www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 22

 

DỊCH-TƯỢNG-SỐ

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 171) 
 

 

THÁI-CỰC ĐỒ THUYẾT

(338, I, 291-304)

      Vô-cực mà thái-cực, thái-cực động mà sinh dương, động cực rồi tĩnh, tĩnh mà sinh âm, tĩnh cực lại động, một động, một tĩnh, bắt gốc lẫn nhau. Phân âm phân dương, lưỡng-nghi lập vậy. Dương biến âm hợp, mà sinh thủy hoả mộc kim thổ. Ngũ-khí thuận-bố, bốn muà vận-hành vậy. Ngũ-hành chỉ là một âm-dương. Âm-dương chỉ là một thái-cực vậy. Thái-cực gốc ở vô-cực vậy. Ngũ-hành sinh ra, mỗi hành một tính. Chân cuả vô-cực, tinh cuả nhất ngũ, diệu-hợp mà chẩy siết. Kiền-đạo thành nam, khôn-đạo thành nữ, hai khí giao-cảm, hoá sinh vạn-vật. Vạn-vật sinh sinh mà biến-hoá vô cùng vậy. Duy con người được thửa tú mà tối linh. H́nh đă sinh rồi, thần phát-tri vậy. Ngũ-tính cảm-động mà thiện-ác phân. Vạn sự xuất vậy. Thánh-nhân định, lấy trung-chính, nhân-nghiă mà chũ tĩnh (Vô-dục nên tĩnh). Lập nhân-cực vậy. Nên thánh-nhân lập đức với trời đất. Nhật nguyệt hợp minh. Bốn muà hôp tŕnh-tự. Quỷ thần hợp cát hung. Quân-tử tu bổ cho tốt. Tiểu-nhân trái lẽ nên hoá hung. Nên nói: "Dựng đạo trời là âm với dương, dưng đạo đất là cứng với mềm, dựng đạo người là nhân với nghiă (Thuyết-quái-truyện II/1). Lại nói: "Lớn lao thay Dịch". Tới đích vậy thay !

Lưu  Trắc-Sơn nói: "Một âm, một dương gọi là đạo, tức thái-cực vậy. Giữa trời đất chỉ là một khí mà thôi. Không phải có lư rồi sau mới có khí. Khí bèn lập mà khí nhân đó ngụ ở bên trong. Thành-tựu  h́nh-hạ bên trong mà chỉ thửa h́nh nhi thượng. Không thể không suy cao hơn một từng, để lập ngôi chí-tôn. Nên gọi là thái-cực, mà thực t́nh không thể nói là vô-cực. Cái gọi là 'vô-cực mà thái-cực' cốt để khiến cho thực-sự có lư cuả thái-cực đó. Làm thành mẹ đẻ cuả khí ấy, ắt chỉ là một vật mà thôi.  Sao lại sinh sinh không ngừng. Diệu vạn-vật mà vô cùng chăng ? Ngày này, lư bắt rễ từ vô-h́nh, nên gọi là vô-cực. Vô bèn chuyển-lạc chú-cước diệu cuả thái-cực, sinh sinh không ngừng mà thôi. Sinh dương sinh âm, rồi sinh thủy hoả mộc kim thổ, rồi sinh muôn vật, đều là biến-hoá cuả một khí tự nhiên,

H́nh 23.18 Thái-Cực Đồ Nguyên-mạo

mà hợp lại chỉ là một ư sinh-động. Đó là chất chứa cuả tạo-hoá. Duy có con người được nó để thành ra người, ắt thái-cực là quả chuông linh-tú, mà môt âm một dương phân-kiến nơi khoảng h́nh-thần. Do đó hoà thành ngũ-tính mà cảm-ứng sinh ra, mà thiện-ác giới-phân. Sờ dĩ nhân-sự vạn-hữu bất-tề vậy. Duy thánh-nhân thâm ngộ lẽ vô-cực mà được thửa tĩnh. Bèn tại nơi trung chính nhân-nghiă. Tuần lư là tĩnh. Trời đất thái-cực ấy, thánh-nhân thái-cực ấy, đây đó không vay mượn nhau mà như hợp phù-tiết, nên nói hợp-đức. Như tất tổn sở-hữu cuả trời đất mà cho vật, mà riêng tụ-hợp lại cho người, há trời đất lao khổ như thế ru ? Từ vô-cực nói tới muôn vật, trời đất thủy chung vậy. Từ vạn-sự trở ngược về vô-cực, thánh-nhân chung mà thủy vậy. Thuyết thủy chung tức thuyết sống chết mà toang phép 7 thước hỗn-độn nhưng không được. Biết được như vậy mới có thể nói chuyện đạo. Chủ tĩnh-yếu vậy. Trí tri thường hằng vậy. Hoặc nói : Chu-tử đă lấy động-tĩnh cuả thái-cực để sinh âm-dương, mà cho chí thánh-nhân lập cực-xứ, thiên sang một chữ tĩnh, tại sao vậyĐáp: âm-dương động-tĩnh không chỗ nào là chẳng có.l Như lư-khí xem riêng, ắt lư thuộc tĩnh, khí thuộc động. Chẳng cần chờ mới nói. Nên bảo rằng : tuần lư là tĩnh, không phải là tĩnh cuả động-tĩnh.
 

