www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

3    |    4   |   5 

6   |    7   |   8

    9   |   10  |   11  

  12  |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

18

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 

CHƯƠNG 03

 

THIÊN-VĂN LỊCH TOÁN

 

 

  (Tiếp theo Kỳ 16)

 

IV  MƯỜI BA CON GIÁP

 

 Trên nguyên-tắc khi bổ số Tử-vi ta cần biết giờ địa-phương thực t́m được bằng cách tính hiệu-sai xích-kinh ∆t , giữa thời-gian ts của Mặt Trời thật và thời-gian t của mặt Trời Trung-b́nh có thể suy từ biểu-thức Phương-tŕnh thời-gian (time equation) như sau:

trong đó:

  • M là cận-điểm-giác b́nh-nhật (The Sun’s mean anomaly),
  • lp = 4.9358 = 282.80 là góc vectơ bán-kính điểm xuân-phân g làm với đại-kính trong mặt phẳng Hoàng-đạo,
  • α  là nhật-xích-kinh (tuỳ thuộc M),
  • ωu= 1 ṿng/mỗi ngày = 0.001389π min-1 là suất công-chuyển của địa-trục (ngày ở đây là ngày Mặt Trời trung-b́nh).

 

H́nh I

 

H́nh II

Muốn tính a(M) trong ∆t chúng ta c̣n phải tính ba góc nữa:

  • cận-nhật-giác thuẫn-sai (The Sun’s eccentric anomaly),
  • cận-nhật-giác thực (The Sun’s true anomaly),
  • λ = v + λp góc giữa các vectơ bán-kính của điểm xuân-phân và của Măt Trời trong mặt phẳng Hoàng-đạo.

Trong H́nh I, một quan-sát-viên địa-cầu-hệ (geocentric) nh́n theo pháp-tuyến với Hoàng-đạo sẽ thấy 6 góc (M, λp, α, v, λ, u) cần-thiết để tính ∆t Gọi c là số thế-kỷ trong Lịch Julian (julian-centuries). Trong H́nh II, ta thấy tất cả 6 góc này dưới mắt của quan-sát-viên nh́n Thiên-cầu và Hoàng-đạo từ Trái Đất, với độ xiên (obliquity) là  e =  23026’21.448” + (-46.8150” x c – 0.00059” x c2 + 0.001813” x c3)  và suất viên-sai là e = [1 – (b/a)]1/2 = 0.016708617 – 0.000042037 x c – 0.0000001236 x c2.

Bây giờ, với một trị-số 0 ≤ M ≤ , ta có thể tính a(M) bằng phương-cách sau đây:

Ta biết rằng phương-tŕnh Kepker (K1) của Bài kỳ 15 là:

M = u - esin u = 2π nC

Ta không thể tính trực-tiếp u được v́ sinu là một hàm-số siêu-việt, nhưng ta có tính trị-số của nó  bằng đồ-thị, bằng lặp luân-hồi hay bằng một luận-thức số nào khác.

Một khi biết được u rồi, ta có thể tính v  bằng phương-tŕnh Kepker (K2):

Trị-số của λ = ν + λp biến-thiên không đều theo M v́ quỹ-đạo h́nh thuẫn. Nếu quỹ-đạo tṛn (e = 0) ta sẽ có:  λ = M + λp .

Khi đă biết λ rồi, ta chỉ việc tính α bằng lượng-giác cầu trong tam-giác vuông của H́nh I:

α = tan-1[(cos ε)(tan λ)]


Bài tâp cho các độc-hữu khuynh-toán

T́m nhánh đúng cho hàm-số đa-trị  tan-1x sao cho v  xử-sự như một hàm-số liên-tục của E(M), khởi từ điểm ν(E=0)=0. Tính trị-số của tan-1x bằng máy tính bỏ túi (nên nhớ là góc tính bằng radian!).

Tương-tự, t́m nhánh đúng cho tan-1x sao cho α  thành một hàm-số liên-tục của λ(M) khởi từ điểm α(λ=0)=0

Nếu địa-trục thẳng góc với Hoàng-đạo (ε= 0), ta sẽ có α = M + λp , nên ∆t = 0: khi đó Mặt Trời thực biểu-thị bằng nhật-quỹ-nghi 日晷儀 tức quy-nghi 規儀 (sundial) và đồng-hồ sẽ cho cùng môt giờ.

Rút cuộc, ∆t có thể tính bằng cách dùng trị-số đầu của M mà tính  α (M).  Kết-quả sẽ được tŕnh-bày trong một bảng trị-số hay bằng một đường biểu-diễn của ∆ttheo n, với 0 ≤ n ≤ C. C chính là là tuế-thực: C = 365.242179 ngày, nên chi:

 Hiện nay Người Việt tự-do thường dùng một loại Lịch Ta, hậu-thân của Lịch Tam-Tông-Miếu hoặc là hoá-thân của một vạn-niên-lịch Tầu nào đó. Như ta biết ở trên, các loại lịch này chưa áp-dụng trọn vẹn 4 quy-tắc tân-tiến làm lịch nêu trên. C̣n Lịch Hà-nội (căn-cứ vào kinh-tuyến của Hà-nội chứ không dựa vào kinh-tuyến gốc 1050 của múi giờ 7) mà nhiều kiều-bào đôi khi trót dùng, lại mắc thêm chứng bất-trị là Tết có thể sớm một ngày, đôi khi lại sớm cả tháng, như năm 1985 chẳng hạn. Lại nữa, ba thứ lịch vừa kể đều căn-cứ theo múi giờ 7 (Việt-Nam) hoặc 8 (Trung-quốc) . Thế mà Dân Việt nay đă sinh và sống trên khắp thế-giới, nghĩa là trên cả 24 múi giờ. Nên chi tối-thiểu phải làm ra  2 x 24 = 48 thứ lịch khác nhau cho mọi múi giờ và cho cả Bắc lẫn Nam-bán-cầu. Ôi, phiền-toái quá! May thay, mới đây tôi mới sáng-chế ra một thứ lịch điện-toán duy-nhất mệnh-danh là Lịch Lĩnh-Nam hay Lịch Nam, dựa theo câu Hán-thi 'Việt Điểu Sào Nam Chi 'trong bài 'Hành Hành trùng Hành Hành' (1B, tr. 417), và không dùng bảng lập-thành (lookup tables) để thay thế các Lịch Ta, Lịch Tầu sẵn có, thường dùng để xem số. Trong Quy-tắc 1,  Lich này chọn Kinh-tuyến Greenwich làm chuẩn, cho nên ứng với Giờ phổ-quát UT (Universal Time) của múi giờ gốc.Thế mới biết:

Lịch Nam, Lịch Bắc, Lịch Tầu,
Trong ba lịch ấy, đứng đầu Lịch Nam.
 

Tại sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng, là Hà-nội làm Lịch Ta không giống ai, kể cả  Trung-quốc?

