www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 22

 

DỊCH-TƯỢNG-SỐ

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 170) 
 

 

Y-XUYÊN KÍCH-NHƯỠNG TẬP

伊 川 擊 壤 集

 

Trong thi-tập này, không những Y-xuyên Ông làm thơ để khuây khoả, mà c̣n là để năng lạc thời và tự đắc với muôn vật. Ông nói: Tử-hạ bảo: 'Làm thơ để tỏ chí ḿnh'.

Ta bắt gặp đủ thể, đủ loại: phong, nhă, tụng; phú (Lạc-dương Hoài-cổ Phú); ngũ ngôn cổ thi, ngũ-ngôn luật-thi, Thất-ngôn luật-thi, lục-ngôn, ngũ-ngôn tuyệt-cú,

thất-ngôn tuyệt cú.  Sau đây là dăm bài tiêu-biểu:

暮春吟

Mộ xuân ngâm

春來小圃弄群芳 誰為貧居富貴鄉  門外柳陰浮翠潤 階前花影溜紅光
Xuân lai tiểu phố lộng quần phươngThùy vi bần cư phú quư hươngMôn ngoại liễu âm phù thúy nhuậnGiai tiền hoa ảnh lưu hồng quang
樑閒新燕未調舌
 天末歸鴻已著行 自問心源何所有 答雲疏懶味偏長
Lương gian tân yến vị điệu thiệtThiên mạt quy hồng dĩ trước hànhTự vấn tâm nguyên hà sở hữuĐáp vân sơ lăn vị thiên trường

逍遙吟
Tiêu Dao Ngâm

吾道本來平 人多不肯行 得心無後味 失腳有深坑
Ngô đạo bản lai b́nhNhân đa bất khẳng hànhĐắc tâm vô hậu vịThất cước hữu thâm khanh
 若未通天地
 焉能了死生 嚮其閒一事 鬚是自誠明
Nhược vị thông thiên địaYên năng liễu tử sinhHưởng kỳ gian nhất sựTu thị tự thành minh
人生懮不足
 足外更何求  吾生雖未足 亦也卻無懮
Nhân sinh ưu bất túcTúc ngoại canh hà cầuNgô sinh tuy vị túcdiệc dă khước vô ưu
天龢將酒養
 真樂用詩勾 不信年光會 催人早白頭
Thiên ḥa tương tửu dưỡngChân lạc dụng thi câuBất tín niên quang hộiThôi nhân tảo bạch đầu
夜入安樂窩
 晨興飲太龢 窮神知道泰 養素得天多
Dạ nhập an lạc oaThần hưng ẩm thái ḥaCùng thần tri đạo tháiDưỡng tố đắc thiên đa
日月任催盪
 山川徒琢磨 慾求為此者 到了是誰何 
Nhật nguyệt nhậm thôi đăngSơn xuyên đồ trác maDục cầu vi thử giảĐáo liễu thị thùy hà
何事感人深
 求之無處尋 兩儀長在手 萬化不關心
Hà sự cảm nhân thâmCầu chi vô xứ tầmLưỡng nghi trường tại thủVạn hóa bất quan tâm
石裏時藏玉
 砂中屢得金 分明難理會 鬚索入沉吟
Thạch lư th́ tàng ngọcSa trung lũ đắc kim (câm)Phân minh nan lư hộiTu tác nhập trầm ngâm

Đây là 5 bài trong số 135 bài ‘Thủ-vỹ Ngâm’:

堯夫非是愛吟詩 為見聖賢興有時 日月星辰堯則了 江河淮濟禹平之
Nghiêu phu phi thị ái ngâm thi
vi kiến thánh hiền hưng hữu th́Nhật nguyệt tinh thần nghiêu tắc liễugiang hà hoài tể vũ b́nh chi
皇王帝伯經褒貶
 雪月風花未品題 豈謂古人無闕典 堯夫非是愛吟詩
Hoàng vương đế bá kinh bao biếmTuyết nguyệt phong hoa vị phẩm đềKhởi vị cổ nhân vô khuyết điểnNghiêu phu phi thị ái ngâm thi
 

堯夫非是愛吟詩 安樂窩中坐看時 一氣旋回無少息 兩儀覆燾未嚐私
Nghiêu phu phi thị ái ngâm thiAn lạc oa trung tọa khán th́Nhất khí toàn hồi thiểu tứcLưỡng nghi phục đảo vị thưởng tư
四時更革互為主
 百物新陳爭 享了許多家樂事 堯夫非是愛吟詩
Tứ th́ canh cách hỗ vi chủBách vật tân trần tranh hiệu kỳHưởng liễu hứa đa gia lạc sựNghiêu phu phi thị ái ngâm thi