 

H́nh 23.19 Chu-tử Thái-cực Đồ Cải-tạo

 

Trong H́nh 23.19, trích từ sách "Tính-lư Đại-toàn", Chu-tử viết: "Thái-cực-đồ là do Liêm-khê Tiên-sinh làm ra. Ṿng tṛn trên cùng diên-tả Vô-cực nhi Thái-cực. Kế đến, Hoàn-đồ nửa trắng, nửa đen mô-tả ư : Thái-cực động là dương, tĩnh là âm; ṿng tṛn nhỏ chính giữa là bản-thể cuả Thái-cực. Kế đến là Vô-cực chi Chân: cánh cung bên trái là dương-biến, cánh cung bên phải là âm-hợp; kế đến là ngũ-hành Kim, mộc , Thủy , Hoả , Thổ  tương-liên : đó chính là nhị-ngũ diệu-hợp vô-gián cuả Vô-cực; bên dưới, ṿng tṛn lớn đầu tiên biểu-thị Kiền đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ (Thượng-Hệ, I/4); ṿng tṛn lớn thứ nh́ biểu-thị vạn-vật hoá sinh (Hạ-Hệ, V/12). Ư muốn nói: nam nữ mỗi bên đều có Thái-cực riêng. Vạn-vật cũng vậy." Trương Huệ-Ngôn, trong "Dịch-đồ Điều-biện" bảo rằng : H́nh 23.18 là nguyên-đồ cuả Chu Chấn, c̣n H́nh 23.19 là do Chu-tử cải-định.

Cổ Thái-cực-đồ

Tương-truyền, Cổ-thái-cực-đồ cũng gọi là Thái-cực Chân-đồ hoặc Thiên-Điạ Tự-nhiên-đồ, là do Vua Phục-hi vẽ ra. Có cả thẩy 4 phiên-bản Cổ-Thái-cực-đồ (H́nh 23.20). Các phiên-bản này tương-tự chỉ khác tiểu-tiết không đáng kể và các lời chú-thích xung quanh. Chẳng hạn phiên-bản 2 (Tâm-Dịch Phát-vi Phục-hi Thái-cực chi Đồ), 3 (Thiên-Điạ Tự-nhiên chi Đồ) và 4 (Cổ-thái-cực-đồ), Bát-quái Tiên-thiên được thêm vào xung quanh.

Trong phiên-bản 3  và 4  hai chấm đen, trắng biểu-thị Thiếu-âm và Thiếu-dương được thay bằng hai con mắt lá liễu. Ngoài ra trong phiên-bản 4, bốn đường kính cách nhau một góc 450 cũng được thêm vào để phân ranh giới bát-quái.


Lai Tri-Đức Lưỡng-nghi-đồ

Nguyên-đồ 23.21 Lai Tri-Dức gọi là Thái-cực-đồ. Nay ta có thể gọi là Thái-cực Lưỡng-nghi-đồ. Lai Tri-Đức cho rằng tiêu-tức doanh-hư cuả Thiên-Điạ Tạo-hoá vốn vô-phương và vô-thể như Thần và Dịch vậy [Cố Thần vô-phương nhi Dịch vô-thể 故神無方而易無體. Cho nên Thần không có phương-sở mà Dịch không có h́nh-thể (Thượng-Hệ, IV/4)]. Mà Thiên-Điạ Tạo-hoá cũng vô-cùng-tận, nhưng không thể vẽ ra được. Nhân nghiên-sách Cổ-Thái-cực-đồ (H́nh 23.20) và đọc câu " Thất nhật lai phục » cuả quẻ Phục", ông mới vẽ ra H́nh 23.21 mà ông chú-thích như sau :

Trắng là dương-nghi, đen là âm-nghi. Hai đường trắng, đen là dương cực sinh âm, âm cực sinh dương. Khí-cơ cuả chúng xem chừng như chưa bao giờ ngừng vậy, tức chính là Thái-cực vậy. Ṿng tṛn trắng chính giữa không phải là bản-thể cuả Thái-cực đâu !

