắc-bán, biểu bắc được cảnh dài 1 thước 5 tấc, bằng với độ dài cuả thổ-khuê, tim được điạ-trung, lấy làm trung-biểu. Trung-biểu, nam 1000 dặm, lại đặt một biểu làm nam-biểu. Hạ-chí trú-lậu-bán, biểu bắc dài 1 thước 4 tấc, thiếu 1 tấc, là cảnh ngắn, thửa đất nhiều. Trung-biểu bắc lại đặt một biểu làm bắc-biểu, hạ-chí trú-khắc-bán, biểu bắc dài 1 thước 6 tấc, quá 1 tấc, là cảnh dài, đất ấy lạnh nhiều. Cách trung-biểu đông  1000 dặm, lại đặt một biểu làm đông-biểu, đất ấy gần mặt trời, hạ-chí trú-lậu-bán, lại được tịch-cảnh, nên nhiều gió. Cách trung-biểu tây 1000 dặm, lại đặt một biểu, đất ấy xa mặt trời, hạ-chí trú-lậu-bán, bắt đầu được triêu-cảnh, nên nhiều bóng mát. Như thế, ắt lạnh, nóng, bóng mát thiên lệch mà bất-hoà, duy trong đất Dương-thành, âm-dương, phong-vũ hoà-hội, là được trung vậy. Nhật-cảnh nơi đất, ngàn dặm mà sai 1 tấc, án 'Tam quang Khảo linh-diệu' bảo rằng: "Tứ-du thăng-giáng trong ṿng ba vạn dặm, cảnh ngày nhật-chí, 1 thước 5 tấc, là điạ-trung. Ắt là phân nửa 3 vạn dặm, mà 1 vạn 5 ngàn dặm bằng với thổ-khuê. Là 1000 dặm mà sai 1 tấc vậy, tính toán cũng cho cùng một kết-quả". 

Sau đây là phép dựng nước chính-vị. Trước tiên, bốn góc trồng trụ để treo dây và xem mặt nước cách xa bao nhiêu Đặt dàn để treo tho thăm ḍ bằng cảnh, biết cảnh lúc mặt trời mọc để suy ra cảnh lúc mặt trời lặn; ban ngày, tham-chước cảnh lúc giữa trưa, ban đêm th́ quan-sát Bắc-cực-tinh, để hiệu-chính sáng sớm và chiều tối. Doanh-quốc 9 dặm vuông, mỗi bề có 3 cửa, Trung-quốc có 9 kinh, 9 vỹ, Hinh-đô có 9 quỹ, bên trái tông-miếu, bên phải xă-tắc, mặt trước là triều-đ́nh, mặt sau là chợ buá. Chính giữa cắm cây nêu 8 thước; 4 góc ngoài, 4 góc trong, treo dây dài 8 dẫn (tức 80 trượng) để phụ vào với trụ, giúp trụ đứng thẳng. Rồi sau mới xem lúc mặt trời mọc, lúc mặt trời lặn, lắng nghe tiếng trụ mà biết đông-tây chính. Đó là phép biện-phương. 1 dặm vuông là tỉnh, 9 tỉnh ắt là đất 9 dặm vuông. Đường nam-bắc là kinh, đường đông-tây là vỹ. 9 kinh, 9 vỹ, ắt là 4 bề, mỗi bề có 3 cửa, vị chi là 12 cửa, ứng với 12 cung hoàng-đạo. Đường kinh-vỹ đều có chín qũy, tức vết bánh xe, cỗ xe

rộng 6 thước, 6 tấc, hai bên nới ra 7 tấc, phàm 8 thước, ấy là vết bánh xe rộng 9 qũy. Tích 72 thước, ắt đường ấy bề ngang là 72 bộ vậy. Cửa có 3 lối đi, con trai đi bên trái, con gái đi bên phải, xe cộ đi lối giữa. Bên trái tông-miếu, bên phải xă-tắc, ở tả hữu trung-môn. Tông-miếu là dương nên ở bên trái, xă-tắc là âm nên ở bên phải. Tam-triều đều là chỗ quân-thần trị-chính, là dương nên ở đằng trước; tam-thị là chỗ cạnh lợi, hành h́nh, là âm nên ở đằng sau. Thị-triều đều rộng một phu (100 mẫu), đó là phép chính-vị vậy.