   Số là trước Cuộc Tổng-công-kích/Tổng-khởi-nghĩa Tết Mậu-Thân (1968), một năm con khỉ lịch-sử, chính-quyền Hà-Nội, với sự cố-vấn của GS Toán Nguyễn-Xiển, ngày 8/8/1967, đă âm-mưu sửa Lịch Ta cho nhanh một ngày bằng cách chọn Kinh-độ của Hà-nội (105050' Đông) thay v́ kinh độ gốc 1050 Đông của múi giờ 7. Và để ít lâu sau, đúng ngày Tết dương-lịch 1968, Hồ Chủ-tịch mới có dịp đọc bốn câu thơ sau đây trên đài phát-thanh Hà-Nội:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam Bắc thi-đua đánh giặc Mỹ.

Tiến lên !

                   Toàn-thắng ắt về ta ! 

Vâng! Cuộc đánh úp của Miền Bắc trên khắp Bốn Vùng Chiến-thuật  trong năm tháng đầu năm 1968, quả là một thắng-lợi thụt lùi thành là thua lỗ về tổng-số binh lính chết (60.000), bị cầm tù (10.000), đầu hàng (6000), vũ-khí đánh mất đủ loại  (trên 17.000), sau khi đă thủ-tiêu và chôn sống hàng ngàn đồng-bào vô-tội tại cố-đô Huế. 

Vải thưa che mắt Thánh. Cụ Hăn có than phiền (2AG, tr. 73) khi đọc thấy là trong sách 'Bảng Đối-chiếu Âm-dương-lịch' do Nguyễn Trọng-Bỉnh, Nguyễn-Linh và Bùi Viết-Nghị  soạn (Nhà Xuất-bản Khoa-học Xă-hội, Hà-nội, 1976) , bảng đối-chiếu sóc nhuận giữa Lịch Ta/Lịch Tầu trong thời-khoảng 1644-1999, bắt đầu từ năm 1664, đă không dùng Bách-trúng-kinh tức là Lịch Khâm-thụ thời Lê-Trung-hưng, rồi Nhà Nguyễn Tây-Sơn, Triều Nguyễn (cho đến  năm 1812: Vua Gia-Long mới  đổi theo Lịch Th́-hiến của Nhà Thanh vào năm 1813),  nhưng căn cứ vào múi giờ 7 của Việt Nam, mà lại dùng ngay Lịch  Th́-hiến, căn cứ vào múi giờ 8. Do đó mỗi đầu ngày sóc của mỗi tháng ở vạn-niên-thư c̣n ăn vào ngày hôm trước đối với lịch Việt-nam. Thành thử ra các tác-giả muốn chữa theo lịch Th́-hiến phải tính lại hoàn-toàn ngày sóc, tháng thiếu, tháng đủ, và tháng nhuận. Thậm chí bắt đầu từ năm 1901, họ lại dùng Lịch Việt-Nam mới ban hành sau này (8-8-1967) và căn-cứ theo kinh-độ Hà-Nội. Hoá ra là các tác-giả nêu trên chỉ muốn lừa dối nhân-dân và người Việt hải-ngoại nhẹ dạ trót dùng lịch giả hiệu của Hà-Nội, bất chấp chân-lư muôn đời là lịch chân-chính phải đi đôi với Sử-học.

Một nghi-vấn sử-thực khác cần được làm sáng tỏ là Ngày khởi-nghĩa của B́nh-Định-Vương Lê Lợi. Năm 2005, nhân một chuyến thăm GS Lê Hữu Mục ở Montréal, Cụ có hỏi tôi là tại sao sách vở Hà-Nội mỗi chỗ chép một khác. Trong Nguyễn Trăi Đánh giặc cứu nuớc (Quân-đội Nhân-dân, 1973),Nguyễn Lương Bích tính ra là ngày 8 tháng Giêng. Sách Nguyễn Trăi, Khí phách và Tinh-hoa của Dân-tộc (Nhà xuất-bản Khoa-học Xă-hội, Hà-nội, 1980), nhóm học-giả Viện Văn-học chép: 9 tháng Giêng là ngày địch tới đánh Lê-Lợi. Theo Đại-Việt Sử-kư Toàn-thư (3AW, Tập II, tr.241) và Đại-Việt Thông-sử 大越通史 tức Lê-triều Thông-sử 黎朝通史 của Bảng-nhăn Lê Quư Đôn 黎貴敦(1726-1784), ngày khởi-nghĩa là ngày Canh-thân. Lê Quư Đôn Tiên-sinh tính là ngày mùng 2 tháng Giêng ÂL. Trong bản dịch Toàn-thư Bản-kỷ ghi là nhằm ngày 7.2.1418.Ai đúng, ai sai?

Luận-giả Án:

Trước tiên, hăy vào vơng-chỉ  http://www.imcce.fr/imcce_en.html. Nhấn vào hyperlink Astronomy FOR ALL rồi vào hyperlink Moon Phases. Bỏ 1418 vào ô Year between -4000 and +2500 , bỏ 2 vào ô Month . Nhấn nút calculate, ta sẽ thấy: NEW MOON 05 February 1418 at 22h08m UTC, nhưng v́ VN ở múi giờ 7 nên phải cộng thêm 7 giờ: NEW MOON 06 February 1418 at 05h08m UTC. Tính tổng-nhật-sai giữa 1.1.1864 và 1.1.1418 ta được:

Σ = 1864.01.01 – 1418.01.01 = 446.00.00 = 162898 º 58

Ta biết rằng ngày 1.1.1864 là ngày Ất-sửu (22) và từ 1.1.1418 đến 7.2.1418 là 37

ngày. Do đó:  σ 6 κ –  5 χ = 60 + 22 – (37 + 60 - 58) = 82- 35 = 47. Nhưng v́ Giáo-hoàng Gregory XIII đă dời ngày 5.10.1582 sang ngày 15.2.1582, nên ta mất 10 ngày, nên chi phải cộng thêm 10: σ 6 κ –  5 χ = 47 + 10 = 57. Rút cuộc: κ = 7 (Canh) và  χ = 9 (Thân). Kiểm! QED.

Toàn-thư Bản-kỷ (Q.X, tờ 1b) chép rơ là Vương sinh ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất-sửu, niên-hiệu Xương Phù thứ 9 (1385) đời Trần, tại làng Chủ-sơn, huyện Lôi-dương, nay thuộc phủ Thọ-xuân tỉnh Thanh-hoá. Tinh-ư một chút, chúng ta thấy ngay là Vuơng sinh giờ Tư (Thân lập thân). Lớn lên, Vương là người tuấn-tú, tiếng nói như đại-hồng-chung, đi như rồng, bước như hổ. Trước mắt những người có kiến-thức Vương được coi là bậc phi-thường. 