Ông cũng viết: "Thế-đạo trị-loạn, quốc-gia hưng-vong, vương-bá thành-ngụy, một miếng ăn, miếng uống dù nhỏ bé cũng đều có mặt trong đồ này." Cho là: "Dịch lấy đạo âm-dương, nên dịch-lư nằm trọn trong đồ này." Họ Lai c̣n cho rằng trong Trời Đất vạn-vật, vạn-sự đều không thể ly-khai luật tuần-hoàn đó." Mạnh-tử nói: "Thiên-hạ đă có từ lâu rồi : một trị, một loạn". Họ Lai cảm-thông ư liên-quán hai quẻ Phục X và Cấu l mới vẽ ra một loạt đồ na ná nhau: "Lưỡng-nghi-đồ", "Tiêu-tức Doanh-hư-đồ", "Đại-tiểu Hỗn-độn-đồ" để thuyết-minh vạn-cổ khí-tượng. Hai đoạn thẳng trắng đen cuả họ Lai chính là đường cắt (cut) trong Toán-học vậy !

KẾT-LUẬN 

Đoan-Mộc Quốc-Hồ cho rằng không thể vẽ trực-tiếp Thái-cực được, nhưng không vẽ th́ làm sao hiểu được lẽ huyền-diệu cuả âm-dương, nên ông mới không vẽ Thái-cực mà đi vẽ lưỡng-nghi, lưỡng-nghi rơ rồi, tự khắc Thái-cực hiển-hiện đằng trước. Đó chinh là hữu-tượng nằm trong vô-tượng, nhân tượng này mà hiểu rơ tượng kia. Ông chú-trọng vào chữ thị . Thuyết-văn bảo là mặt trời đứng bóng gọi là trực (thẳng), là thị (nhật chính 日正: chữ thị gồm có chữ nhật đè lên chữ chính cổ-văn). Mặt trời lên thẳng, giữa trưa ở chính giữa trời nên bằng ngay phân thành hai nửa: nửa trái tượng dương, nửa mặt tượng âm (con trai tay trái, con gái tay mặt), như thế t́nh-trạng cuả lưỡng-nghi quá rơ. Nên Văn Ngôn sơ-hào quẻ Kiền mới nói: "Bất kiến thị不見是 Đời chẳng biết như thế". Hào thượng-cửu quẻ Vị-tế mới nói: "Hữu phu thất thị有孚失是 Tự tin quá thi sai mất cái nghiă phải". Kinh Dịch, trong suốt 64 quẻ, 384 hào đều lấy chữ thị (= phải) làm thủy chung, làm chuẩn. Ta có thể suy nghĩ điều đó. Vạch đứng | chính giữa phân ṿng tṛn thành hai vùng, hai dẫy (liệt). Hệ-từ nói: "Kiền Khôn thành hàng mà Đạo Dịch đứng bên trong". Đó chính là tả dương-nghi, hữu âm-nghi vậy. Từ vạch đứng | sinh ra Thái-cực, Lưỡng-nghi không cần đợi câu: "Thái-cực sinh Lưỡng-nghi" là ta đă hiểu rồi.

 