Tải-sư trông coi phép nhậm thổ, lấy trần lư nhậm đất trong nước, lấy trường-phố (vườn rau) nhậm viên-điạ, lấy trạch-điền, sĩ-điền, cổ-điền nhậm đất cận-giao, lấy cung-điền, ngưu-điền, thưởng-điền, mục-điền nhậm đất viễn-giao, lấy công-ấp-điền nhậm đất nhậm điện-điạ (đất ngoại-ô), lấy gia-ấp-điền nhậm sảo-điạ, lấy tiểu-đô-điền nhậm hoạ-điạ.

Bên trên là nói thể-chế đất đai bên trong kinh-kỳ: hương, toại, đô, bỉ. Trong vuơng-kỳ, rộng 1000 dặm vuông, chính giữa đặt quốc-thành, bốn mặt bỏ trống cho đến 500 dặm. 100 dặm là 1 tiết, 50 dặm là cận-giao, trong ṿng 100 dặm là viễn-giao: giao-điạ gồm 4 đồng, bên trong đặt 6 hương, cả thẩy là 75000 nhà, kỳ dư là đất nhập vào

cửu-đẳng-điền. 4 đồng cuả giao-điạ, chung quanh có 30000 tỉnh tức 30000 nhà, 4 đồng là có 120000 nhà. Nay lấy 75000 nhà làm 6 hương, kỳ dư ắt 45000 nhà xung vào cửu-đẳng-điền. Bên ngoài viễn-giao-điạ là điện (ven đô); điện-điạ gồm 12 đồng, chính giữa đặt 6 toại tức 75000 nhà, kỳ dư xung vào công-ấp-điền. Điền có rạch-ng̣i, do toại-nhân quản-trị. Điện-điạ 12 đồng gồm có 360000 nhà. Nay lấy 75000 nhà làm 6 toại, kỳ dư ắt là 285000 nhà, xung làm công-ấp-điền. Ngoài điện là sảo, sảo gồm 20 đồng, để xung làm gia-ấp-điền. Ngoài sảo là huyện, huyện-điạ 28 đồng, để xung vào tiểu-đô-điền. Ngoài huyện là hoạ, hoạ-điạ 36 đồng, để xung vào đại-đô-điền. Điền đó tỉnh-mục, do tiểu-tư-đồ quản-lư. Tư-mă Pháp nói: Vương-quốc 100 dặm là giao, 200 dặm là châu, 300 dặm là dă, 400 là huyện, 500 dặm là đô.

Đại-tư-đồ cai-quản đất đai kiến bang, cùng là kiểm-tra dân-số, phán-quyết tr6n  toan cơi bang-quốc, đô-bỉ. Nay lấy 5 nhà làm 1 tỷ, khiến cho trông giữ nhau, 5 tỷ là lư, khiến cho cung-cấp cho nhau; 4 lư là 1 tộc, khiến cho chôn cất dùm nhau; 5 tộc là 1 đảng, khiến cho cứu giúp lẫn nhau; 5 đảng là 1 châu, khiến cho người gfiầu cung-cấp cho người nghèo; 5 châu là 1 hương, khiến cho tôn-kính người hiền.

Phàm tạo đô-bỉ, chế thửa điạ-vực mà đào hào xung quanh, lấy một số nhà mà chế. Đất bất-dịch, nhà 100 mẫu, đất nhất-dịch nhà 200 mẫu, đất tái-dịch nhà 300 mẫu.

Đất kinh-đô và ven đô cuả vương tử-đệ, công-khanh, đại-phu chia thành 3 hạng để thu thuế. Công tại đại-đô thu lợi trong 100 dặm vuông; khanh tại tiểu-đô thu lợi trong 50 dặm vuông; đại-phu tại gia-ấp, thu lợi trong 25 dặm vuông. Thân-vương tử-đệ quyền-lợi giống công, thứ-sơ giống khanh, thứ-thứ-sơ giống đại-phu.

Tiểu-tư-đồ bèn hội tốt-ngũ cuả vạn-dân mà điều-khiển. 5 người là 1 ngũ, 5 ngũ là 1 lưỡng, 4 lưỡng là 1 tốt, 5 tốt là 1 lữ, 5 lữ là 1 sư, 5 sư là 1 quân, để khởi quân-lữ, để chế-tác việc làm ruộng, lấy đó mà đuổi trộm cướp và xuất-quân tư-cấp huyện-dịch.