Lá số Tử-vi của B́nh-Định-Vương Lê-Lợi

 Trước khi đọc tiếp xin quư-vị đọc lại bản Việt dịch bài B́nh Ngô Đại Cáo của Cụ Bùi-Kỷ nơi cuối bài . Bây giờ xin mời quư độc-giả thích hoặc sành Tử-vi theo dơi: ngày giờ xuất-quân dấy nghĩa vào khoảng giờ Giáp-thân, ngày Canh-thân, tháng Giáp-Dần, năm Mậu-tuất. Lưu-niên tiểu hạn đương-số 34 tuổi ở Sửu, lưu-nguyệt ở Ngọ, lưu-nhật ở Mùi, lưu-thời ở Măo (kiểm!). Ở cung xuất-quân này có Tả-phù, Hữu-bật hộ-vệ, có bản-số Tam Hoá Liên Châu ở Măo-Th́n-Tị đi tiền-phong, có đại-hạn Tam Hoá Liên Châu ở Sửu-Dần Măo đi hậu-vệ. Thảo nào nghĩa-quân cả thắng quân của Mă-Kỳ tại núi Chí-linh ở địa-phận Mường Giao-lăo, nay thuộc địa-hạt phủ Trấn-định, tỉnh Nghệ-an.

 

Bài Tập

 

Chứng tỏ qua các cung cường-nhược, đây là một lá số Đế-vương.

Ngày nay, khi phân-dă nghĩa là chia các nước cho 12 cung Hoàng-đạo từ Tư đến Hợi, ta thường dùng hai h́nh xoắn óc âm-dương, tương-tự như h́nh xoắn ốc kép (double helix)  của DNA  (Deoxyribonucleic Acid) do hai nhà bác-học James Dewey Watson, Francis Crick khảm-phá và cùng được lănh Giải-thưởng Nobel Sinh-lư-học hoặc Y-khoa năm 1962 với Maurice Wilkins. T́nh cờ hai nước Trung-hoa và Việt-nam truyền-thống đều thuộc Cung Th́n (Con Rồng); hai nước Mỹ và Pháp đều thuộc Cung Dậu  (Con Gà) v.v. Dám hỏi ngày nay, nước CHXHCNVN thuộc về Con Giáp nào? Đang tâm sửa lịch để phục-vụ một ư-thức-hệ, nếu phải xem số mệnh cho nước CHXHCNVN cho chắc chắn, ắt ta phải chế ra Con Giáp thứ 13 thế nào cho phải lẽ. Hỏi tức là trả lời vậy. Thế mới biết:   

Tố phú-qúi hành hồ phú-qúi; tố bần-tiện hành hồ bần-tiện. (Trung Dung, Chương XIV) 富貴行乎富貴, 貧賤行乎貧賤 (禮記,第三十一章 É 中庸,第十四章) (1H, tr. 1627b; 2A. tr. 26). Chữ tố có nghĩa là thiên-tính, tức tính trời phú-bẩm, nhưng ở đây xin thay bằng chữ tố nghĩa là làm, cho hợp t́nh, hợp cảnh:

(Muốn làm cho nước mạnh dân giầu, phải hành-động sao cho nước mạnh dân giầu; muốn làm cho dân, cho nước nghèo-hèn chỉ cần hành-động sao cho dân nước nghèo-hèn như ai nấy đă mục-kích thực-tại và thực-tế Việt-Nam từ 1975 đến giờ). 

 

           

B́nh Ngô Đại Cáo

 

Nguyên Văn

 

皇上 曰。

義之 , ,

弔伐

,

為文

封域 ,

俗亦

之肇 ,

宋元

強弱

世未

功以 ,

,

徵。

使

狂明 , 民;

, 賣我

焰,

欺天 , 萬狀;

殆二

,乾 ;

科厚 , 遺。

而斧 ,

則觸

鹿

遂其 ,

不獲

靈之 牙;

公私

征徭 ,

柚皆

不足 ,

山之

,

地之

藍山,

世讎 ,

賊難

首者 ,

臥薪

憤忘 , 之書,

, 推究

之志

旗初 ,

方張

才秋 ,

奔走

助。

, 每鬱 ;

待賢 , 虛左

茫若 ,

甚於

未滅,

,

瑰縣

天欲 ,

故與

竿 , 徒四

, 子之

彊, ;

以寡 奇。

兇殘,

暴。

士氣 ,

以之

聞風 ; 魄,

偷生

, 西 京既 有;

取,

寧橋 , 萬里;

,遺

之腹 , ;

李亮 , 厥屍

者益 ,

怒者

力盡, ;

謀伐 , 屈。

慮,

辜。

禍於 ,

功以

靈宣 , 無厭;

將,

九月 溫而 ,

晟又

摧其 ,

調 截路

十八 攻,

為我 , 馬鞍

保定 軀,

慶計

迎刃 ,

相攻

以包 ,

旬而

之士,

,

刀而

黥刳 ,

散麇

堤,

稿

都督

擒。

之途,

灘之

色,

其雲 於梨 ,自 而先 ;

眾聞 於芹 , 而僅

血杵 , 咽;

, 野草

救兵

以出

, 彼既

, 上帝

方政, , 給艦 , 海而 ;

總兵 , ,又 , 已還 驚。

, 而修 ;

軍為 , 息。

深遠,

未見

奠安,

,

日月

以開 ,

于以

 !

 !

一戎 , 之功;

, 布維

邇,

使


Xuất-xứ: Hoàng Việt Văn-tuyển 皇越文選 do Tồn-am Bùi Huy Bích 存庵裴輝tuyển chọn.

 

Chuyển âm Hán Việt

Đại thiên hành hóa hoàng thượng nhược viết:

Cái văn:

 

Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,

Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo.

Duy ngă Đại Việt chi quốc,

Thực vi văn hiến chi bang.

Sơn xuyên chi phong vực kư thù,

Nam bắc chi phong tục diệc dị.

Tự Triệu Đinh Lư Trần chi triệu tạo ngă quốc,

Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.

Tuy cường nhược th́ hữu bất đồng,

Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.

Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại,

Nhi Triệu Tiết hiếu đại dĩ xúc vong.

Toa Đô kư cầm ư Hàm Tử quan,

Ô Mă hựu ế ư Bạch Đằng hải.

Kê chư văng cổ,

Quyết hữu minh trưng.

Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà,

Trí sử nhân tâm chi oán bạn.

Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngă dân;

Nguỵ đảng hoài gian, cánh dĩ măi ngă quốc.

Hân thương sinh ư ngược diệm,

Hăm xích tử ư họa khanh.

Khi thiên vơng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng;

Liên binh kết hấn, nẫm ác đăi nhị thập niên.

Bại nghĩa thương nhân, Kiền Khôn ky hồ dục tức;

Trọng khoa hậu liễm, sơn trạch mỹ hữu kiết di.