DỊCH LONG-ĐỒ

易 龍 圖

Trần-Đoàn (871-989), tự Đồ-Nam, hiệu Phù-dao-tử có viết ra một quyển Dịch Long-Đồ mà bài Tựa có chép trong Dịch Dực-truyện cuả Song-hồ Hồ Nhất-Quế, bảo rằng Long-mă-đồ có chỗ số chưa hợp, thửa thuyết rất chi ly, không thể hiểu được. Giữa bài có vài lời rất phân-minh rằng: thoạt đầu long-đồ chưa hợp. Duy số 55, ở trên số 25 là thiên-số, ở dưới số 30 là điạ-số. Ở trên ắt 1 không dùng. H́nh 24 ở dưới ắt 6 không dùng, cũng là 24. Bản-chú nói: Trung-tâm thượng-vị bỏ số 1 thấy số 24, trung-tâm hạ-vị bỏ số 6 cũng thấy số 24, lấy một tuế là 36 tuần (1 tuần = 10 ngày), đi giáp ṿng là được 24 tiết-khí vậy. Ta nhân đó nghĩ rằng trong long-đồ này thủy-thổ đổi chỗ, 1-6 thay 5-10 ở trung-cung, mà 5-10 ra thế chỗ cuả 1-6 vậy. Thủy-thổ vốn đồng-căn. Trời đất và nhân-thân, ban đầu từ thuỷ tới, nhưng dần dần ngưng thành thổ. Nên trong Hà-đồ 1-6 thủy biến ra 5-10 khôn-cấn thổ. Đó là lư-do tại sao thủy-thổ đổi chỗ. 5-10 đă đổi chỗ mà cư bắc. Nam-bắc đối nhau có 24 chấm, đông-tây đối nhau cũng có 24 chấm, không những chỉ ứng vào 24 tiết-khí mà c̣n ứng vào 24  sơn-hướng. Nhân-thân hai bên trái phải đều có 24 kinh-mạch, xương sống trong lưng có 21 đốt, cổ có 3 đốt nữa, vị chi là 24 đốt. Một ngày có 12 giờ, mỗi giờ chia đôi thành 24 tiếng đồng-hồ. Nay dựa vào đó mà vẽ đồ, mệnh-danh là Hà-đồ Biến-thể, xưa nay chưa từng có. Đồ này không những chí ứng với 24. Thiên-can lư-số hợp-hoá cũng đều ở đó mà ra cả. Giáp với kỷ hợp-hoá thành thổ. Ất với canh hợp-hoá thành kim. Bính với tân hợp-hoá thành thủy. Đinh với nhâm hợp-hoá thành mộc. Mậu với quư hợp-hoá thành hoả. Thuyết bảo là cái ǵ gốc cũng khởi từ tư. Gặp th́n là hoá. Giáp-kỷ khởi giáp-tư, được mậu-th́n. Ất-canh khởi bính-tư, được mậu-dần. Bính-tân khởi mậu-tư, được nhâm-th́n. Đinh-nhâm khởi khởi canh-tư, được giáp-th́n. Mậu-quư khởi nhâm-tư, được bính-th́n. Nên theo th́n đến can là hoá. Th́n là rồng, rồng là biến-hoá (ngộ long tắc hoá). Nên  thuyết này hợp lư, v́ không có sở dĩ nhiên. Nay xem đồ này, bèn là Biến-thể Hà-đồ, hợp với chính-thể Hà-đồ, nhân có số cuả thập can hợp-hoá vậy. Giáp 1, kỷ 6 cư trung được thổ-khí cuả 5-10 trung-ương. Nên giáp kỷ hoá thổ. Mậu 5, quư 10 cư bắc, được 1-6 hoả-khí ở phương bắc, Nên  mậu-quư hoá hoả. Bính 3, tân 8 cư đông, đuợc thủy-khí 3 + 8 = 11 cuả cuả phương đông. Nên bính-tân hoá thủy. Đinh 4, nhâm 9 cư tây, đuợc mộc-khí 4 + 9 = 13 cuả phương tây. Nên  đinh-nhâm hoá mộc. Ất 2, canh 7 cư nam, kim-khí 2 + 7 = 9 cuả phương nam. Nên ất-canh hoá kim. Thảng hoặc thủy-thổ không đổi chỗ, ắt giáp 1, kỷ 6 ở phương bắc đáng hoá hoả, làm sao mà hoá thổ được ? Mậu 5 quư 10 cư trung, lư ra hoá thổ, làm sao mà hoá hoả được ? Thế mới biết Hà-đồ tất có số biến-thể vậy. Thập can hợp-hoá theo biến-số. Nên lần  theo th́n mà hoá-số. Th́n không những tượng-trưng biến-hoá cuả rồng. Th́n là thổ phuơng đông, mà cũng là mộ-điạ cuả thủy bắc-phuơng. Tức thị cung th́n kiêm thủy-thổ. Nên thủy-thổ có lư biến-dịch. Ghập can hợp-hoá ngũ-hành, ứng-dụng to tát. Nên biết tạo-hoá kỳ-diệu đên thế vậy thay. Trong tự-lục bên dưới sẽ biện-luận.

 

DỊCH LONG-ĐỒ TỰ-TỰ

易 龍 圖 自序

(014, tr. 270-274)

          Ôi long-mă đội đồ, xuất-hiện thời Hy-Hoàng, ở trước thời thái-cổ. Nay c̣n ngôi đă hợp, có người nghi ngờ. Phương chi canh trần chỗ số chưa hợp chăng ? Đáp rằng: "Thăm ḍ chỗ Trọng-ni tam trần cửu-quái để biết". Huống hồ, trời rủ tượng, xâu chuỗi hạt châu, có sai-biệt, ắt không thành thứ-tự. Cho nên từ một đến đầy vạn, đều lớp lớp như sợi chỉ,đường tơ. Huống hồ, long-đồ vốn dĩ hợp, ắt thánh-nhân không thấy được, sở dĩ thiên-ư làm cho chưa hợp, để h́nh-dung ra tượng, thánh-nhân xem tượng mà biết cách dùng. Long-đồ ấy là ông trời cố-ư làm hoán-tán để chỉ bảo. Phục-hy hợp lại mà dùng. Trọng-Ni lẳng lặng h́nh-dung ra. Lúc đầu, long-đồ chưa hợp, Duy số 55 là thiên-số. Giữa xâu 3-5-9, ngoài bao 5-10, gồm thâu tận-dụng cuả 3-5-9 cùng là 5-10. Hậu-h́nh 1-6 vô-vị (lỗ hổng cuả mặt phẳng tạp Cartan). Lại làm rơ cái dụng cuả 24. Điều đó chính là cái gọi là 'trời rủ tượng'. Mé dưới 30 là điạ-số, cũng phân 5 ngôi, để hiển thị sự dùng con số 5. 10 phân mà là 6, là h́nh-dung tượng đất. 6 phân mà ky tứ-tượng. Điạ lục bất phối.  Ở trên ắt 1 không dùng. H́nh thành 24. Ở dưới ắt 6 không dùng, cũng h́nh thành 24. Trời 1 cư thượng là tông cuả Đạo. Đất 6 cư hạ là gốc cuả khí.