堯夫非是愛吟詩 安樂窩中得意時 誌快不鬚求事顯 書成當自有人知
Nghiêu phu phi thị ái ngâm thiAn lạc oa trung đắc ư th́Chí khoái bất tu cầu sự hiểnThư thành đương tự hữu nhân tri
 林泉且作酬心物
 風月聊充藉手資 多少寬平好田地 堯夫非是愛吟詩
Lâm tuyền thả tác thù tâm vậtphong nguyệt liêu sung tá thủ Đa thiểu khoan b́nh hảo điền địaNghiêu phu phi thị ái ngâm thi


堯夫非是愛吟詩 安樂窩中半醉時 因月因花因興詠 代書代簡代行移
Nghiêu phu phi thị ái ngâm thiAn lạc oa trung bán túy th́Nhân nguyệt nhân hoa nhân hứng vịnhĐại thư đại giản đại hành di
 池中既有雙魚躍
 天際宁無一雁飛 無限交親在南北 堯夫非是愛吟詩
Tŕ trung kư hữu song ngư dượcThiên tế trữ vô nhất nhạn phihạn giao thân tại nam bắcNghiêu phu phi thị ái ngâm thi


 
堯夫非是愛吟詩 詩是堯夫可愛時 寶鑑造形難著髮 鸞刀迎刃豈容絲
Nghiêu phu phi thị ái ngâm thiThi thị nghiêu phu khả ái th́Bảo giám tạo h́nh nan trước phátloan đao nghinh nhận khởi dung ti
風埃若不來侵路
 塵土何由得上衣 慾論誠明是難事 堯夫非是愛吟詩
Phong ai nhược bất lai xâm lộTrần thổ hà do đắc thượng yDục luận thành minh thị nan sựNghiêu phu phi thị ái ngâm thi

 

Giai-Thoại Mai-Hoa Dịch-Số

 

       Các giai-thoại này được góp nhặt từ nhiều văn-liệu như Mai-Hoa Dịch Số, Hoàng Cực Kinh Thế Thư Số cuả Thiệu-tử, hoặc Hoàng-Cực Kinh Thế Tự cuả Thiệu Bá-Ôn, con Ngài.  

Thiệu-tử và Ba Sĩ-tử

        Một hôm có ba sĩ-tử trẩy kinh dự thi, đến viếng thăm Thiệu-tử tại tư-thất. Họ đều hỏi ông khoá thi này có đỗ đạt không ? Ông tiên-đoán cả ba đều đậu. Ông dẫn họ dạo quanh nhà rồi mời họ dùng cơm trưa.

          Trong bữa ăn, gia-chủ nói hoài  về căn nhà ông đang ở, với đầy đủ chi-tiết. Ông nhắc đi nhắc lại lịch-sử cuả miếng đất. Khi dời gót, ba người mới nói với nhau là  ông già lẩm cẩm rồi v́ cứ nhắc đi nhắc có mỗi một chuyện trong suốt bữa cơm.

          Ba sĩ-tử đều đậu. Nhiều năm trôi qua.Thiệu-tử qua đời và một trong các con cháu Người bị người láng giềng kiện về nhà cửa nơi cửa quan. Quan toà chính là một trong ba sĩ-tử kể bên trên.

          Khi bên nguyên kể lể sự t́nh, quan toà sực nhớ lại câu chuyện Thiệu-tử nói năm xưa, và mới hiểu duyên do Ngài cứ nhắc đi nhắc có mỗi một chuyện trong suốt bữa cơm. Nên viên quan bèn phán quyết rằng: căn nhà đúng là cuả con cháu Thiệu-tử.
 

Thiệu-tử và chim cu gáy

          Một hôm Thiệu-tử và một người bạn đi qua một chiếc cầu và nghe tiếng chim cu gáy ở vùng lân-cận. Thiệu-tử thoáng buồn. Người bạn mới hỏi duyên cớ. Ông đáp rằng : "T́nh-h́nh phương bắc sẽ rối ren, bởi chưng chim cu gáy không phải là chim điạ-phương. Chúng đến từ phương nam. Nay chúng đến Lạc-dương có nghiă là  khí-hậu đă thay đổi, đă chuyển từ nam ra bắc. Chẳng bao lâu, miền nam sẽ ảnh-hưởng mạnh đến nơi này. Trong ṿng hai năm, một người miền nam sẽ đến đây làm Tể-Tướng và sẽ làm đảo lộn trật-tự xă-hội và chính-trị cuả đất nước. Sẽ có cuộc nổi loạn, và rợ Hồ sẽ xâm-lăng đất nước một lần nữa".