Khai kim trường, tắc mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa,

Thái minh châu, tắc xúc giao long nhi hoàn yêu thộn hải.

Nhiễu dân thiết huyền lộc chi hăm tịnh,

Điễn vật chức thúy cầm chi vơng la.

Côn trùng thảo mộc giai bất đắc dĩ toại kỳ sinh,

Quan quả điên liên câu bất hoạch dĩ an kỳ sở.

Tuấn sinh dân chi huyết dĩ nhuận kiệt hiệt chi vẫn nha;

Cực thổ mộc chi công dĩ sùng công tư chi giải vũ.

Châu lư chi chinh dao trọng khốn,

Lư diêm chi trữ trục giai không.

Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô,

Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác.

Thần dân chi sở cộng phẫn,

Thiên địa chi sở bất dung.

Dư:

Phấn tích Lam Sơn,

Thê thân hoang dă.

Niệm thế thù khởi khả cộng đái,

Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh.

Thống tâm tật thủ giả thùy thập dư niên,

Thường đảm ngọa tân giả cái phi nhất nhật.

Phát phẫn vong thực, mỗi nghiên đàm thao lược chi thư,

Tức cổ nghiệm kim, tế suy cứu hưng vong chi lư.

Đồ hồi chi chí

Ngộ mị bất vong.

Đương nghĩa kỳ sơ khởi chi th́,

Chính tặc thế phương trương chi nhật.

Nại dĩ:

 

Nhân tài thu diệp,

Tuấn kiệt thần tinh.

Bôn tẩu tiền hậu giả kư phạp kỳ nhân,

Mưu mô duy ác giả hựu quả kỳ trợ.

Đặc dĩ cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông;

Cố ư đăi hiền chi xa, thường cấp cấp dĩ hư tả.

Nhiên kỳ:

 

Đắc nhân chi hiệu mang nhược vọng dương,

Do kỉ chi thành thậm ư chửng nịch.

Phẫn hung đồ chi vị diệt,

Niệm quốc bộ chi tao truân.

Linh Sơn chi thực tận kiêm tuần,

Khôi Huyện chi chúng vô nhất lữ.

Cái thiên dục khốn ngă dĩ giáng quyết nhiệm,

Cố dữ ích lệ chí dĩ tế vu nan.

Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập;

Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm.

Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị;

Dĩ quả địch chúng, thường thiết phục dĩ xuất kỳ.

Tốt năng:

Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn,

Dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo.

Bồ Đằng chi đ́nh khu điện xế,

Trà Lân chi trúc phá khôi phi.

Sĩ khí dĩ chi ích tăng,

Quân thanh dĩ chi đại chấn.

Trần Trí, Sơn Thọ văn phong nhi sỉ phách,

Lư An, Phương Chính giả tức dĩ thâu sinh.

Thừa thắng trường khu, Tây Kinh kư vị ngă hữu;

Tuyển binh tiến thủ, Đông Đô tận phục cựu cương.

Ninh Kiều chi huyết thành xuyên, lưu tinh vạn lư;

Tốt Động chi thi tích dă, di xú thiên niên.

Trần Hiệp tặc chi phúc tâm, kư kiêu kỳ thủ;

Lư Lượng tặc chi gian đố, hựu bạo quyết thi.

Vương Thông lư loạn nhi phần giả ích phần,

Mă Anh cứu đấu nhi nộ giả ích nộ.

Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đăi vong;

Ngă mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất.

Vị bỉ tất dị tâm nhi cải lự,

Khởi ư phục tác nghiệt dĩ tốc cô.

Chấp nhất kỷ chi kiến, dĩ giá họa ư tha nhân,

Tham nhất th́ chi công, dĩ di tiếu ư thiên hạ.

Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm;

Nhưng mệnh Thạnh Thăng chi nọa tướng, dĩ du cứu phần.

Đinh vị cửu nguyệt Liễu Thăng toại dẫn binh do Khâu Ôn nhi tiến,

Bản niên thập nguyệt Mộc Thạnh hựu phân đồ tự Vân Nam nhi lai.

Dư tiền kư tuyển binh tái hiểm dĩ tồi kỳ phong,

Dư hậu tái điều binh tiệt lộ dĩ đoạn kỳ thực.

Bản nguyệt thập bát nhật Liễu Thăng vị ngă quân sở công, kế trụy ư Chi Lăng chi dă;

Bản nguyệt nhị thập nhật Liễu Thăng hựu vị ngă quân sở bại, thân tử ư Mă Yên chi sơn.

Nhị thập ngũ nhật Bảo Định bá Lương Minh trận hăm nhi táng khu,

Nhị thập bát nhật Thượng thư Lư Khánh kế cùng nhi vẫn thủ.

Ngă toại nghênh nhận nhi giải,

Bỉ tự đảo qua tương công.

Kế nhi tứ diện thiêm binh dĩ bao vi,

Kỳ dĩ thập nguyệt trung tuần nhi điễn diệt.

Viên tuyển tỳ hưu chi sĩ,

Thân mệnh trảo nha chi thần.

Ẩm tượng nhi hà thủy càn,

Ma đao nhi sơn thạch khuyết.

Nhất cổ nhi ḱnh khô ngạc đoạn,

Tái cổ nhi điểu tán quân kinh.

Quyết hội nghĩ ư băng đê,

Chấn cương phong ư cảo diệp.

Đô đốc Thôi Tụ tất hành nhi tống khoản,

Thượng thư Hoàng Phúc diện phược dĩ tựu cầm.

Cương thi tái Lạng Giang, Lạng Sơn chi đồ,

Chiến huyết xích Xương Giang, B́nh Than chi thủy.

Phong vân vị chi biến sắc,

Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang.

Kỳ Vân Nam binh vị ngă quân sở ách ư Lê Hoa, tự đỗng nghi hư hạt nhi tiên dĩ phá phủ;

Kỳ Mộc Thạnh chúng văn Liễu Thăng đại bại ư Cần Trạm, toại lận tạ bôn hội nhi cận đắc thoát thân.

Lănh Câu chi huyết chử phiêu, giang thủy vị chi ô yết;

Đan Xá chi thi sơn tích, dă thảo vị chi ân hồng.

Lưỡng lộ cứu binh, kư bất toàn chủng nhi câu bại,

Các thành cùng khấu, diệc tương giải giáp dĩ xuất hàng.

Tặc thủ thành cầm, bỉ kư trạo ngạ hổ khất liên chi vĩ;

Thần vơ bất sát, dư diệc thể thượng đế hiếu sinh chi tâm.

Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mă Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, kư độ hải nhi do thả hồn phi phách tán;

Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mă Anh, hựu cấp mă sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh.

Bỉ kư uư tử tham sinh, nhi tu hảo hữu thành;

Dư dĩ toàn quân vi thượng, nhi dục dân chi đắc tức.

Phi duy mưu kế chi cực kỳ thâm viễn,

Cái diệc cổ kim chi sở vị kiến văn.