          Lớn vậy thay Biến cuả long-đồ. Kỳ-phân vạn thù. Nay lược-thuật đại-khái.

          Trong bài tựa này, ta suy-diễn ra lẽ hợp-hoá cuả 10 can. Kẻ trí chỉ vui thưởng-ngoạn mà thôi.

    H́nh 23.22        H́nh 23.23               H́nh 23.24             H́nh 23.25

Đồ I (Thượng-vị)   Đồ I (Hạ-vị)          Đồ II (Thượng-vị)      Đồ II (Hạ-vị)

        


PHỤ-LỤC

 

BÁT TIÊN

 

        Bát Tiên mà đời lưu-truyền là: Hán Chung Ly 漢鍾離 (tức Chung Ly Quyền 鍾離權, tự Thúc-đạo 寂道, hiệu Vân-pḥng-tử 雲房子), Trương Quả Lăo 張果老, Hàn Tương-tử 韓湘子 (tự Thanh-phu 清夫), Lư Thiết Quài 李鉄枴 (nguyên-danh: Lư Nguyên-Trung , Lư Ngưng-Dương 李凝陽, Lư Hồng-Thủy 李洪水 và Lư Huyền 李玄), Tào Quốc Cữu 曹國舅, Lă Đồng-Tân 呂洞賓, Lam Thái Hoà 藍采龢 (đệ-tử cuả Chung Ly-Quyền) và Hà Tiên Cô 何僊姑 (đệ-tử cuả Lă Đồng-Tân) . 

Kể từ đuôi thuyền kể đi là: Hà Tiên Cô (nguyên-danh Hà-Quỳnh ), Hàn Tương-tử  (tự Thanh-phu 清夫) , Tào Quốc Cữu (biệt-danh: Tào-Dật 曹佾 & Tào Cảnh-Hưu 曹景休), Lam Thái-Hoà, Hán Chung-Ly , Lư Thiết-Quài (tiểu-danh Quài nhi 拐兒, hiệu Lư Khổng-Mục 李孔目) và Lă Đồng-Tân. Người đứng bên ngoài thuyền là Trương Quả-Lăo.

  

H́nh 23.26  Bát Tiên Quá Hải Hội-Đồ

H́nh 23.27 Hàn Tương-Tử H́nh 23.27 Hà Tiên Cô H́nh 23.28 Lam Thái Hoà

H́nh 23.29 Hà Quốc-Cữu H́nh 23.30 Lă Đồng-Tân H́nh 23.31 Lư Thiết Quài

 

LĂ ĐỒNG TÂN

H́nh 23.32  Chân-tượng Lă Đồng Tân
chụp tại Bắc-đế Miếu
 

        Lă-tổ huư Nham , tự Đồng-Tân 泂賓, đạo-hiệu Thuần-dương-tử 純陽子, người phủ Hà-trung, huyện Vĩnh-lạc. Tằng-tổ Diên Chi, làm quan cuối Đời Đường, chức Tiết-độ-sứ Hà-đông. Tổ Vị-Chung làm Thị-lang Bộ Lễ. Thân-phụ Nhượng làm Thứ-sử Hải-châu. Sinh năm Đuờng Đức-tông thứ 12 tức năm bính-tư (796) (có chỗ nói là Trinh-nguyên thứ 14, có chỗ lại nói Trinh-quan, năm bính-ngọ), tháng tư, ngày 14, giờ tỵ. Lúc thân-mẫu ông sinh ra ông, khắp nhà toả mùi hương lạ, thiên-nhạc phù không. Có con hạc trắng từ trên trời bay xuống, nhập vảo trướng rồi biến mất (Tiên-kinh bảo ma-kiếp tại thiên-cung, phụng mệnh nguyên-thủy, giáng-sinh độ-thế). Sinh ra hành kim, chất mộc, đỉnh đầu hạc, lưng ruà, ḿnh hổ, má rồng, mày xanh, mắt phượng, cổ đẹp, lộ quyền, trán rộng, thân tṛn, sống mũi cao mà thẳng, da mặt trắng vàng. Góc vai trái có nốt ruồi đen. Dưới mắt trái cũng có nốt ruồi đen. Gân đầu lớn. Hai chân có văn như ruà âm-sách. Hồi bé thông-mẫn, nhật-kư vạn lời. Mở miệng thành văn. Thân dài năm thước hai tấc (có chỗ nói tám thước hai tấc). Ưa quấn khăn hoa-dương, mặc áo trắng quần vàng. Hai mươi tuổi không lấy vợ. Lúc c̣n đang ở trong tă, mă-tổ thấy bèn nói rằng: đứa bé này cốt-tướng phi phàm, từ đó phong-trần biểu vật, nó thấy nhà tranh bèn  trú-ngụ, thấy chuông th́ đánh, lưu-tâm kư thủ. Sau này ngao-du Lư-sơn. Gặp Hoả-long chân-nhân, truyền cho Thiên-độn kiếm-pháp, từ đó hỗn-tục hoá-mặc nơi nhân-gian, hiệu là Thuần-dương-tử. Trong Đời Hàm-thông-trung được tuyển-cử Tiến-sĩ Đệ, lúc đó đă ngoại tứ-tuần. Sau này, chu-du Trường-an  tửu-tứ, thấy một  vơ-sĩ , chít khăn xanh , mặc quân áo trắng, râu dài, mắt đẹp, tay mang gậy trúc, lưng đeo đại-hồ, viết ba bài tuyệt-cú trên vách: 

Toạ ngoạ thường huề tửu nhất hồ.