          Quả nhiên, năm Kỷ-dậu (1069), Vương An-Thạch được làm Tể-tướng, và ban-hành Thanh-miêu-pháp để làm nước mạnh, dân giầu. Tân-pháp gây ra nhiều xáo  trộn trong xă-hội. Sau đó, nông dân nổi loạn và giặc cướp đánh phá cả đến kinh-đô [Xin xem truyện Thủy-Hử cuả Thị Nại Am]. Nhà Vua bị bắt và Kinh-đô dời xuống miền nam. Năm Kỷ-tỵ (1125), rợ Hồ (nước Kim) xâm-lăng Trung-quốc và nhà Tống bị tiêu-diệt.
 

Tiên Đoán An Ninh cuả Thành-đô

        Khi Thiệu Bá-Ôn được bổ làm thẩm-phán-quan ở Thành-đô, thủ-phủ cuả tỉnh Tứ-xuyên, Thiệu-tử bảo con là: "Nơi này sẽ xáo trộn và dân ở đó sẽ trải qua một cuộc bể dâu trong tương-lai". Chỉ có tỉnh Tứ-xuyên là an-b́nh. Theo lời đó, Thiệu Bá-Ôn mới đem cả gia-d́nh dọn nhà sang Tứ-xuyên.

          Mười năm sau giặc Thanh xâm-lăng Hà-nam từ đông-bắc và chiếm luôn kinh-đô và bắt luôn Hoàng-đế. Rất nhiều người bị giết chết hoặc cầm tù. Nhưng con cháu cuả Thiệu-tử được b́nh yên nơi tỉnh Tứ-xuyên.
 

Họ Âu-dương và Thiệu-tử

        Dưới triều Bắc-Tống có một chính-trị-gia kiêm sử-gia tên là Tư-mă Quang (17.11.1019-1086). Khi ông làm Tể-tướng, ông có một thuộc-hạ họ Âu-dương. Trước khi ông này đi công-cán ở một tỉnh khác, ông có dặn là ghé qua Lạc-dương viếng thăm người hiền Thiệu-Ung, là một học-giả uyên-thâm và khả kính.

          Trong cuộc viếng thăm, họ Thiệu kể cặn kẽ cho khách câu chuyện cuộc đời ḿnh và gia-đ́nh ḿnh. Ông kể rất chi-tiết gốc gác cuả họ Thiệu, cuộc hôn-nhân cuả ông, cuộc đời cuả các con ông, ư-nghiă các nghiên-cứu và tác-phẩm cuả chính ông. Ông nhắc đi nhắc lại các dữ-kiện trong suốt cuộc viếng thăm.

          Trước khi chia tay, ông c̣n nhấn mạnh với khách rằng xin nhớ rơ những ǵ tôi nói với ông hôm nay. Họ Âu-dương vừa thắc-mắc, vừa ṭ-ṃ là tại sao ông lại kể đi kể lại chuyện này với ḿnh.

Nhiều năm trôi qua, Thiệu-tử qua đời, và Hoàng-đế ra chỉ-dụ là phải chép cuộc đời ông vào chính-sử cuả bản triều với tên tuổi và sự-nghiêp cuả Thiệu-tử. Họ Âu-dương nay đă cầm đầu Quốc-sử-quán và được giao-phó trách-nhiệm viết Tiểu-truyện cuả Thiệu-tử. Ông có thể viết dễ dàng mà không cần tham-khảo gia-phả nhà họ Thiệu hay các tài-liệu nào khác v́ ông c̣n nhớ rơ các chi-tiết Thiệu-tử đă kể cho ông năm xưa.

Số Mệnh Chiếc Đèn

        Thiệu-tử mua một cái đèn băo. Khi bói số mạng cuả chiếc đèn, ông thấy là nó sẽ là nó sẽ tận-số vào chính ngọ năm, tháng, ngày giờ đó. Ông dùng vào việc bói này, năm, tháng, ngày, giờ khi mua chiếc đèn.