Xă tắc dĩ chi điện an,

Sơn xuyên dĩ chi cải quán.

Càn khôn kư bĩ nhi phục thái,

Nhật nguyệt kư hối nhi phục minh.

Vu dĩ khai vạn thế thái b́nh chi cơ,

Vu dĩ tuyết thiên cổ vô cùng chi sỉ.

Thị do thiên địa tổ tông chi linh, hữu dĩ mặc tương âm hựu, nhi trí nhiên dă.

Ô hô!

Nhất nhung đại định, ngật thành vô cạnh chi công;

Tứ hải vĩnh thanh, đản bố duy tân chi cáo.

Bá cáo hà nhĩ,

Hàm sử văn tri.

Nguyễn Trăi

 

Bản dịch của Cụ Bùi Kỷ

(Quốc Văn Cụ-Thể, Tân Việt-Nam thư-xă, Hà-nội)

 

Tượng mảng:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt chỉ v́ khử bạo.

Như nước Việt ta từ trước,

Vốn xưng văn hiến đă lâu,

Sơn hà cương vực đă chia,

Phong tục bắc nam cũng khác.

Từ Triệu, Đinh, Lư, Trần, gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương.

Dẫu cường nhược có lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có.

Vậy nên:

Lưu Cung sợ uy mất vía,

Triệu Tiết nghe tiếng giật ḿnh.

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mă.

Xét xem cổ tích,

Đă có minh trưng.

Vừa rồi:

V́ họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước nhân dân oán hận.

Quân cuồng Minh đă thừa cơ tứ ngược,

Bọn gian tà c̣n bán nước cầu vinh.

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Chước dối đủ muôn ngh́n khóe,

Ác chứa ngót hai mươi năm.

Bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn,

Nặng khoá liễm vét không sơn trạch.

Nào lên rừng đào mỏ,

Nào xuống bể ṃ châu,

Nào hố bẫy hươu đen,

Nào lưới ḍ chim sả.

Tàn hại cả côn trùng thảo mộc,

Nheo nhóc thay quan quả điên liên.

Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán.

Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.

Nặng nề về những nỗi phu phen,

Bắt bớ mất cả nghề canh cửi.

Độc ác thay! Trúc rừng không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay! Nước bể không rửa sạch mùi.

Lẽ nào trời đất tha cho,

Ai bảo thần nhân nhịn được.

Ta đây:

Núi Lam Sơn dấy nghĩa,

Chốn hoang dă nương ḿnh.

Ngắm non sông căm nỗi thế thù,

Thề sống chết cùng quân nghịch tặc.

Đau ḷng nhức óc, chốc là mười mấy nắng mưa,

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn v́ giận, sách lược thao suy xét đă tính;

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.

Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi.

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,

Chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt v́:

 

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu.

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.

Đôi phen vùng vẫy, vẫn đăm đăm con mắt dục đông,

Mấy thủa đợi chờ, luống đằng đẵng cỗ xe hư tả.

Thế mà trông người, người càng vắng ngắt, vẫn mịt mờ như kẻ vọng dương.

Thế mà tự ta, ta phải lo toan, thêm vội vă như khi chửng nịch.

Phần th́ giận hung đồ ngang dọc,

Phần th́ lo quốc bộ khó khăn.

Khi Linh sơn lương hết mấy tuần,

Khi Khôi huyện quân không một lữ.

Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng, bắt trải qua bách chiếc thiên ma,

Cho nên ta cố gắng gan bền, chấp hết cả nhất sinh thập tử.

Múa đầu gậy, ngọn cờ phất phới, ngóng vân nghê bốn cơi đan hồ.

Mở tiệc quân, chén rượu ngọt ngào, khắp tướng sĩ một ḷng phụ tử.

Thế giặc mạnh, ta yếu mà ta địch nổi,

Quân giặc nhiều, ta ít mà ta được luôn.

 

 

Dọn hay:

 

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân mà thay cường bạo.

Trận Bồ Đằng sấm vang sét dậy,

Miền Trà Lân trúc phá tro baỵ.

Sĩ khí đă hăng,

Quân thanh càng mạnh.

Trần Trí, Sơn Thọ mất vía chạy tan,

Phương Chính, Lư An t́m đường trốn tránh.

Đánh Tây Kinh phá tan thế giặc,

Lấy Đông Đô thu lại cơi xưa.

Dưới Ninh Kiều máu chảy thành sông,

Bến Tuỵ Động xác đầy ngoài nội.

Trần Hiệp đă thiệt mạng,

Lư Lượng phải phơi thây.

Vương Thông hết cấp lo lường,

Mă Anh khôn đường cứu đỡ.

Nó đă trí cùng lực kiệt, bó tay không biết tính sao,

Ta đây mưu phạt tâm công, chẳng đánh mà người chịu khuất.

Tưởng nó phải thay ḷng đổi dạ, hiểu lẽ tới lui,

Ngờ đâu c̣n kiếm kế t́m phương, gây mầm tội nghiệp.

Cậy ḿnh là phải, chỉ quen đổ vạ cho người,

Tham công một thời, chẳng bỏ bày tṛ dơ duốc.

Đến nỗi đứa trẻ ranh như Tuyên Đức, nhàm vơ không thôi;

Lại sai đồ nhút nhát như Thạnh, Thăng, đem dầu chữa cháy.

Năm Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng từ Khâu Ôn tiến sang

Lại năm nay tháng mười, Mộc Thạnh tự Vân Nam kéo đến.

Ta đă điều binh giữ hiểm để ngăn lối Bắc quân,

Ta lại sai tướng chẹn ngang để tuyệt đường lương đạo.

Mười tám, Liễu Thăng thua ở Chi Lăng,

Hai mươi, Liễu Thăng chết ở Mă Yên.

Hai mươi lăm, Lương Minh trận vong,

Hai mươi tám, Lư Khánh tự vẫn.

Lưỡi dao ta đang sắc,

Ngọn giáo giặc phải lùi.

Lại thêm quân bốn mặt vây thành,

Hẹn đến rằm tháng mười diệt tặc.

Sĩ tốt ra oai t́ hổ,

Thần thứ đủ mặt trảo nha.

Gươm mài đá, đá núi cũng ṃn,

Voi uống nước, nước sông phải cạn.

Đánh một trận sạch không ḱnh ngạc,

Đánh hai trận tan nát chim muông.

Cơn gió to trút sạch lá khô,

Tổ kiến hổng sụt toang đê cũ.

Thôi Tụ phải quỳ mà xin lỗi,

Hoàng Phúc tự trói để ra hàng.

Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,

Xương Giang, B́nh Than máu trôi đỏ nước.

Gớm ghê thay! Sắc phong vân cũng đổi,

Thảm đạm thay! Sáng nhật nguyệt phải mờ.