Binh-sĩ cuả 6 quân, xuất-phát từ lục-hương. Trong lục-hương có: tỷ, lư, tộc, đảng, châu, hương. 5 nhà là 1 tỷ, phàm khởi đồ-dịch, không quá số gia-nhân, nên 5 người là 1 ngũ. 5 tỷ là 1 lư, lư là 25 nhà, nên 25 người là 1 lưỡng. 4 lư là 1 tộc, tộc là 100 nhà, nên 100 người là 1 tốt. 5 tộc là 1 đảng, đảng là 500 nhà, nên 500 người là 1 lữ. 5 đảng là 1 châu, châu là 2500 nhà, nên  2500 người là 1 sư. 5 châu là 1 hương, huơng là 12500 nhà, nên 12500 người là 1 quân vậy. Để khởi quân-lữ, gọi là chinh-phạt vậy. Để tác điền-dịch, gọi là điền-lạp dịch-tác vậy. Lấy đó mà truy-tế tưúc đuổi trộm cướp, tế tức là tư-bổ đạo-tặc. Để ra lệnh cống-phú. Cống chính là tài-n guyên cửu-cốc cuả sơn-trạch, phú chính là xuất xa đồ-cấp huyện-dịch.

Toại-nhân quản-trị đồng ruộng cuả nưóc, lấy bản đồ cuả thổ-điạ, kinh điền-dă, tạo phép vẽ h́nh-thể cuả huyện-bỉ. 5 nhà là 1 lư, 4 lư là 1 tản (đời Chu, tản là một đơn-vị hành-chính điạ-phương gồm 100 nhà), 5 tản là 1 bỉ, 5 bỉ là 1 huyện, 5 huyện là 1 toại (khu đất cách kinh-đô 100 dặm), đều có lại trông coi điạ-vực, câu-thụ, mỗi lại trông giữ thửa chính-lệnh, h́nh cấm, để quanh năm kiểm-kê dân-số mà phân chia ruộng đất, giản-dị-hoá binh-khí và dạy dân cầy cấy.

Đồng ruộng là đồng ruộng cuả sảo (vùng đất cách thành nhà vua 300 dặm), huyện, đô. Án: Đại-tư-đồ nói: tỷ, lư, tộc, đảng, châu, sư, c̣n gọi là lân, lư, tản, bỉ, huyện, toái vậy. Nên Trịnh-Huyền chú quân-pháp cuả toái như lục-hương, như lục-toái, chính là tương-thông.

Biện biệt đất cuả đồng ruộng, chia thành thượng-điạ, trung-điạ, hạ-điạ, để ban-phát cho điền-lư. Thượng-điạ 1 phu (theo cổ điền-chế, 100 mẫu là 1 phu), ruộng 100 mẫu, lai (tương-đương cuả dịch ở giao-ngoại) 50 mẫu, các phu c̣n lại cũng vậy. Trung-điạ 1 phu, ruộng 100 mẫu, lai 100 mẫu, các phu c̣n lại cũng vậy. Hạ-điạ 1 phu, ruộng 100 mẫu, lai 200 mẫu, các phu c̣n lại cũng vậy.

Thượng-điạ 1 phu, ruộng 100 mẫu, lai 50 mẫu. Căn-cứ vào sách 'Đại-tư-đồ', bất-dịch-điạ, gia 100 mẫu, vô-lai-điền 50 mẫu. Bởi thế, lai là ruộng bỏ hoang. Đất nhất-dịch-điạ, gia 200 mẫu, ắt có cầy cấy 100 mẫu, bỏ hoang 100 mẫu. Nghỉ 1 năm không cầy cấy gọi là nhất-dịch. Đất tái-dịch, gia 300 mẫu ắt có cầy cấy 100 mẫu, bỏ hoang 200 mẫu. Bỏ hoang 2 năm rồi mới cấy cầy, gọi là tái-dịch. Thượng-điạ ắt không bỏ hoang vậy.