        Ngay trước trưa giờ tận mạng cuả chiếc đèn, ông để cây đèn trên bàn trong thư-pḥng để quan-sát, bởi ông rất ṭ ṃ. Đến giờ ăn trưa vợ ông mời ông vảo ăn, nhưng ông chần chờ v́ muốn mục-kích chiếc đèn bể ra làm sao.

          Cuối cùng Thiệu Bà vào thư-pḥng thấy ông nh́n sừng sửng vào chiếc đèn như một người điên, bà nổi giận nên cầm gậy đập vỡ tan cây đèn, đúng vào thời-khắc tiên-đoán. Thiệu-tử nhẩy chồm lên rồi cười và tự nhủ: hoá ra vậy.

 

Thiệu-tử và những kẻ cắp đào mộ

Khi Thiệu-tử hấp-hối, ông căn dặn con ông là Thiệu Bá-Ôn không được bỏ vào quan tài báu vật nào và cũng dặn là phải mời con gái út người hàng xóm phiá đông đến dự tang-lễ. Thiệu Bá-Ôn tuân-hành nghiêm chỉnh lời cha dặn.

        Nhiều năm trôi qua, người con hay chơi với phường lưu-manh chuyên đào mộ đánh cắp.

          Môt hôm, bọn chúng bàn với nhau nên đào mộ nào và có một đứa nói đến  mộ Thiệu-tử. Chúng bảo nhau là Thiệu-tử nổi tiếng một thời chắc quan-tài hẳn chứa nhiều châu báu.

          Người mẹ nghe lỏm được chúng bàn bạc với nhau, bèn bảo chúng đừng đào trộm làm ǵ, bởi v́ khi c̣n trẻ chính bà đă chứng–kiến lúc an-táng: quan tài chỉ chứa thi thể người chết, ăn mặc quần áo tầm thường.

          Thế là ngôi mộ không bị xâm-phạm nhờ ông tiên đoán, trong tương-lai, người con gái sẽ có con trai là kẻ chuyên đào mả, nên ông mới căn dặn con ông là phải mời người con gái chứng kiến lúc nhập quan.

 

Một Ngày Tết

          Một ngày Tết, hai cha con Thiệu-tử, nghe có người gơ cửa: đó là một người hàng xóm sang muốn mượn cái gi đây. Thiệu-tử hỏi con thử đoán xem người đó sang muợn cái gi ?

          Dùng một tiếng gơ cửa Thiệu Bá-Ôn cho rằng thượng-quái là kiền, có nghiă là một vật ǵ bằng kim-khí và ngắn. Từ năm tháng ngày giờ ông được số 5 là quẻ tốn, có nghiă là bằng gỗ và tương-đối dài. Ông bèn đoán là cái bừa.

          Thiệu-tử bảo : "Sai rồi". Người láng giềng muốn mượn  cây buá bửa củi.

          Người hàng xóm vào nhà và ngỏ ư muốn mượn cây buá để chẻ củi cho vào ḷ sưởi. Khi người hàng xóm đă về, Thiệu Bá-Ôn hỏi cha tại sao lại biết người láng giềng muốn mượn  cây buá bửa củi, chứ không phải mượn cái bừa.

          Thiệu-tử cười và bảo : "Khi ta tiên-đoán phải xét đến thời-gian và hoàn-cảnh. Bây giờ trời đă trở rét, và mặt đất đă phủ tuyết. Ai lại cần chiếc bừa vào lúc Tết Nhất ? Ta biết rằng ngày Tết ai cũng cần sưởi ấm nhà cửa".

          Cho nên khi tiên đoán, không những ta phải dùng kiến-thức và kinh-nghiệm, mà ta c̣n phải dùng kiến-thức và kinh-nghiệm cho thích-hợp với hoàn-cảnh.  

 

THƯ TỊCH KHẢO

 

008 Thập Tam Kinh Chú Sớ 十三經注疏, Nguyễn Nguyên 阮元 hiệu-khắc, Trung Hoa Thư-cục, Bắc-kinh, Tháng 11-1983. 

039 Tham-đồng-khế Chân-chỉ 參同契真指, tam-bản, Đông-Hán ●  Ngụy Bá Dương  魏伯陽Chân-nhân trước, Thê-vân-sơn Ngô-nguyên-tử Lưu Nhất Minh 棲 雲 山悟元 子 劉 一 明 giải, Chân Thiện Mỹ Xuất-bản-xă, Đài-bắc, tháng 11-1983. 