Binh Vân Nam nghẽn ở Lê Hoa, sợ mà mất mật;

Quân Mộc Thạnh tan chưng Cầu Trạm, chạy để thoát thân.

Suối máu Lănh Câu, nước sông rền rĩ,

Thành xương Đan Xá, cỏ nội đầm đ́a.

Hai mặt cứu binh, cắm đầu trốn chạy;

Các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đầu.

Bắt tướng giặc mang về, nó đă vẫy đuôi phục tội;

Thể ḷng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh.

Mă Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi

  trống ngực.

Vương Thông, Mă Anh, phát cho vài ngh́n cỗ ngựa, về đến Tàu c̣n đổ mồ hôi.

Nó đă sợ chết cầu ḥa, ngỏ ḷng thú phục,

Ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi.

Thế mới là mưu kế thật khôn,

Vả lại suốt xưa nay chưa có.

Giang sơn từ đây mở mặt,

Xă tắc từ nay vững nền.

Nhật nguyệt hối mà lại minh,

Càn khôn bĩ mà lại thái.

Nền vạn thế xây nên chăn chắn,

Thẹn ngh́n thu rửa sạch lầu lầu.

Thế là nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng che chở, giúp đỡ cho nước ta vậy.

Than ôi!

Vẫy vùng một mảng nhung y, nên công đại định,

Phẳng lặng bốn bề thái vũ, mở hội vĩnh thanh.

Bá cáo xa gần,

Ngỏ cùng nghe biết.

 

Xuất-xứ: 1)Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, tr. 273-245, Bộ Giáo dục, Trung tâm Học liệu xuất bản, in lần thứ mười, Sài G̣n, 1968.

            2) Trần Trọng Kim, Việt-Nam Sử-lược, Bộ Giáo dục, tr. 242-245, Trung tâm Học liệu xuất bản, in lần thứ nhất, Sài G̣n, 1971.

 

Bản dịch của Cụ Ngô Tất Tố

 

Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng:

 

Từng nghe:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đă lâu.

Núi sông bờ cơi đă chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Triệu, Đinh, Lư, Trần bao đời xây nền độc lập;

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,

Song hào kiệt thời nào cũng có.

Cho nên:

Lưu Cung tham công nên thất bại;

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;

Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô;

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mă.

Việc xưa xem xét, chứng cứ c̣n ghi.

Vừa rồi:

 

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước ḷng dân oán hận.

Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,

Bọn gian tà c̣n bán nước cầu vinh.

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,

Gây thù kết oán trải mấy mươi năm.

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.

Người bị ép xuống biển ḍng lưng ṃ ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đăi cát t́m vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.

Vét sản vật, bắt ḍ chim sả, chốn chốn lưới chăng.

Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.

Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,

Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?

Nặng nề những nổi phu phen,

Tan tác cả nghề canh cửi. .

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !

Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?

 

Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa,

Chốn hoang dă nương ḿnh.

Ngẫm thù lớn há đội trời chung,

Căm giặc nước thề không cùng sống.

Đau ḷng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời;

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn v́ giận, sách lược thao suy xét đă tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.

Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi.

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,

Chính lúc quân thù đang mạnh.

 

Lại ngặt v́:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu.

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.

Tấm ḷng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm c̣n dành phía tả.

 

Thế mà:

 

Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nh́n chốn bể khơi.

Tự ta, ta phải dốc ḷng, vội vă hơn cứu người chết đuối.

Phần v́ giận quân thù ngang dọc,

Phần v́ lo vận nước khó khăn,

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,

Lúc Khôi Huyện quân không một đội.

Trời thử ḷng trao cho mệnh lớn

Ta gắng trí khắc phục gian nan.

Nhân dân bốn cơi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới;

Tướng sĩ một ḷng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.

Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Sĩ khí đă hăng,

Quân thanh càng mạnh.

Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,

Lư An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.

Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm;

Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đă phải bêu đầu,

Mọt gian kẻ thù: Lư Lượng cũng đành bỏ mạng.

Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy;

Mă Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.

Bó tay để đợi bại vong, giặc đă trí cùng lực kiệt,

Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.

Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại c̣n chuốc tội gây oan.

Giữ ư kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,

Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:

 

Thằng nhăi con Tuyên Đức động binh không ngừng;

Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy.

Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại;

Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.

Ta trước đă điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong,

Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực.

Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế,

Ngày hai mươi, trận Mă Yên, Liễu Thăng cụt đầu.

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong;

Ngày hăm tám, thượng thư Lư-Khánh cùng kế tự vẫn.

Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá,

Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau.

Lại thêm quân bốn mặt vây thành,

Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc,

Sĩ tốt kén người hùng hổ,

Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh.

Gươm mài đá, đá núi cũng ṃn,

Voi uống nước, nước sông phải cạn.

Đánh một trận, sạch không ḱnh ngạc,

Đánh hai trận tan tác chim muông.

Cơn gió to trút sạch lá khô,

Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.

Đô-đốc Thôi-Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,

Thượng-thư Hoàng-Phúc trói tay để tự xin hàng.

Lạng-Giang, Lạng-Sơn, thây chất đầy đường,

Xương Giang, B́nh Than, máu trôi đỏ nước.

Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,

Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.

Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!

Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát

   thân.

Suối Lănh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc;

Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đ́a máu đen.

Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng.

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng;

Thần Vũ chẳng giết hại, thể ḷng trời ta mở đường hiếu sinh.

Mă Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn

   hồn bay phách lạc,

Vương Thông, Mă Anh, phát cho vài ngh́n cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim

   đập chân run.

Họ đă tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực ḷng;

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.

Chẳng những mưu kế kỳ diệu,

Cũng là chưa thấy xưa nay.

Xă tắc từ đây vững bền,

Giang sơn từ đây đổi mới.

Kiền Khôn Bĩ rồi lại Thái,

Nhật Nguyệt hối rồi lại minh.

Ngàn năm vết nhục nhă sạch làu,

Muôn thuở nền thái b́nh vững chắc.

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đă lặng thầm phù trợ;

Than ôi!

Một cỗ nhung y chiến-thắng,

Nên công oanh-liệt ngàn năm

Bốn phương biển cả thanh-b́nh,

Ban chiếu duy-tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo,

Ai nấy đều hay.

 

 

Bản dịch của Cụ Trúc-khê Ngô Văn Triện

 

Thay trời làm việc, Hoàng-thượng dạy rằng:

Việc nhân-nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu-phạt trước v́ khử bạo.

          Nước Đại-Việt ta,

          Nền văn-hiến cũ.

Non nước cơi bờ đă khác,

Bắc Nam phong-tục vẫn riêng.

Cơ-đồ gây dựng trải Triệu, Đinh, Lư, Trần.

Đế bá tranh-hùng cùng Hán, Đường, Nguyên, Tống.

Tuy mạnh yếu từng khi có khác,

Nhưng hào-kiệt chẳng thuở nào không.