 

Vạn Phu Đồ

H́nh 23.58 Vạn Phu Đồ
 

Đồ trên là Vạn-Phu Đồ, đất rộng  = 31.6227766 dặm vuông. Đồ này chứa 100 phu. 100 phu có ng̣i nước, 1 hàng chứa 1000 phu. 1000 phu có quái (chợ). 9 quái có sông bao quanh. Nếu xem Bách Phu Đồ, mỗi ô vuông là 1 phu, 1 hàng là 10 phu, phu có ng̣i. Nếu coi ng̣i lớn (câu) là ng̣i nhỏ (quái), đấy cũng là 9 câu chẩy vào hức. Lấy sông làm ng̣i mà xem, ắt về mặt câu-quái rộng sâu, Trịnh-chú tương-chuẩn với tỉnh-điền. Nhưng mà trong tỉnh-điền, câu-quái hiếm hoi hơn, mà phép câu-quái đông đúc hơn, sông này rộng sâu gấp bội quái, khác hẳn song thiên nhiên, nó rộng khoảng 100 dặm, nghiă là một sông rất lớn vậy. 

Phàm trị-dă, trong phu có toại (= khu đất cách kinh-đô 100 dặm), trên toại có kính (đường ṃn), 10 phu có câu, trên câu có chẩn (đường đi trong ruộng), 100 phu có hức (mương nước ở trong ruộng), trên hức có đồ (đường đi); 1000 phu có quái (ng̣i nhỏ), trên quái có đạo (đường cái), 10000 phu có sông, có lộ, để đi đến kinh-kỳ.

Ruộng 10 phu 2 lân, ruộng 100 phu 1 tản, ruộng 1000 phu 2 bỉ, ruộng 10000 phu 4 huyện, toại, câu, hức, quái, sở dĩ thông thủy ra sông. Kính, chẩn, đồ, lộ, đều sở dĩ thông xa-đồ nơi quốc-đô vậy. Kính (đuờng tắt), dùng cho trâu-ngựa, chẩn dùn g cho xe lớn, đồ dùng cho cỗ xe 1 quỹ, đạo đồ dùng cho cỗ xe 2 quỹ, lộ đồ dùng cho cỗ xe 3 quỹ. Vạn-phu diện-tích là dặm vuông, 90000 phu mà vuông 1 đồng. Lấy nam-mẫu mà vẽ, ắt toại tung câu hoành, hức tung quái hoành, 9 quái 4 sông, bao bên ngoài vậy.

Đại-tượng quẻ Sư nói: Trong đất có nước là tượng quẻ Sư; người quân-tử coi đó mà dung-nạp dân và nuôi dân. Ôi! nước không ở ngoài đất, binh-sĩ không ở ngoài canh-nông (tay cầy, tay súng). Nuôi dân là đạo dưỡng dân, tất đồ-bỉ có chương-lư, tỉnh có đội-ngũ, ruộng có ng̣i bao quanh. Mạnh-tử bảo là nhân-chính tự kinh-giới ngay từ đầu, nên nhân tượng 'Trong đất có nước', kiêm mân thuyết cuả Chu-quan mà đồ thu-thập phép tỉnh-điền để phụ-giúp vào nghiă cuả Đại-Dịch vậy. 

Đồ 23.59 bên dưới là Đồ vuông 10 dặm tức Đồ Nhất Thành. Đất vuông 10 dặm gọi là Điền-Nhất-Thành. Như coi đó là miếng đất 1 đồng 100 dặm vuông, ắt lấy ấp làm điện, lấy khâu làm huyện, lấy điện làm đô, lấy câu làm quái, lấy hức làm xuyên vậy. Án: Người thợ đào câu-hức dùng lưỡi cầy bề ngang 5 tấc. Hai lưỡi cầy gọi là ngẫu (lưỡi cầy đôi), một luống cầy đôi, rộng 1 thước, sâu 1 thước gọi là mẫu. Điền bắt đầu nhân lên, rộng 2 thước, sâu 2 thước gọi là toại. 9 phu là tỉnh, tỉnh rộng 4 thước, sâu 4 thước, gọi là câu. Vuông 10 dặm gọi là thành, thành rộng 8 thước, sâu 8 thước, gọi là hức. Vuông 100 dặm gọi là đồng, đồng-lư rộng 2 tầm (1 tầm là 8 thước), sâu 2 nhận (1 nhận là 7 thước), gọi là quái.

Mẫu tung, toại hoành; câu tung, hức hoành; quái tung, xuyên (chiều rộng bằng chiều rộng cuả sông thiên-nhiên) hoành.