057 Thiết-bản Thần-số Nhập-môn神數入門, Sa-môn Lương Sương-Nhuận 梁湘潤神數trước, Sơ-bản, Văn-nguyên Thư-cục, Đài-bắc, tháng 1-1976.  

058 Thiết-bản Thần-số Bí-Quyển 神數秘倦, Nhất bản, Chu Tấn-Lượng 周進諒 biên-trước, Vũ-lăng nhất-bản, Đài-bắc, tháng 6-1998.

059 Hà-Lạc Lư-số 河洛理數, Tống · Hoa-sơn Hi-di Tiên-sinh Trần-Đoàn 陳摶trước, Tống · Khang-tiết Nghiêu-phu Tiên-sinh Thiệu-Ung 邵雍thuật, Tinh-Tinh xuất-bản-xă, Hongkong.

220 Chu Dịch Chỉ 周易指, 8 Tập, Nhất-bản, Thanh×Hạc-điền Đoan-Mộc Quốc-Hồ 鶴田端木國瑚 soạn, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

234 Chu-Dịch Tập-giải 周易集解, Lư Đỉnh Tộ 李鼎祚 soạn, in lần thứ nh́, Bắc-kinh thị Trung-quốc Thư-điếm xuất-bản, Bắc-kinh, tháng 10-1987. 

259 Tiêu-thị Dịch-Lâm 焦氏易林, Tái-bản, Tiêu Diên-Thọ 焦延壽soạn, Nghệ-văn Ấn-thư-quán ấn-hành, Đài-bắc, tháng 6-1983. 

260 Dịch-Lâm Thích-văn 易林釋文, Nhất-bản, Sơn-dương Đinh Án 山陽丁 trước, in Thuật-số Tùng-thư 15 (tr. 263-426), Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

267 Chu Dịch Tuân-thị (128-190) Cửu-gia Nghiă 周易荀氏九家義, Thanh è Trương Huệ-Ngôn 張惠言 trước, in Hoàng-Thanh Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng-Biên 皇清經解易類 (tr. 803-7), Tái-bản, Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc, Tháng 9-1992.

248 Dịch Đồ Lược 易圖略, Tiêu-Tuần 焦循 (1763-1820) soạn, in Hoàng-Thanh Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng Biên 皇清經解易類 (tr. 1161-1217), Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc.

266 Trọng-thị Dịch 仲氏易, Thanh è Tiêu-sơn Mao Kỳ-Linh 蕭山毛奇齡 trước, in Hoàng-Thanh Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng-Biên 皇清經解易類 (tr. 145-329), Tái-bản, Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc, Tháng 9-1992.

269 Dịch-học Ngũ Thư 易學五書, Thanh è Vương-Chấn 王震 trước, Hoa-Chính Thư-cục, Đài-bắc, 1974, trong sách đó có: Hoàng Cực Kinh Thế Yếu Lược 皇極經世要略.

271 Lai Chú Dịch-Kinh Đồ-Giải 易經圖解, Sơ-bản, Minh è Lai Tri-Dức 來知德 chú, Vũ-lăng Xuất-bản-xă, Đài-bắc, Tháng 9-1987.

272 Dịch Kinh Lai Chú Đồ Giải 易經來圖解, Trịnh Sán 鄭燦 đính-chính, Lư-Hoàn 李寰 phụ-khảo, Trung-Quốc Khổng-học-hội Tàng-bản, Đài-bắc, Tháng 9-1971.

275  Chu Dịch Tượng-Tượng Quản Kiến 周易像象管見, Minh è Tiền Nhất-Bản 錢一本 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập IX, Sơ-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983.

276 Chu Dịch Tượng-Tượng Thuật 周易像象述, Minh è Ngô Quế-Sâm 吳桂森 soạn, in Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập IX, Sơ-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1983. 

277 Tam-Dich Đỗng-Ky 三易璣, Minh è Hoàng Đạo Chu 黃道周 soạn, in Thuật-số Tùng-thư 15 (tr. 7-261) , Nhất-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 7-1995. 

296 Dịch Thông Thích 易通釋, Tiêu-Tuần 焦循 (1763-1820) soạn, in Hoàng-Thanh Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng Biên 皇清經解易類 (tr. 877-1143), Nghệ-văn Ấn-thư quán, Đài-bắc.

299 Hoàng-cực Kinh-Thế Tự-Ngôn 皇極經世緒緒, Tam Xuyên Thiệu Ung Nghiêu-phu 三川邵雍堯夫 trước, Hiệu Kinh Sơn-Pḥng, Thượng-hải, 1920.