Cho nên:

Lưu Cung tham công mà phải thua,

Triệu-Tiết muốn lớn càng mau mất.

Toa-Đô đă bị bắt ở cửa Hàm-tử,

Ô-Mă phải chết ở sông Bạch-đằng.

          Xét lại việc xưa,

          Hăy c̣n chứng rơ.

Gần đây nhân:

          Họ Hồ ngang-ngược,

          Ḷng người căm-hờn.

Quân Minh thừa dịp hại dân,

Đảng ngụy manh ḷng đem bán nước.

Hơ lũ đầu đen trên lửa bỏng,

Đẩy phường con đỏ xuống hang sâu.

Dối trời hại dân, gian-xảo đủ muôn ngh́n lối,

Gây binh nhóm loạn, tàn-hại trải hơn mười năm.

Nhân-nghĩa vất đi hoài, vũ-trụ tưởng chừng muốn sập.

Thuế-má vét cho đầy, núi khe sạch nhẵn như chùi.

Kẻ bị ép xuống khơi ṃ ngọc, cá nuốt sóng vùi.

Bẫy dân cạm đặt khắp nơi nơi,

Vét vật lưới chăng từng chốn chốn.

Dẫu loài sâu bọ cỏ cây, khôn bề rảnh sống;

Đến kẻ goá bụa cùng khổ, khó nỗi an-thân.

Mầu mỡ dân-chúng, nay xây mai dựng.

Chốn châu lư nặng-nề sưu-dịch;

Trong xóm làng quạnh vắng cửi canh.

Múc cạn nước Đông-hải dễ mà rửa sạch tanh nhơ;

Đẵn hết trúc Nam-sơn, chẳng đủ để biên ghi tội ác.

Thần người đều căm giận,

Trời đất chẳng dong tha.

Ta phát-tích từ núi Lam-sơn,

Náu h́nh trong nơi hoang-dă.

Trước thù lớn làm ngơ không thể,

Cùng giặc già chung sống được sao!

Đau ḷng năo ruột đă ngoài muơi niên,

Nếm mật nằm gai, phải đâu một buổi!

Quên ăn, bỏ ngủ, dùi mài các sách lược-thao;

Xét xưa nghiệm nay, suy cứu mọi lẽ hưng-phế.

          Đồ hồi chí định,

          Thức ngủ không quên.

Giữa lúc quân nghĩa nổi lên,

Chính lúc thế giặc đang mạnh.

Buồn nỗi nhân-tài c̣n ít-ỏi,

Tuấn-kiệt c̣n vắng thưa.

Chạy chọt sau trước không đủ người,

Trù-hoạch mưu-mô càng thiếu kẻ.

Chỉ v́ ḷng cứu dân không nguôi nửa khắc,

Cho nên xe đăi hiền dành sẵn một bên.

Nhưng đợi người, người vẫn xa xăm,

Mà việc ḿnh, ḿnh càng nóng sốt.

Giận tặc-đồ chưa trừ-khử được,

Buồn quốc-bộ vẫn Truân Kiển hoài.

Linh-sơn lương cạn đến hàng tuần;
Khôi-huyện quân không c̣n một toán.
Bởi trời muốn thử ta để trao nhiệm-vụ,

Nên ta càng gắng chí để chống gian-nan.

Tụ-tập các đám lưu-dân, tay vác cần câu ra đánh giặc;

Gắn bó một ḷng phụ-tử, rượu hoà nước lă để khao quân.

Lấy yếu chống mạnh, hoặc đánh lúc bất ngờ,

Lấy ít địch nhiều, hoặc dùng quân mai phục.

Rút lại th́ lấy đại-nghĩa mà thắng được hung-tàn;

Lấy chí nhân mà đè được cường-bạo.

Dải Bồ-tát sấm ran chớp giật,

Miền Trà-lân trúc trẻ ngói bay.

Sĩ-khí nhân thế càng tăng thêm,

Quân-thanh nhân thế càng lừng-lẫy.

Một bọn Trần-Trí, Sơn-Thọ, nghe hơi mà bở vía;

Mấy gă Lư-An, Phương-Chinh, nhịn thở cầu thoát thân.

Thừa thắng ruổi dài, Tây-kinh đă thu-phục.

Thuận đường thẳng tiến, Đông-đô lại lấy về.

Máu Ninh-kiều lênh-láng thành sông, tanh hôi muôn dặm,

Thây Tốt-động ngổn ngang đày nội, như để nghín năm.

Trần-Hiệp là tâm-phúc của giặc đă phải bêu đầu;

Lư-Lương là sâu mọt dân ta lại liền bỏ mạng.

Vương-Thông nhẩy vào chữa cháy mà càng cháy,

Mă-Anh xông đến gỡ nguy mà càng nguy.

Bó tay đợi chết, họ đă quẫn-cùng;

Không đánh tự tan, ta dùng mưu-thuật.

Vẫn tưởng chúng phải thay ḷng đổi ư,

Không ngờ họ c̣n giở chuyện bầy tṛ.

V́ ư-kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác;

Tham công-danh một buổi, để cười cho tất cả nhân-gian.

Do đó thằng nhăi Tuyên-đức nối giáo không ngừng,

Khéo sai thằng khốn Liễu-Thăng, đem dầu chữa cháy.

Đinh-mùi tháng chin, Liễu-Thăng dẫn binh từ Ôn-khâu tiến đến;

Năm ấy tháng mười, Mộc-Thạnh chia đường từ Vân-nam kéo sang.

Ta đă đặt phục-binh đánh cho dập đầu;

Sau lại dùng kỵ-binh chẹn cho đứt cuối.

Ngày mười tám Liễu-Thăng bị đánh, sa cơ ở Chi-lăng,

Ngày hai mươi Liễu-Thăng bị thua, bỏ mạng ở g̣ Yên Ngựa.

Ngày hai mươi lăm, bá-tước Lương-Minh lâm-nguy phải tử-trận,

Ngày hai mươi tám, thượng-thư Lư-Khánh cùng-kế phải quyên-sinh.

Ta đưa mũi nhọn rạch phăng,

Họ quay đầu giáo đánh lộn.

Kế đó bốn mặt thêm quân để vây bọc;

Định đến trung-tuần tháng mười sẽ diệt-trừ.

Bèn tuyển những đội quân gấu hùm,

Và sai những bầy tôi nanh vuốt.

Voi uốn khiến nước sông vơi cạn,

Gươm mài nên đá núi thủng ṃn.

Một trận mà ngạc mổ ḱnh phanh,

Hai trận mà chim tan thú giăn.

Tổ kiến lớn phá tan đê núng,

Trận gió to rung trút lá khô.

Đô-đốc Thôi-Tụ qùy gối xin thương,

Thượng-thư Hoàng-Phúc cúi đầu chịụ trói.

Lương-sơn, Lạng-giang, thây chết nằm bề bộn;

Xương-giang, B́nh-than, máu đỏ nhộm lênh-lang.