Bất giao song-nhăn thức hoàng-đô.

Kiền Khôn hứa đại vô danh-tính,

Sơ tán nhân-gian nhất truợng-phu.

 

Đắc đạo chân tiên bất dị phùng.

Kỷ thời quy khứ nguyện tương-tùng.

Tự ngôn trú-xứ liên­-thương-hải,

Biệt thị Bồng-lai đệ-nhất phong,

 

Mạc yếm truy-hoan tuư-ngữ tần.

Tầm tư ly-loạn khả thương thần.

Nhàn lai khuất chỉ tùng đầu sổ,

Đắc đáo thanh-b́nh hữu kỳ nhân.

Lă-tổ lấy làm lạ, lại thấy mạo-trạng kỳ-cổ, ư thơ phiêu-dật, bèn chắp tay hỏi danh-tính. Đáp rằng: "Ta họ Chung-Ly, tên Quyền, tự Vân-pḥng. Lă-tổ tái bái rồi ngồi xuống. Chung nói: "Ông có thể ngâm một bài tuyệt-cú không? Ta muốn xem". Ngâm rằng:

Sinh tại nho-gia ngộ thái-b́nh.

Huyền-anh trùng-đới bố-y khinh.

Thùy năng thế thượng tranh danh-lợi?

Thần sự Ngọc-hoàng quy thượng thanh.

          Chung-tổ thấy thơ mửng thầm trong bụng, nhân cùng nghỉ trong quán, tự đứng dậy thổi nấu. Lă-tổ bỗng nhiên thấy trong ḿnh mỏi mệt, bèn dựa vào án thiếp đi. Mộng thấy ḿnh trẩy kinh phó thí, đỗ Tiến-sĩ cập-đệ. Bắt đầu từ châu huyện, sau lên đến lang-thự, đài-luyện cấp-xá, hàn-uyển, bí-các, cùng là các nơi thanh-yếu, đủ cả mọi chỗ. Thăng rồi lại giáng, giáng rồi lại thăng, trước sau hai lần  lấy vợ nhà giầu, nhưng rút cục bỏ vợ, con cháu phát-đạt, trâm-hốt đầy nhà, trong mấy chục năm, rồi lại độc-thân mười năm, quyền-thế huân-nhiên, bỗng bị trọng-tội, bị tịch thu tài-sản, vợ con ly-tán, lưu lạc nơi lănh biểu, một thân nheo nhóc, cùng khổ tiều-tụy, tuyết sương đẫm ḿnh, chợt bừng tỉnh, thấy Chung-tổ nấu nồi kê chưa chín, cả cười nói rằng: "Kê vàng chưa chín, mộng đến hoa-tế". Lă-tổ cả kinh nói rằng: "Tiên-sinh biết ta nằm mơ sao?" . Chung nói: "Ông vừa nằm mơ thăng-trầm vạn-thái, vinh-tụy đa-đoan, năm mươi năm chỉ như một trang giấy, được không đủ vui, mất cũng chẳng đáng buồn. Huống hồ, có đại-giác, mà sau biết đời người là một đại-giác vậy". Lă-tổ cảm-ngộ, biết hoạn-đồ không đủ để ḿnh quyến-luyến, tái bái mà rằng: "Tiên-sinh là một người phi-phàm, nguyện cầu độ thế thuật". Chung cố từ chối mà rằng: "Ông cốt-tiết chưa hoàn-thành, chí chưa định, nếu muốn độ-thế, cần tu thêm mấy đời nữa mới được". Vụt biến mất. Lă-tổ mau mau bỏ quan về ở ẩn. Từ đó, Chung-tổ thử Lă-tổ thêm mười lần nữa.  

Thử lần đầu: một hôm, từ ngoài phố trở về nhà, thấy gia-nhân đều nhuốm bệnh mà chết. Lă-tổ mặt không bi thương, cũng không hối-hận, chỉ sắm sửa quần áo tang và quan-tài, chuẩn-bị tang-sự, nhưng rốt cuộc các người chết đều sống lại. Thuần Dương không để lộ một chút vui buồn nào.

          Thử lần thứ nh́: Thuần-Dương ra phố bán đồ, người mua mặc cả xong xuôi, nhưng cuối cùng giở quẻ chỉ chiụ trả nửa giá, Thuần-Dương không buồn phiền mà chiụ để cho y mang đồ đi.

