www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Hán Việt Dịch S Lược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở về Trang Tác Giả

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 22

 

DỊCH-TƯỢNG-SỐ

 



 

 (Tiếp theo Kỳ 169) 
 

Thiệu-tử

 

Tiểu-Truyện Thiệu-tử

 

Thiệu-tử (25.12.1011-1077), húy Ung , tự Nghiêu-phu, thụy-hiệu Khang-tiết 康節, tự hiệu An-Lạc Tiên-sinh và Y-xuyên Ông, người đời sau tôn xưng là Bách-nguyên Tiên-sinh. Ông sinh giờ giáp-tuất, ngày giáp-tư, tháng tân-sửu, năm tân-hợi, tức Bắc-Tống Chân-tông Đại-trung Tường-phù năm thứ tư. Ông là Triết-gia kiêm trị-dịch-gia trứ danh đương thời.

Nội-tổ húy Đức-Tân, thân-phụ húy Cổ, đều ẩn-đức không ra làm quan. Thuở nhỏ theo cha dọn nhà sang Công-thành rồi sang Hoành-chương (nay là Lâm-huyện, tỉnh Hà-nam). Năm 26 tuổi (1036), mẹ ruột mất, cha tục-huyền với con gái họ Dương. Năm 37 tuổi (1047) lại di-cư sang Lạc-dương. Năm 45 tuổi (1055), nhà nghèo không lấy vợ được, Kinh Thái-học Bác-sĩ Khương Tử-Phát và Lộc-châu Trương Mục-Chi làm mối, nên lấy em gái cuả Vương Doăn–Tu làm vợ. Hai năm sau, sinh con là Thiệu Bá-Ôn. Năm 57 tuổi, thân-phụ ông là Thiệu-cổ (Y-xuyên Trượng-nhân) tạ-thế, ông và Tŕnh-Hạo đang ở Y-xuyên Thần-âm-nguyên (nay là Y-thủy dưới chân núi Tây-sài-kinh ở huyện Y-xuyên), không tin theo sách vở về chôn cất cùng là Điạ-lư để chọn đất an-táng cho phụ-thân. Hai năm sau, Thiệu-Mục, em cùng cha khác mẹ cuả ông chết đột-ngột ở duới chân núi Đông-ly, ông thuơng xót vô cùng, nên làm mấy bài thơ tưởng-niệm.

Tự hùng tài, hoài-băo cao xa. Tự nhủ sự-nghiệp tiên-vương có thể hoàn-thành.  Trú ngụ núi Tô-môn thuộc đất Bách-nguyên. Ăn mặc thô sơ, thờ cha rất mực khắc khổ tự-lệ nhiều năm, riết rồi than rằng: "Người xưa chuộng bạn thiên-cổ, riêng ta chưa đi khắp bốn phương". Nói rồi, vượt Hoàng-hà, sông Phần, sông Hoài, sông Hán. Chu du bốn nước Tề, Lỗ, Tống, Trịnh, rồi mới trở về nhà. Thời đó, Bắc-hải Lư Chi Tài đang làm Công-thành-lệ, dạy cho ông cái học về Đồ-thư, Tiên-thiên Tượng-số. Tiên-sinh thám trách, sách-ẩn, diệu-ngộ thần-khế, tâm-đắc rất nhiều. Năm Nhân-tông Hoàng-hựu nguyên-niên (1049), định-cư ở Lạc-dương, lấy dạy học làm kế sinh-nhai. Hoàng-hựu thất niên (1062), Tây-kinh lưu-thú xây cho ông một căn nhà 30 gian, đặt tên là 'An Lạc Oa', nhân đó ông mới tự hiệu là An-lạc Tiên-sinh. Nhân-tông Gia-hựu cùng là Thần-tông Hi-ninh sơ, ông bị hiếu cử hai lần, nhưng đều cáo ốm không nhận chức. Khi bọn Phú-Bật, Tư-mă Quang, Lă Công-Trứ, Tŕnh-Hạo, Tŕnh Di, Trương-Tái về hưu ở Lạc-dương, họ thường đến chơi với ông. Năm Hi-ninh thứ 10, ông mất, thọ 67 tuổi. Dưới triều Triết-tông Nguyên-hựu (1077), ông được phong thụy-hiệu Khang-Tiết.