306 Dịch Thông Biến 易通變, Nhất-bản, Tống  Trương Hành-Thành 張行成 soạn,  in Thuật-số Tùng-thư #6 (tr. 204-368) & #7 (tr. 1-367), Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 4-1995. 

317 Hoàng-Cực Kinh-Thế Quan-vật Ngoại-thiên Diễn-nghiă 皇極經世觀物外篇衍義, Sơ-bản, Tống Trương Hành-Thành 張行成 soạn, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 3-1991.

335 Chu-Dịch Tập-giải Toản-sớ周易集解攥疏, tái-bản, Đường è Lư Đỉnh Tộ 李鼎祚 tập-giải, Thanh è Lư Đạo-B́nh toản-sớ, Quảng-văn Thư-cục, Đài-bắc, Tháng 6-1989.

348 Chu Dịch Diêu-thị Học 周易, Thanh è Diêu-Phối-Trung 姚配中 soạn, in Tục Hoàng-Thanh Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng-Biên 皇清經解易類 (tr. 199-369), Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc.

391 Hoàng-Cực Kinh-Thế Sách Ẩn 皇極經世索隱, 2 Quyển, Tống  Trương Hành-Thành 張行成 soạn, in Thuật-số Tùng-thư 6, Nhất-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

392 Hoàng-Cực Kinh-Thế Quan-vật Ngoại-thiên Diễn-nghiă 皇極經世觀物外篇衍義, 8 Quyển, Sơ-bản, Tống Trương Hành-Thành 張行成 soạn, in Thuật-số Tùng-thư 6, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 7-1995.

399 Hoàng-Cực Kinh-Thế Thích-nghiă 皇極經世, Nhất-bản Nhị-loát, Minh Dư Tử-Hoa 余子華 soạn, Đổng Quốc-Tuấn 董國俊 hiệu-duyệt, Tiết-Thần 薛晨 đính-chính, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 4-1991.

400 Dịch-Kinh Hoàng-Cực Kinh-Thế Biện-thích 皇極經世觀物外篇衍義, Sơ-bản, Trương Sùng-Tuấn  trước,  Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 9-1993.

424 Hoàng Cực Kinh Thế Bí-bản 皇極經世秘本, Tống è Tam Xuyên Thiệu Ung Nghiêu-phu 三川邵雍堯夫 trước, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 12-1997.

425 Dịch Nguyên Hội Vận 易元會運, Tái-bản, Mă Hàn-Như 馬瀚如 trước, Trung-Hoa Văn-hoá Học-xă, Hongkong, Tháng 04-1982.

426 Hoàng Cực Bí Số 皇極 秘數, Nhất-bản, Dịch Chính Sơn-nhân 易正山人 trước, Vũ-lăng, Đài-bắc, Tháng 07-1999.

463 Dịch-học Tượng-số-luận 易學象數論, Thanh Hoàng Tông-Hy 黃宗羲 trước, Quảng-nhă Thư-cục San Bản, 1893.

464 Ngu-thị Dật-Tượng Khảo-chính Tục-toản 虞氏逸象考正續纂, Ô-tŕnh Kỷ-Lỗi 烏程紀磊trước, Ngô-Hưng Lưu-thị Gia-nghiệp-đường San Bản.

465 Tiêu-thị Dịch-lâm Chú焦氏易林注, Đệ-tam Bản, Thượng Bính Hoà 尚秉和 (1870-1950) trước, Thượng Bính-Nghiă điểm-hiệu, Quang-Minh Nhật-báo Xuất-bản-xă, 1-1-2006.

466 Tiêu-thị Dịch-hỗ 焦氏易, Thượng Bính Hoà 尚秉和 trước, Cửu-Châu Xuất-bản-xă, 2010.

467 Trung-quốc Quốc-vận Chi Dự-ngôn 中國國運之預言 , Sơ-bản, Viên Thiên-Cương 袁天罡  & Lư Thuần-Phong 李淳風trước, Chân Thiện Mỹ Xuất-bản-xă, Đài-bắc, Tháng 10-1974.

468 I Ching Numerology, by Da Liu, Based on Shao Yung's Plum Blossom Numerology, Harper &  Row,Publishers, New York, Hagerstown.

479 Dụng Dịch Tường-Giải 易詳解, Tống Lư-Kỷ soạn, Đại-Dịch Lọai-Tụ Sơ-tập V (tr. 529-758), Sơ-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, tháng 10-1983.

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 172

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com