Tiểu-tư-đồ bèn kinh-doanh thổ-điạ mà tỉnh-mục thửa điền-dă. 9 phu là tỉnh, 4 tỉnh là 1 ấp, 4 ấp là 1 khâu, 4 khâu là 1 điện, 4 điện là 1 huyện, 4 huyện là 1 đô, để nhậm điạ-sự mà ra lệnh cho cống-phú, tức là công việc thuế-khoá.

Cái đó chính là tạo đô-bỉ thu lợi, điạ-chế tỉnh-điền khác với hương-toại. Đất mầu mỡ thêm vào đất thường thành ra tỉnh, đất cao ven hồ là mục. 9 phu là 1 mục, theo suất 2 mục là 1 tỉnh. Đất vuông 1 dặm chia thành 9 khu, mỗi khu 100 mẫu. 1 phu là 100 mẫu, 9 phu là 1 tỉnh, 4 tỉnh là 1 ấp, ấp 2 dặm vuông. 4 ấp là 1 khâu, khâu 4 dặm vuông. 4 khâu là 1 điện, điện 8 dặm vuông. Bốn bề thêm 1 dặm, ắt10 dặm là 1 thành, tích 100 tỉnh, 900 phu. Chính giữa là 64 tỉnh, bỏ ra 576 phu để thu thuế, mỗi bề 36 tỉnh, 320 phu trị-hức. 4 thành là 1 huyện, kinh-tác 4 điện, bằng vào 1 thành mà nói, đất đó thông bốn bề, mà lấy điện làm thành. Huyện 20 dặm vuông. 4 huyện là 1 đô. Đô 40 dặm vuông. 4 đô 80 dặm vuông, mỗi bề thêm 10 dặm, bèn được 100 dặm vuông, là 1 đồng, tích 10000 tỉnh, 90000 phu. Chính giữa 6400 tỉnh, 56700 phu để thu thuế ruộng, 3600 tỉnh, 32400 phu trị-quái. Phép tỉnh-điền, đầy đủ trong 1 đồng. Nay ngừng nơi đô, để lấy miếng ăn, đều là ¼ thể-chế chia ra làm ba hạng. Nước 100 dặm, phàm 4 đô, thuế 1 đô nạp cho vua. Nước 50 dặm, phàm 4 huyện, thuế 1 huyện nạp cho vua. Nước 25 dặm, phàm 4 điện, thuế 1 điện nạpcho vua.

H́nh 23.59 Nhất Thành Đồ
 

Theo Tư-mă Pháp, 6 thước là 1 bộ, 100 bộ là 1 mẫu, 100 mẫu là 1 phu, 3 phu là 1 thất, 3 thất là 1 tỉnh, 10 tỉnh là 1 thông. Căn-cứ vào bên trong 1 thành, 1 lư 1 tiết, dọc ngang đều 1 tiết làm 1 hàng, 1 hàng 10 tỉnh làm 1 thông. Thông 30 nhà, mỗi thông có 1 con ngựa, 1 sĩ, 2 đồ. Thông gồm 90 phu, là 30 nhà, một phần ba là nhà quan, nếu kể đường đi ngơ hẻm, chỉ c̣n 60 phu. 20 phu bỏ hoang, 20 phu nhất-dịch, 20 phu tái-dịch. Tỷ-lệ là 3 phu chiụ cáng đáng 6 phu, ắt đất 60 phu chỉ c̣n 30 nhà, lại chỉ có 1 con ngựa, 1 sĩ-nhân, 2 đồ-nhân. 10 thông là 1 thành, thành 10 dặm vuông. 100 tỉnh, 300 nhà, xe 1 cỗ, sĩ 10 người, đồ 20 người. 10 thành là 1 chung, chung là 1000 tỉnh, 3000 nhà, 10 cỗ xe, 100 sĩ-nhân, 200 đồ-nhân. 10 chung là 1 đồng, đồng 100 dặm vuông, 1000 đỉnh 30000 nhà, vạn cỗ xe, vạn sĩ-nhân, hai vạn đồ-nhân. 10 phong là 1 kỳ, kỳ ngàn dặm vuông, 100 vạn tỉnh, 300 vạn nhà, vạn cỗ xe, 10 vạn sĩ-nhân, 20 vạn đồ-nhân. Lỗ-tụng trong Kinh Thi bảo: công-xa ngàn cỗ, công-đồ ba vạn, là kể cả sĩ nữa.

 

DỊCH TƯỢNG ĐỒ-THUYẾT NỘI NGOẠI THIÊN CHUNG


*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 179

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com