      
Tác-phẩm cuả ông gồm có: Hoàng-cực Kinh Thế 皇極經世, Quan Vật Nội Ngoại Thiên 關物內外篇, Y-xuyên Kích-Nhưỡng Tập 伊川擊壤集 và Ngư Tiều Vấn Đối 漁樵問對.

Tiên-sinh không những thành-công về Lư-học, Dự-trắc-học mà c̣n viết ra Mông-học Thi cho trẻ con: "Nhất khứ nhị, tam lư, Yên-thôn tứ, ngũ gia, Tiền đ́nh lục thất toạ, Bát, cửu, thập chi hoa". Toàn bài b́nh-dị, âm-vận hoà-giai, chỉ dùng chữ số cũng đủ vẽ nên bức tranh hương-thôn phác-thực.

      Trong Y-Xuyên Kích-nhưỡng Tập 伊川擊壤集  có bài thơ 'Thư Hoàng-Cực Kinh Thế Hậu 書皇極經世後' rằng:

樸散人道立
Phác tản nhân đạo lập

法始乎羲皇
Pháp thủy hồ Hy Hoàng

歲月易遷革
Tuế nguyệt dị thiên cách

書傳難考詳
Thư truyện nan khảo tường
二帝啟禪讓
Nhị đế khải thiện nhượng

三王正紀綱
Tam vương chính kỷ cương
五伯仗形勝

Ngũ bá trượng h́nh thắng

七國爭強樑
Thất Quốc tranh cường lương
兩漢驤龍風

Lưỡng Hán tương long phong

(tương = ngựa chạy nhanh)
三分走虎狼

Tam phân tẩu hổ lang

西晉擅風流

Tây tấn thiện phong lưu

君兇來北荒

Quân hung lai bắc hoang

東晉事清芬

Đông Tấn sự thanh phân

傳馨宋齊樑

Truyền hinh Tống Tề Lương

逮陳不足算

Đăi trần bất túc toán

江錶成悲傷

Giang biểu  thành bi thương

(biểu = đồng-hồ đeo tay)
後魏乘晉弊

Hậu Ngụy thừa Tấn tệ

掃除幾小康

Tảo trừ ki tiểu khang

遷洛未甚久

Thiên lạc vị thậm cửu

旋聞東西將
Tuyền văn đông tây tương
北齊舉爝火

Bắc Tề cử tước hỏa

後周馳星光
Hậu Chu tŕ tinh quang
隋能一統之

Tùy năng nhất thống chi

駕福於臣唐

Giá phúc ư thần đường

五代如傳捨

Ngũ Đại như truyền xả

天下徒擾攘

Thiên-hạ đồ nhiễu nhương

不有真主齣

Bất hữu Chân Chủ xích

何由奠中央 

Hà do điện trung ương

一萬裏區宇

Nhất vạn khu vũ

四韆年興亡
Tứ thiên niên hưng vong
五百主肇立

Ngũ bách chủ triệu lập

七十國開疆

Thất thập quốc khai cương

或混同六合

Hoặc hỗn đồng lục hợp

或控製一方

Hoặc khống chế nhất phương

或創業先後

Hoặc sáng nghiệp tiên hậu

或垂祚短長

Hoặc thùy tộ đoản trường

或奮於將墜

Hoặc phấn ư tương trụy

或奪於已昌

Hoặc đoạt ư kỷ xương

或災興無妄

Hoặc tai hưng vô vọng

或福會不祥

Hoặc phúc hội bất tường

或患生藩屏

Hoặc hoạn sinh phiên b́nh

或難起蕭牆

Hoặc nan khởi tiêu tường
或病由脣齒

Hoặc bệnh do thần xỉ

或疾亟膏肓

Hoặc tật cức cao hoang

談笑萌事端

Đàm tiếu manh sự đoan

酒食開戰場

Tửu thực khai chiến trường

情慾之一髮

T́nh dục chi nhất phát

利害之相戕

Lợi hại chi tương tường

劇力恣吞噬

Kịch lực tứ thôn phệ

無涯罹禍殃

Vô nhai li họa ương

山川才錶裏

Sơn xuyên tài biểu lư

坵壟又荒涼
Khâu lũng hựu hoang lương
荊棘除難儘

Kinh cức trừ nan tẫn

芝蘭種未芳

Chi lan chủng vị phương

龍蛇走平地

Long xà tẩu b́nh địa

玉石碎崑崗

Ngọc thạch toái côn cương

善設稱周孔

Thiện thiết xưng Chu Khổng

能齊是老莊

Năng tề thị Lăo Trang

奈何言已病

Nại hà ngôn dĩ bệnh

安得意都忘

An đắc ư đô vong

Lại cũng có bài thơ 'An-lạc Oa trung nhất bộ thư 安樂窩中一部書' rằng:

安樂窩中一部書
An lạc oa trung nhất bộ thư

號雲皇極意如何 
Hiệu vân hoàng cực ư như hà

春穐禮樂能遺則
Xuân thu lễ nhạc năng di tắc

(chữ thu nghiă là muà thu, cổ-văn viết là)

父子君臣可廢乎 
Phụ tử quân thần khả phế hồ

浩浩羲軒開闢後
Hạo hạo hy hiên khai tịch hậu

巍巍堯舜協龢初
Nguy nguy Nghiêu Thuấn hiệp ḥa sơ

炎炎湯武幹戈外
Viêm viêm Thang Vũ can qua ngoại

洶洶桓文弓劍餘
Hung hung hoàn văn cung kiếm dư

日月星辰高照耀
Nhật nguyệt tinh thần cao chiếu diệu

皇王帝伯大舖舒
Hoàng vương đế bá đại phô thư

幾韆百主齣規製
Ki thiên bách chủ xích quy-chế

數億萬年成楷模
Sổ ức vạn niên thành giai mô

治久便懮強跋扈
Trị cửu tiện ưu cường bạt hỗ

(ưu = dáng mạo âu sầu)

患深仍念惡驅除
Hoạn thâm nhưng niệm ố khu trừ

才堪命世有時有

Tài kham mệnh thế hữu thời hữu

智可濟時無世無

Trí khả tế thời vô thế vô
既往儘歸閑指點

Kư văng tẫn quy nhàn chỉ điểm

未來鬚俟别支梧
Vị lai tu sĩ biệt chi ngô
不知造化誰為主

Bất tri tạo hóa thùy vi chủ

生得許多奇丈夫

Sinh đắc hứa đa kỳ trượng phu

Và cũng có bài thơ 'Hoàng-Cực Kinh Thế Nhất Nguyên Ngâm 皇極經世一元吟' rằng:

天地如蓋軫
Thiên địa như cái chẩn

覆載何高極
Phục tái hà cao cực
日月如磨蟻

Nhật nguyệt như ma nghĩ

往來無休息

Văng lai hưu tức

上下之歲年

Thượng hạ chi tuế niên

其數難窺測
Kỳ số nan khuy trắc
且以一元言

Thả dĩ nhất nguyên ngôn

其理尚可識

Kỳ lư thượng khả thức

一十有二萬

Nhất thập hữu nhị vạn

九韆餘六百

Cửu thiên dư lục bách

中閒三韆年

Trung gian tam thiên niên

迄今之陳跡

Hất kim chi trần tích

治亂與廢興

Trị loạn dữ phế hưng

著見於方策
Trước kiến vu phương-sách
吾能一貫之

Ngô năng nhất quán chi

皆如身所曆

Giai như thân sở lịch

 

Đọc ba bài thơ này ta mới nghiệm ra rằng HCKT chằng qua là một pho sách bắt gốc từ thiên-đạo, nhưng lấy chất-liệu từ nhân-sự. Danh-xưng 'Hoàng-cực' mượn từ thiên Hồng-phạm trong Kinh Thư: trong cửu-trù 'Ngũ Hoàng-cực' đứng chính giữa, tức thị nói là phép tắc Hoàng Đế thống-trị Trung-quốc. C̣n 'Kinh Thế' là mục 'Dĩ Vận Kinh Thế': Kinh thế 3600 năm lịch-sử từ năm 2577 BC đến năm 1023, hay nói đúng hơn là từ năm 2357, là năm Đế Nghiêu lên ngôi, đến năm 963, là năm Tống Thái-tổ Kiến-long năm thứ tư, là năm dưới núi mới b́nh-định hoàn toàn (Lời Trần-Đoàn nói khi thấy Tống Thái-tổ đăng-cực). Thời–gian trải qua 3320 năm ứng với câu 'Trung gian tam thiên niên' cuả bài thơ 'Hoàng-Cực Kinh Thế Nhất Nguyên Ngâm'.

 

 

*

* *

 

 

 

Xem Kỳ 171

 

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com