          Thử lần thứ ba: Một ngày mùng một Tết, Thuần-Dương muốn xuất-hành, gặp một người ăn mày dựa vào cổng mà ăn xin, Thuần-Dương cho y tài-vật, nhưng khất-cái nhất-định không chiụ đi, cứ đ̣i thêm hoài, miệng c̣n lẩm bẩm chửi ruả, Thuần-Dương chỉ cười trừ.

          Thử lần thứ tư: Thuần-Dương chăn một đàn dê, trên sườn núi, bỗng gặp một con hổ đói toan đuổi bắt dê. Thuần-Dương bảo-hộ đàn dê, đi xuống núi trốn tránh, chính ḿnh đương đầu với hổ, hổ thấy thế bèn lùi lũi bỏ đi.

          Thử lần thứ năm: Thuần-Dương trú tại một túp lều tranh đọc sách, bộng nhiên thấy một cô con gái xinh đẹp, trang-sức lộng lẫy, bảo rằng đi lạc đường nên xin tá-túc qua đêm. Người con gái thập phần khiêu-khích, đêm đến đ̣i ngủ chung giường. Thuần-Dương trước sau thần-thái không mảy may dao-động.

       Thử lần thứ sáu: Thuần-Dương một lần đi ra ngoài phố rồi trở về nhà, thấy đồ đạc bị kẻ trộm dọn sạch, tài sản tiêu ma, chẳng buồn phiền mà cũng chẳng tŕnh báo quan chức ǵ cả. Bèn tự cầy bừa đất cát. Thấy lộ ra mười mấy đỉnh vàng. Thuần-Dương vội vàng lấy đất lấp đi, không lấy mảy may.

          Thử lần thứ bẩy: Một lần Thuần-Dương ra phố mua mấy món đồ đồng, về đến nhà lại thấy đồ toàn bằng vàng, Thuần-Dương lập tức đem đồ trả lại người bán.

          Thử lần thứ tám: Có một đạo-sĩ điên rồ bán thuốc trong hẻm, rao rằng thuốc uống vào chết tức khắc. Mọi người nghe vậy, cùng bảo nhau ai mà muốn chết bao giờ?  Thuần-Dương không tin lời gian-tà, bèn mua thuốc uống liền, an nhiên không hề-hấn ǵ.

          Thử lần thứ chín: Nước lũ đang chẩy siết, Thuần-Dương và một đám người khác đáp thuyền qua sông. Vừa ra giữa ḍng, sóng gió nổi lên dữ dội, chúng nhân đều khiếp hăi, duy có Thuần-Dương thần-thái như thường, điềm nhiên bất-động, coi sống thác như không.

          Thử lần thứ mười: Thuần-Dương đang ngồi một ḿnh trong nhà, bỗng thấy vô số yêu ma kỳ h́nh quái-trạng xông đến muốn đánh giết ḿnh. Thuần-Dương không sợ chút nào. Lại có một bầy qủy dạ-xoa, áp-tải một tử-tù, ḿnh mẩy máu mê nhễ nhại, đến đ̣i mạng và nói: "Kiếp trước mày giết tao, nay tao đến đ̣i mạng". Thuần-Dương nói: "Giết người đền mạng, thiếu nợ trả tiền". Thần-thái như thường, điềm nhiên bất-động. Hốt nhiên nghe trên không trung có một tiếng hét, quỷ quái đều biến hết. Có một người vỗ tay cười lớn, chính là Chính-Dương chân-nhân Chung-Ly Quyền.

          Cả mười lần thử thách, Thuần-Dương đều không thất-tâm, mà vẫn b́nh-tĩnh ứng-phó, Chung-Ly Quyền rất hài ḷng, mang Thuần-Dương đến Hạc-lĩnh Chung-nam-sơn, truyền cho linh-bảo bí-pháp, thượng-chân bí-pháp và cùng nhau khai sáng Chung-Lă kim-đan phái.

          Cuối cùng, Thuần-Dương không thích luyện đan cùng là pháp-thuật điểm đá hoá vàng. Bèn cải 'đan duyên' và thuật 'hoàng bạch' làm nội-công, chỉ lấy từ-bi độ thế làm con đường thành đạo. Sau khi tu tiên thành công, Thuần-Dương thời thường xuống núi vân-du bốn phương, trừ bệnh-tật cho bá-tánh mà không cần báo đáp. 

         Có thuyết cho là Đông-hoa Đế-quân, sư-phụ cuả Chính-Dương chân-nhân, là tiền-thân cuả Lă Đồng-Tân. Thuyết này có thấy chép nơi tiểu-thuyết 'Thanh Chương Hồi' cùng là trong các 'Giáng bút Huy Khuyến Thiện Văn' như 'Bát Tiên Đắc Đạo Truyện', 'Đông Du Kư'. Y cứ vào 'Lịch-đại Thần-tiên Thông-giám' th́ Lă Đồng-Tân là thánh-vương đời thượng-cổ, họ Hoàn-Đàm chuyển-thế.