Gió mây đến nỗi bàng-hoàng,

Nhật nguyệt ra chiều ảm-đạm.

Quân Vân-nam bị ta chẹn ở Lê-hoa, hồ-đồ sợ bóng mà trước tự vỡ mật:

Quân Mộc-Thạnh bị ta phá ở Cần-trạm, dầy đạp lẫn nhau mà chạy lấy thoát thân.

Lănh-câu máu chẩy đầy sông, nước vang tiếng rú;

Đan-xá thầy trồng khắp nội, cỏ đẫm mầu hoen.

Cứu-binh hai đạo đă vỡ tan tành;

Cùng-khấu các thành đều cổi giáp hàng-phục.

Tướng giặc bị cùm, van vỉ họ đă xin cho toàn mạng,

Thần-vơ chẳng giết, khoan-hồng ta cũng mở lượng hiếu-sinh.

Bọn tham-chính Phương-Chính, nội-quan Mă-Kỳ, trước được cấp năm trăm chiếc

   thuyền, đă vượt bể mà vẫn hồn kinh phách tán;

Lũ tổng-binh Vương-Thông, tham-chính Mă-Anh lại được cấp mấy ngh́n cỗ ngựa, đă về nước mà c̣n mặt xám mày xanh.

Họ đă tham sống sợ chết mà hoà-hiếu thực ḷng;

Ta lấy toàn quân là hơn để nhân-dân nghỉ sức.

Chẳng những mưu-kế đă sâu xa nhiều lắm,

Cũng là xưa nay chưa nghe thấy bao giờ.

          Xă-tắc từ đây sẽ vững yên,

          Non sông từ đây sẽ đổi mới.

          Kiên Khôn đă Bĩ mà lại Thái

          Nhật-Nguyệt đă mờ rồi lại trong.

          Đặng mở nền b́nh-trị muôn năm,

          Đặng rửa vết thẹn-thùng ngh́n thuở.

          Âu cũng do Trời Đất Tổ-tông linh-thiêng đă lặng thầm giúp v́ mới đưọc thế.

Ôi !

Ba quân rong ruổi, hoàn-thành công đại-định mừng nay,

Bốn bể thăng-b́nh, bá-cáo lời duy-tân từ đó.

          Bảo khắp thiên-hạ,

Ai nấy đều hay. 

Xuất-xứ: Văn Đàn Bảo Giám, Trần Trung Viên sao lục, Dương Bá Trạc đề tựa, Tản-Đà đề tựa năm 1934, Trần Tuấn Khải duyệt lại, Nam-Kư Hán-Việt văn-biểu, Hư Chu hiệu-chính năm 1968, Tâp II, tr. 184-194.
 

THƯ TỊCH KHẢO 

3AK  Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa 一切經音義, Đường · Đại-Từ-Ân Tự Sa-môn Thích Nguyên Ứng 釋元應soạn, Vũ-tiến Trang Hân 武進莊, Gia-định Tiền Điếm 錢坫, Dương-hồ Tôn Tinh Diễn 孫星衍đồng hiệu-chính, Tân-văn-phong tái-bản, Đài-bắc, tháng 3-1980.        

3AL A Dictionary of Chinese Buddhist Terms, compiled by William Edward Soothill and Lewis Hodous, Motilal Banarsidass, Delhi, Vanarasi, Patna, Madras, 1987.

3AM Ngũ Hành Đại Nghĩa 五行大義, Tùy · Tiêu Cát 蕭吉 soạn, Nghiêm Dịch嚴繹 thẩm-đính, Vũ-lăng tam-bản, Đài-bắc, tháng 8-1992.

3AN Giản Bạch Ngũ Hành Giải Hỗ  簡帛五行解, Lưu Tín Phương劉信芳soạn, Nghệ-văn sơ-bản, Đài-bắc, tháng 12-2000.

3AO Indian Atronomy, A Source Book, compiled by B. V. Subbarayappa and K. V. Sarma, Nehru Center, Bombay, 1985.

3AP Quả Lăo Tinh Tông 果老星宗, Trương Quả Lăo張果老 trước, Thượng-hải ấn-thư-quán, Hongkong, tháng 5-1980.

3AQ Tinh B́nh Hội Hải Toàn-thư 星平會海全書, của Hà Dương Thủy Trung Long 霞陽水中龍, Thượng-hải ấn-thư-quán, Hongkong, tháng 8-1982.

3AR Tam Mệnh Thông-hội三命通會 , Minh · Dục Ngô Sơn-nhân Vạn Dân Anh 萬民英 biên-soạn, Toàn nhị sách, Thượng-hải ấn-thư-quán, Hongkong, tháng 6-1984.

3AS Mệnh-lư Thám-nguyên 命理探原, Viên Thụ San 袁樹珊trước, Vũ-lăng tam-bản, Đài-bắc, tháng 12-2000.

3AT Thiết-bản Thần-số Nhập-môn鐵本神數入門, Sa-môn Lương Sương-Nhu  梁湘潤 trước, Sơ-bản, Văn-nguyên Thư-cục, Đài-bắc, tháng 1-1976.

3AU Thiết-bản Thần-số 鐵本神數, Chu Tấn-Lượng 周進諒 biên-trước, Vũ-lăng nhất-bản, Đài-bắc, tháng 6-1998.

3AV Hà-Lạc Lư-số 河洛理數, Tống · Hoa-sơn Hi-di Tiên-sinh Trần-Đoàn 陳摶trước, Tống · Khang-tiết Nghiêu-phu Tiên-sinh Thiệu-Ung 邵雍thuật, Tinh-Tinh xuất-bản-xă, Hongkong.

3AW Đại-Việt Sử-kư Toàn-thư 大越史記全書, bản khắc in năm Chính-hoà thứ 18 (1697), Tập I và II, do Ngô Đức Thọ dịch và chú-thích, GS Hà Văn Tấn hiệu-đính, Nhà xuất-bản Khoa-học Xă-hội, Hà-nội, 1983.

3AX The Inner Structure of the I Ching: The Book of Transformations, by Lama Anagarika Govinda (1898-1985), Preface by Zentatsu Baker-roshi, Introduction by John Blofeld, Calligraphy by Al Chung-Liang-Huang, Wheelwright Press, Tokyo, Weatherhill, New York, 1981.

3AY  Quản Xuân Thịnh, Số Tử-Vi Kinh-Nghiệm, 2 Quyển, Vĩnh-hưng-gia, Hà-nội, 1950.

 

3AZ Tử-vi Đẩu-số Khảo-chứng 紫微斗數考證,  Sa-môn Lương Sương-Nhuận 梁湘潤 trước, Sơ bản, Văn-nguyên Thư-cục, Đài-bắc, tháng 9-1975.

 

 

    Xem tiếp Kỳ 18

 

  

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com