 

THƯ TỊCH KHẢO 

 

014 Hà Lạc Tinh-uấn 河洛精蘊, Sơ-bản, Giang Thận-tu 江慎修 trước, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 10-1986. 

040 Chuyết Canh Lục 輟耕錄, Đào Định Nghi 陶定儀 soạn, Tân-đăi Bí-thư bản (1366).

104 Hoàng-đế Tố-vấn Linh-khu Kinh 黃帝素問靈樞經, Tứ-khố Thiện-bản Tùng-thư Tư Bộ, Nghệ-văn Ấn-thư-quán ảnh-ấn, Đài-bắc.

220 Chu Dịch Chỉ 周易指, 8 Tập, Nhất-bản, Thanh×Hạc-điền Đoan-Mộc Quốc-Hồ 鶴田端木國瑚 soạn, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

271 Lai Chú Dịch-Kinh Đồ-Giải 易經圖解, Sơ-bản, Minh è Lai Tri-Dức 來知德 chú, Vũ-lăng Xuất-bản-xă, Đài-bắc, Tháng 9-1987.

272 Dịch Kinh Lai Chú Đồ Giải 易經來圖解, Trịnh Sán 鄭燦 đính-chính, Lư-Hoàn 李寰 phụ-khảo, Trung-Quốc Khổng-học-hội Tàng-bản, Đài-bắc, tháng 9-1971.

285 Dịch-Đồ-Lược 易圖略, Tiêu Tuần 焦循 soạn, in Hoàng-Thanh Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng-Biên 皇清經解易類 (tr. 1161-1217), Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc.

300 Quái Bản Đồ Khảo 卦本圖考, tái-bản, Hồ Bỉnh-Kiền 胡秉虔 trước, in Hoàng-Thanh Tục-Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng Biên 皇清續經解易類彙編 (tr. 549-554), Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc, Tháng 9-1992.

 

301  Dịch-đồ Điều-biện 易圖條辨, Thanh ● Trương Huệ-Ngôn 張惠言 trước, in Hoàng-Thanh Tục-Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng Biên 皇清續經解易類彙編 (tr. 549-554), Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc, Tháng 9-1992.

 

302 Dịch-đồ Minh-biện 易圖明辨, Hồ-Vị 胡渭 trước, in Hoàng-Thanh Tục-Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng-Biên 皇清續經解易類 (tr. 425-547), Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc, Tháng 9-1992.

 

303 Ngu-thị Dịch Tiêu-tức Đồ-thuyết 虞氏易消息圖說, Hồ Tường-Lân 胡祥麟 trước, in Hoàng-Thanh Tục-Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng Biên 皇清續經解易類彙編 (tr. 573-582), Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc, Tháng 9-1992.

 

304  Dịch-số Câu Ẩn Đồ 易數鉤隱圖, Tống Lưu-Mục , tự Trường-Dân 長民 trước, Vũ-lăng, Đài-bắc, tháng 3-1991.

 

305 Dịch-Tượng Đồ-Thuyết Nội-Ngoại Thiên 易象圖說內外篇, Nhất-bản, Nguyên ·Trương-Lư 張理, tự Trọng-Thuần 仲純 soạn, in Thuật-số Tùng-thư #14 (tr. 67-134), Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 7-1995.

338 Tống Nguyên Học-án 宋元學案, Toàn tam Sách, Ngũ-bản, Thanh è Hoàng Tông-Hy 黃宗羲 trước, Thế-giới Thư-cục, Đài-bắc, Tháng 9-1991.

389 Đại-diễn Sách-ẩn 大衍索隱, Tống Đinh Dịch-Đông 丁易東 soạn, in Thuật-số Tùng-thư # 14 (tr. 1-66), Nhất-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

390 Thiên Nguyên Phát Vi 天原發微, Tống Bào Vân-Long 鮑雲龍 soạn, Minh Bào-Ninh 鮑寧 biện-chính, in Thuật-số Tùng-thư # 14 (tr. 135-450), Nhất-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

469 Lă Tổ Toàn-Thư 呂祖全, Sơ-bản, Thuần-Dương Tổ-Sư 純陽祖師 Truyền-thuật, Cát Trường-Diệu 葛長耀 Tán-trợ, Chân Thiện Mỹ Xuất-bản-xă, Đài-bắc, Tháng 3-1980.

470 Thái-Ất Số Thống Tông Đại-Toàn 太乙 數統宗大全, Tam-bản, Tường-hàn-viện-giả Trường-châu Lư Tự Minh 李自明 trước, Chân Thiện Mỹ, Đài-bắc, Tháng 6-1980.

471 Nei Tching Sou Wen, Traduit du chinois par Jacques-André Lavier, Éditions Pardès, Puiseaux, 1990.

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 173

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com